Khái quát
Ăn uống có quan hệ mật thiết với sự bài tiết dịch mật, khả năng co bóp của túi mật và chuyển hóa cholesterol. Tuy nhiên, bệnh sỏi mật không hình thành chỉ vì một loại thức ăn riêng lẻ, mà thường là kết quả của nhiều yếu tố phối hợp như ăn uống thất thường, béo phì, giảm cân quá nhanh, rối loạn chuyển hóa, viêm đường mật, chức năng túi mật suy giảm và cơ địa.
Theo Trung y, bệnh thường liên quan đến Can Đởm khí trệ, Tỳ hư sinh thấp, thấp nhiệt uẩn kết, đàm trọc và huyết ứ. Vì vậy, điều dưỡng ăn uống không chỉ nhằm hạn chế chất béo, mà còn cần giữ cho Tỳ Vị vận hóa điều hòa, Can Đởm sơ tiết thuận lợi và đại tiện thông suốt.
Vai trò của bữa sáng
Nhịn đói kéo dài làm túi mật ít co bóp, dịch mật lưu lại lâu hơn và dễ cô đặc. Nếu thường xuyên bỏ bữa sáng, thời gian túi mật ở trạng thái chứa đầy dịch mật sẽ kéo dài từ tối hôm trước đến gần trưa hôm sau.
Theo Trung y, ăn uống thất thường làm Tỳ Vị mất nhịp vận hóa, khí cơ Trung tiêu không điều hòa, Can Đởm sơ tiết cũng bị ảnh hưởng.
Người có sỏi mật hoặc nguy cơ hình thành sỏi nên duy trì bữa sáng tương đối đều đặn. Bữa sáng không cần quá nhiều, nhưng nên có đủ tinh bột, protein và một lượng nhỏ chất béo phù hợp để kích thích hệ tiêu hóa hoạt động tự nhiên.
Có thể lựa chọn:
Cháo hoặc cơm mềm.
Bánh mì nguyên hạt.
Sữa chua hoặc sữa ít béo nếu dung nạp được.
Trứng luộc hoặc trứng hấp với lượng thích hợp.
Đậu phụ, cá hoặc thịt nạc.
Rau và trái cây nguyên quả.
Chỉ uống cà phê thay bữa sáng không được xem là một bữa ăn đầy đủ. Cà phê còn có thể gây khó chịu ở người trào ngược, viêm dạ dày hoặc tim đập nhanh.
Đường và sỏi mật
Ăn quá nhiều đường tinh luyện làm tổng năng lượng của khẩu phần tăng lên, góp phần gây thừa cân, đề kháng insulin và rối loạn chuyển hóa lipid.
Khi gan tổng hợp và bài tiết nhiều cholesterol hơn, dịch mật dễ trở nên quá bão hòa, tạo điều kiện hình thành sỏi cholesterol.
Theo Trung y, thức ăn quá ngọt dễ làm Tỳ bị trở ngại, sinh thấp và đàm. Thấp trọc tích lại lâu ngày làm khí cơ Can Đởm càng khó điều đạt.
Nên hạn chế:
Nước ngọt.
Trà sữa.
Bánh kẹo.
Bánh ngọt.
Sữa đặc có đường.
Nước ép thêm đường.
Thực phẩm chế biến chứa nhiều đường.
Không cần tuyệt đối loại bỏ mọi thức ăn có vị ngọt. Trái cây nguyên quả, sữa không thêm đường và ngũ cốc vẫn có thể dùng với lượng phù hợp.
Rượu vang không phải phương pháp phòng sỏi
Một số tài liệu cũ cho rằng uống rượu vang với lượng vừa phải có thể ảnh hưởng đến cholesterol trong dịch mật.
Tuy nhiên, rượu không nên được dùng như một phương pháp phòng sỏi mật. Rượu có thể làm tổn thương gan, tăng triglycerid, ảnh hưởng thuốc đang dùng và làm nặng nhiều bệnh lý khác.
Theo Trung y, rượu dễ sinh thấp nhiệt, đặc biệt không phù hợp với người miệng đắng, vàng da, đau hạ sườn, viêm gan hoặc viêm đường mật.
Nuôi dưỡng hoàn toàn qua đường tĩnh mạch
Người phải nhịn ăn kéo dài và được nuôi dưỡng hoàn toàn qua đường tĩnh mạch có nguy cơ ứ mật, bùn mật và sỏi túi mật.
Nguyên nhân chủ yếu là đường tiêu hóa không được kích thích bởi thức ăn, khiến túi mật ít co bóp và dịch mật lưu lại lâu.
