KHÁI QUÁT
Hung tý là chứng trạng có đặc điểm đầy tức, bức bối, bó chặt hoặc đau ở vùng ngực. Đau có thể lan ra lưng, vai, hàm hoặc cánh tay, thường rõ hơn ở bên trái. Trường hợp nặng có thể đau dữ dội, sắc mặt nhợt hoặc tím, tay chân lạnh, ra mồ hôi và khó thở.
Trong Trung y, chữ “tý” chỉ sự bế tắc. Bệnh hình thành khi khí, huyết và dương khí ở vùng ngực vận hành không thông, thường do Khí trệ, Huyết ứ, Đàm trọc hoặc Hàn ngưng.
Hung tý có thể gặp trong nhiều bệnh hiện đại như bệnh mạch vành, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim, bệnh phổi mạn tính và một số bệnh vùng thượng vị. Vì vậy, đau ngực cần được chẩn đoán nguyên nhân trước khi điều trị theo Trung y.
NGUYÊN NHÂN
Ngoại hàn
Hàn tà xâm nhập vùng ngực, làm dương khí bị bế tắc, huyết mạch co rút và phát sinh đau. Người vốn Tâm dương, Phế dương hoặc Thận dương hư càng dễ mắc.
Ăn uống không điều độ
Ăn nhiều thức ăn béo, ngọt, chiên rán, sản phẩm từ sữa hoặc đồ sống lạnh làm tổn thương Tỳ Vị, sinh Đàm Thấp. Đàm trọc ngăn trở vùng ngực, lâu ngày dẫn đến Khí trệ và Huyết ứ.
Tình chí thất thường
Lo nghĩ và ưu tư làm tổn thương Tỳ Phế, khiến Khí suy hoặc Khí trệ. Uất ức và giận dữ làm Can khí không sơ tiết; Khí trệ lâu ngày hóa Hỏa, luyện dịch thành Đàm và làm Huyết ứ.
Tuổi cao và bệnh lâu ngày
Tuổi cao làm Thận Âm hoặc Thận Dương suy giảm. Thận Dương hư không ôn ấm Tâm Dương; Thận Âm hư không nuôi dưỡng Tâm Âm. Tâm mất sự nuôi dưỡng và thúc đẩy, khí huyết ở ngực dễ ứ trệ.
BỆNH CƠ
Tâm là trung tâm của bệnh, nhưng Phế, Tỳ, Vị, Can và Thận đều có liên quan.
Phế chủ Tông khí. Tông khí giúp Tâm thúc đẩy Huyết vận hành. Khi Phế khí hoặc Tông khí suy, Huyết dễ ứ ở ngực.
Tỳ hư không vận hóa thủy dịch, sinh Đàm. Đàm gây bức bối, nặng và bó chặt ở ngực.
Can khí uất gây đau căng tức. Khí trệ lâu ngày dẫn đến Huyết ứ.
Thận Dương hư sinh Nội Hàn; Thận Âm hư làm Tâm Âm mất nuôi dưỡng.
Vị khí không giáng hoặc thức ăn đình trệ ở Trung tiêu cũng có thể làm khí ở ngực không thông.
Bệnh thường có đặc điểm bản hư tiêu thực. Gốc bệnh là Tâm, Tỳ hoặc Thận hư; ngọn bệnh là Khí trệ, Huyết ứ, Đàm hoặc Hàn.
Đàm và Huyết ứ thường cùng tồn tại, nhất là trong bệnh kéo dài và ở người cao tuổi.
PHÂN BIỆT THEO TÍNH CHẤT ĐAU
Đau căng tức: Khí trệ.
Cảm giác nặng, bó chặt, bức bối: Đàm trọc.
Đau nóng rát: Nhiệt hoặc Đàm nhiệt.
Đau dữ dội, gặp lạnh tăng, gặp ấm giảm: Hàn ngưng.
Đau châm chích, cố định, như dao cắt: Huyết ứ.
Cần phân biệt Hàn ngưng và Dương hư. Hàn ngưng thường nặng lên khi tiếp xúc lạnh nhưng người bệnh không nhất thiết cảm thấy sợ lạnh. Dương hư thường có sợ lạnh, thích ấm, sắc mặt nhợt và chân tay lạnh rõ.