Việc phòng ngừa trong trường hợp này thuộc chuyên môn bệnh viện, có thể bao gồm:
Cho ăn qua đường tiêu hóa sớm khi điều kiện cho phép.
Điều chỉnh công thức dinh dưỡng.
Theo dõi chức năng gan mật.
Siêu âm khi cần thiết.
Không tự sử dụng thuốc hoặc hormon kích thích túi mật co bóp.
Nước giàu khoáng chất
Uống nước cứng, nước giếng hoặc nước khoáng không làm sỏi mật hình thành giống như cặn trong ấm nước.
Sỏi mật chủ yếu liên quan đến cholesterol, bilirubin và các thành phần hữu cơ trong dịch mật. Cặn nước lại chủ yếu là muối calci và magnesi kết tủa khi đun nóng.
Không có căn cứ chắc chắn cho rằng nước có nhiều calci trực tiếp gây sỏi mật.
Nên dùng nguồn nước sạch, an toàn và được kiểm soát vệ sinh. Không cần lựa chọn nước từ hóa hoặc nước khoáng đặc biệt với mục đích làm tan sỏi.
Cholesterol trong thức ăn
Hạn chế thực phẩm quá nhiều cholesterol có thể góp phần kiểm soát nguy cơ sỏi cholesterol, nhưng không thể phòng bệnh hoàn toàn.
Phần lớn cholesterol trong cơ thể được gan tự tổng hợp. Ngay cả khi khẩu phần có ít cholesterol, ăn quá nhiều năng lượng, đường và mỡ động vật vẫn có thể làm cơ thể tăng tổng hợp cholesterol.
Nên hạn chế dùng thường xuyên:
Óc động vật.
Nội tạng.
Trứng cá.
Thịt quá nhiều mỡ.
Da gia cầm.
Thức ăn chiên rán.
Không cần tuyệt đối cấm trứng ở mọi người. Cần căn cứ tổng khẩu phần, mỡ máu, thể trọng và khả năng dung nạp.
Người có sỏi mật có được ăn trứng không?
Trứng là nguồn protein, vitamin và khoáng chất có giá trị.
Người mắc sỏi mật có thể dùng trứng với lượng phù hợp nếu không xuất hiện đau hoặc khó chịu rõ sau khi ăn.
Nên ưu tiên:
Trứng luộc.
Trứng hấp.
Canh trứng.
Nên hạn chế trứng chiên nhiều dầu hoặc món dùng đồng thời nhiều trứng, bơ và kem.
Người có rối loạn lipid máu, đái tháo đường hoặc bệnh tim mạch nên điều chỉnh lượng trứng căn cứ toàn bộ khẩu phần và hướng dẫn chuyên môn.
Chất béo trong bệnh sỏi mật
Vì sao chất béo có thể gây đau?
Khi chất béo đi vào tá tràng, cơ thể tiết cholecystokinin, làm túi mật co bóp để đưa dịch mật xuống ruột.
Nếu cổ túi mật hoặc ống túi mật đang bị sỏi cản trở, sự co bóp mạnh có thể làm xuất hiện đau quặn mật.
Vì vậy, không phải chất béo trực tiếp gây viêm ngay trong mọi trường hợp, mà chính sự co bóp của túi mật trên nền tắc nghẽn mới làm triệu chứng phát tác.
Không cần kiêng hoàn toàn
Chất béo cần thiết cho năng lượng, màng tế bào và hấp thu các vitamin A, D, E, K.
Kiêng chất béo tuyệt đối trong thời gian dài có thể làm khẩu phần thiếu cân đối và khó đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng.
Nên dùng lượng nhỏ và phân bố đều giữa các bữa, căn cứ khả năng dung nạp.
Nguồn chất béo nên ưu tiên
Dầu thực vật với lượng vừa phải.
Cá.
Quả bơ.
Các loại hạt với khẩu phần nhỏ nếu không gây khó chịu.
Nguồn chất béo nên hạn chế
Mỡ động vật.
Thịt ba chỉ nhiều mỡ.
Da gà, da vịt.
Món chiên ngập dầu.
Kem, bơ và bánh ngọt nhiều chất béo.
Chân giò và thịt đầu.
Không nên dùng bữa ăn nhiều chất béo để kích thích “bài sỏi”.
Chế độ ăn trong viêm túi mật cấp
Viêm túi mật cấp là tình trạng cần được khám và điều trị tại cơ sở y tế.
Khi đau nhiều, nôn hoặc có nguy cơ phẫu thuật, người bệnh có thể phải tạm nhịn ăn theo chỉ định. Nước, điện giải và dinh dưỡng sẽ được điều chỉnh căn cứ tình trạng thực tế.
Không tự nhịn ăn kéo dài tại nhà.
Không tự uống nhiều nước, dầu, thuốc lợi mật hoặc các loại trà với mục đích làm sạch túi mật.
Khi triệu chứng giảm và được phép ăn trở lại, có thể bắt đầu bằng:
Cháo.
Cơm mềm.
Canh rau.
Khoai nghiền.
Cá hoặc thịt nạc mềm.
Đậu phụ.
Sữa ít béo nếu dung nạp được.
Nên ăn lượng nhỏ rồi tăng dần, không dùng bữa lớn ngay sau thời gian nhịn ăn.
Chế độ ăn trong viêm túi mật mạn và sỏi mật ổn định
Nguyên tắc căn bản
Ăn đúng giờ.
Không bỏ bữa sáng.
Không ăn quá no.
Chia lượng thức ăn phù hợp giữa các bữa.
Hạn chế bữa quá nhiều dầu mỡ.
Bảo đảm đủ protein.
Dùng đủ rau và chất xơ.
Kiểm soát đường và tổng năng lượng.
Kiêng rượu bia.
Không cần ăn mỗi hai hoặc ba giờ nếu điều đó không phù hợp. Điều quan trọng là duy trì nhịp ăn tương đối đều, không để bụng đói quá lâu và cũng không ăn liên tục suốt ngày.
Thức ăn có thể lựa chọn
Cơm, cháo, mì và khoai.
Rau nấu chín.
Trái cây nguyên quả.
Cá, thịt nạc và thịt gia cầm bỏ da.
Đậu phụ và các sản phẩm từ đậu.
Sữa ít béo hoặc sữa chua.
Trứng luộc hoặc hấp.
Ngũ cốc nguyên hạt nếu tiêu hóa tốt.
Thực phẩm nên hạn chế
Món chiên rán.
Nội tạng động vật.
Thịt nhiều mỡ.
Thức ăn quá cay.
Đồ uống nhiều đường.
Rượu bia.
Bữa ăn quá lớn.
Những thực phẩm đã nhiều lần làm xuất hiện cơn đau.
Uống nước
Uống đủ nước có lợi cho sức khỏe nói chung, nhưng nước không trực tiếp làm tan sỏi hoặc “làm loãng” được dịch mật trong túi mật theo cách đơn giản.
Lượng nước cần căn cứ:
Khí hậu.
Mức độ vận động.
Cân nặng.
Cảm giác khát.
Chức năng tim và thận.
Tình trạng xơ gan hoặc phù.
Không bắt buộc mọi người đều phải uống từ 1.500 đến 2.000 ml nếu bác sĩ đã yêu cầu hạn chế dịch.
Thực liệu theo Trung y
Vai trò của thực liệu
Thực liệu có thể hỗ trợ điều hòa Tỳ Vị, cải thiện ăn uống và cung cấp dinh dưỡng. Không nên xem món ăn hoặc trà dược là phương pháp chắc chắn làm tan hay bài sạch sỏi.
Các loại trà dược có tính thanh lợi còn có thể gây tiêu chảy, mất nước hoặc tương tác với thuốc nếu dùng nhiều.
Nước râu ngô và Nhân trần
Thành phần
Râu ngô, Nhân trần với lượng vừa phải.
Cách dùng
Sắc loãng, dùng trong thời gian ngắn thay một phần nước uống.
Ý nghĩa
Râu ngô có tính lợi niệu tương đối nhẹ; Nhân trần thường được dùng trong chứng Can Đởm thấp nhiệt và vàng da.
Chú ý
Không dùng để thay thế điều trị khi có sốt, vàng da tăng hoặc đau dữ dội.
Người huyết áp thấp, suy thận, đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc có rối loạn điện giải cần thận trọng.
Không thêm nhiều đường.
Trà Kim tiền thảo, Nhân trần
Thành phần
Kim tiền thảo, Nhân trần với lượng thích hợp.
Ý nghĩa
Thanh lợi thấp nhiệt, thường được dùng hỗ trợ trong chứng sỏi và thấp nhiệt.
Chú ý
Không bảo đảm làm tan sỏi.
Không uống kéo dài hằng ngày mà không được đánh giá chức năng gan thận.
Người Tỳ hư, tiêu chảy và cơ thể suy yếu không nên dùng nhiều.
Cháo Ý dĩ
Thành phần
Ý dĩ, gạo.
Cách chế biến
Nấu Ý dĩ mềm trước, sau đó cho gạo vào nấu thành cháo.
Ý nghĩa
Kiện Tỳ, thẩm thấp, thích hợp hơn với người bụng đầy, cơ thể nặng nề và ăn uống kém thuộc thể Tỳ hư thấp trệ.
Chú ý
Không dùng làm thức ăn chính duy nhất trong thời gian dài.
Người đang mang thai nên hỏi ý kiến chuyên môn trước khi dùng Ý dĩ thường xuyên với lượng lớn.
Cháo Đại mạch
Thành phần
Đại mạch và nước.
Ý nghĩa
Thức ăn nhẹ, dễ tiêu ở một số người, thích hợp trong thời kỳ hồi phục khi ăn uống chưa tốt.
Người không dung nạp gluten không nên dùng đại mạch.
Cháo Lai phục tử
Lai phục tử có tác dụng tiêu thực và giáng khí theo Trung y.
Phương thích hợp hơn với người đầy bụng, ăn không tiêu và khí trệ. Không nên dùng thường xuyên ở người khí hư rõ, ăn ít và suy nhược.
Phật thủ dùng làm trà
Phật thủ có thể được dùng với lượng nhỏ để lý khí, hòa Vị, hỗ trợ cảm giác đầy tức do Can khí uất.
Không xem đây là phương làm tan sỏi.
Trà Sơn tra
Sơn tra hỗ trợ tiêu thực, đặc biệt sau thức ăn nhiều thịt.
Không dùng liều lớn kéo dài ở người viêm loét dạ dày, trào ngược hoặc đang dùng thuốc chống đông.
Không thêm quá nhiều đường.
Những phương không nên sử dụng
Mật gà hoặc mật lợn tươi
Không uống dịch mật động vật tươi hoặc trộn với mật ong.
Phương này có nguy cơ nhiễm khuẩn, độc tính và không kiểm soát được thành phần.
Cá chạch sống
Không nuốt thịt cá chạch sống hoặc cho vào viên nang.
Cá sống có thể mang vi khuẩn và ký sinh trùng, không có căn cứ đáng tin cậy để điều trị sỏi mật hoặc viêm gan.
Tiêu thạch, Hỏa tiêu và Bạch phàn
Không tự uống các loại khoáng chất như Tiêu thạch, Hỏa tiêu, Bạch phàn hoặc Nguyên minh phấn để phá sỏi.
Những chất này có thể gây độc, rối loạn điện giải, tổn thương tiêu hóa và nhiều biến chứng khác.
Không thể khẳng định các phương chứa những chất này “hoàn toàn an toàn”.
Kim tiền thảo liều rất lớn
Không dùng hàng trăm gam Kim tiền thảo mỗi ngày.
Liều quá lớn có thể gây rối loạn tiêu hóa, mất nước và ảnh hưởng chức năng thận.
Mật ong với dịch mật động vật
Không có căn cứ về khả năng hòa tan sỏi và có nguy cơ nhiễm khuẩn.
Óc chó chiên dầu mè và đường phèn liều lớn
Phương chứa lượng đường và chất béo rất cao, không phù hợp với người béo phì, đái tháo đường, rối loạn lipid máu hoặc đau sau thức ăn béo.
Bột trà dùng nhiều lần mỗi ngày
Trà không làm sạch dịch mật hoặc loại bỏ tạp chất trong máu.
Dùng quá nhiều bột trà có thể gây mất ngủ, hồi hộp, kích ứng dạ dày và ảnh hưởng hấp thu sắt.
Hẹ dùng với lượng rất lớn
Không uống nước ép từ nhiều kilôgam hẹ. Phương có thể gây kích ứng dạ dày, tiêu chảy và không có bằng chứng điều trị sỏi.
Nội tạng động vật làm thực liệu
Gan và dạ dày lợn không phải món thích hợp để dùng thường xuyên trong phòng và điều trị sỏi mật vì có thể chứa nhiều cholesterol và chất béo.
Các vị thuốc cần thận trọng
Đại hoàng và Nguyên minh phấn
Có tác dụng công hạ mạnh.
Không dùng để gây tiêu chảy nhằm bài sỏi.
Có thể gây mất nước và rối loạn điện giải.
Long đởm thảo, Hoàng liên và Chi tử
Đắng lạnh, chỉ phù hợp khi thấp nhiệt rõ và dùng trong thời gian thích hợp.
Dùng kéo dài có thể làm tổn thương Tỳ Vị.
Xích thược và Uất kim
Có tác dụng hoạt huyết.
Người đang dùng thuốc chống đông, có rối loạn đông máu hoặc chuẩn bị phẫu thuật cần thận trọng.
Bồ công anh và Bại tương thảo
Có thể dùng trong một số phương thanh nhiệt, nhưng không thay thế kháng sinh và dẫn lưu khi có nhiễm khuẩn đường mật.
Biện chứng thực liệu
Can Đởm khí trệ
Biểu hiện
Đau tức hạ sườn, đầy bụng, hay thở dài, triệu chứng tăng khi căng thẳng.
Điều dưỡng
Ăn đúng giờ, nhai chậm và không ăn khi đang quá bực bội hoặc lo lắng.
Có thể dùng một lượng nhỏ Phật thủ, Trần bì hoặc gừng làm gia vị nếu phù hợp.
Tỳ hư thấp trệ
Biểu hiện
Ăn ít, bụng đầy, phân lỏng, cơ thể nặng nề, lưỡi nhạt có dấu răng.
Điều dưỡng
Ưu tiên thức ăn chín mềm và ấm vừa.
Có thể dùng cháo Sơn dược, hạt sen, Ý dĩ với lượng phù hợp, bí đỏ, cá và đậu phụ.
Hạn chế thức quá lạnh, quá ngọt và nhiều dầu.
Can Đởm thấp nhiệt
Biểu hiện
Miệng đắng, đau hạ sườn, tiểu vàng, ngán dầu mỡ, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt.
Điều dưỡng
Ăn thanh đạm, hạn chế rượu, thức chiên, cay nóng và nhiều đường.
Có thể dùng rau xanh, bí đao, đậu đỏ và các món ít dầu.
Nếu có sốt hoặc vàng da tăng phải đi khám, không chỉ dựa vào thực liệu.
Can âm bất túc
Biểu hiện
Đau âm ỉ, miệng khô, mất ngủ, mắt khô, lưỡi đỏ ít rêu.
Điều dưỡng
Bảo đảm đủ nước và protein căn cứ tình trạng thực tế.
Có thể dùng canh rau, đậu phụ, sữa, trứng hấp, lê chín và củ sen với lượng thích hợp.
Không cần dùng gan lợn để “bổ Can”.
Phòng bệnh sỏi mật
Ăn sáng đều đặn.
Không nhịn đói kéo dài.
Không ăn quá no.
Hạn chế đường tinh luyện.
Hạn chế mỡ động vật và món chiên.
Duy trì cân nặng phù hợp.
Giảm cân từ từ.
Duy trì vận động đều đặn.
Ăn đủ protein và chất xơ.
Điều trị bệnh gan, bệnh tan máu, đái tháo đường và bệnh đường ruột.
Không dùng rượu để phòng sỏi.
Không tự dùng thuốc lợi mật hoặc thuốc bài thạch kéo dài.
Dấu hiệu cần khám sớm
Đau hoặc đầy tức hạ sườn phải tái diễn.
Buồn nôn sau bữa ăn.
Ăn kém kéo dài.
Nước tiểu sẫm.
Vàng mắt nhẹ.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Đau hạ sườn phải dữ dội kéo dài.
Sốt cao hoặc rét run.
Vàng da tăng nhanh.
Nôn liên tục.
Đau lan ra lưng kèm nôn nhiều.
Bụng cứng hoặc đau lan rộng.
Huyết áp giảm, chóng mặt hoặc ngất.
Lú lẫn hoặc ngủ gà.
Tiểu ít.
Kết luận
Theo Trung y, ăn uống thất thường, Tỳ hư sinh thấp, Can Đởm khí trệ và thấp nhiệt uẩn kết là những yếu tố quan trọng trong bệnh sỏi mật và viêm túi mật.
Bữa ăn nên tương đối đều, không bỏ bữa sáng, không nhịn đói kéo dài và không ăn quá no. Chất béo cần được hạn chế theo khả năng dung nạp nhưng không nên loại bỏ hoàn toàn. Đường tinh luyện, rượu, món chiên và thực phẩm quá nhiều mỡ nên được kiểm soát.
Thực liệu như cháo Ý dĩ, trà Phật thủ hoặc nước Râu ngô – Nhân trần có thể hỗ trợ trong một số thể bệnh, nhưng không có khả năng chắc chắn làm tan hoặc bài sạch sỏi.
Nói tóm lại, điều dưỡng ăn uống có giá trị trong kiểm soát triệu chứng và hạn chế nguy cơ tái phát, nhưng không thay thế việc đánh giá vị trí sỏi, chức năng túi mật và mức độ tắc nghẽn. Khi có đau dữ dội, sốt hoặc vàng da, cần điều trị chuyên khoa kịp thời.
Trường Xuân biên soạn