CÁC THỂ THỰC
Biểu hiện
Ngực căng tức, đau lan, thường thay đổi theo cảm xúc, hay thở dài, có thể kèm đầy vùng hông sườn.
Lưỡi: Có thể bình thường hoặc hơi tối.
Mạch: Huyền.
Phép trị
Sơ Can lý Khí, khoan Hung, thông lạc.
Huyệt thường dùng
Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Đản trung, Can-3 Thái xung, Can-14 Kỳ môn, Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Biểu hiện
Đau châm chích, cố định, đau rõ hơn cảm giác bức bối, có thể lan ra vai và cánh tay; môi lưỡi tím.
Lưỡi: Tím hoặc có điểm ứ.
Mạch: Sáp hoặc Huyền.
Phép trị
Hoạt Huyết hóa ứ, thông mạch chỉ thống.
Phương thang thường dùng
Huyết phủ trục ứ thang, tên Việt là Thang Trục ứ Huyết phủ.
Huyệt thường dùng
Tâm bào-6 Nội quan, Tâm bào-4 Khích môn, Nhâm-17 Đản trung, Bàng quang-14 Quyết âm du, Tỳ-10 Huyết hải, Bàng quang-17 Cách du.
Biểu hiện
Cảm giác bức bối, bó chặt hoặc nặng ở ngực rõ hơn đau; khó thở, chóng mặt, thân thể nặng, khạc đàm trắng.
Lưỡi: Bệu, rêu trắng dính.
Mạch: Hoạt.
Phép trị
Thông Dương, hóa Đàm, khai Hung.
Phương thang thường dùng
Qua lâu giới bạch bán hạ thang, tên Việt là Thang Qua lâu, Giới bạch, Bán hạ.
Gia vị Qua lâu giới bạch thang khi Đàm kèm Huyết ứ.
Hoàng liên ôn đởm thang hợp Tiểu hãm hung thang khi Đàm nhiệt.
Chỉ thực giới bạch quế chi thang khi Đàm kèm Hàn.
Huyệt thường dùng
Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Đản trung, Nhâm-14 Cự khuyết, Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Tỳ-6 Tam âm giao, Bàng quang-13 Phế du.
Biểu hiện
Đau co thắt dữ dội, gặp lạnh tăng, gặp ấm giảm, ngực bó chặt, khó thở, sắc mặt nhợt, tay chân lạnh. Trường hợp nặng có môi móng tím và mồ hôi lạnh.
Lưỡi: Nhợt hoặc xanh tím.
Mạch: Trầm Khẩn hoặc Trầm Nhược.
Phép trị
Thông Dương tán Hàn, giải trừ bế tắc.
Phương thang thường dùng
Qua lâu giới bạch bạch tửu thang.
Chỉ thực giới bạch quế chi thang khi Hàn kèm Khí trệ.
Đương quy tứ nghịch thang khi tay chân lạnh rõ.
Linh quế truật cam thang khi Hàn kèm Đàm ẩm.
Huyệt thường dùng
Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Đản trung, Nhâm-14 Cự khuyết, Bàng quang-14 Quyết âm du, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý.
Có thể phối hợp cứu khi đã loại trừ tình trạng tim mạch cấp tính.
Biểu hiện
Đau ngực, hồi hộp, dễ giận, mất ngủ, khát, mắt đỏ, cảm giác nóng.
Lưỡi: Đỏ, hai bên và đầu lưỡi đỏ, rêu vàng.
Mạch: Huyền Sác.
Phép trị
Thanh tả Can Hỏa, khai Hung, an Thần.
Huyệt thường dùng
Can-2 Hành gian, Tâm bào-6 Nội quan, Vị-40 Phong long, Đại trường-4 Hợp cốc, Phế-7 Liệt khuyết.
CÁC THỂ HƯ
Biểu hiện
Đau âm ỉ và bức bối ở ngực, hồi hộp, khó thở, mệt mỏi, ăn kém, ra mồ hôi, sợ lạnh, tay chân lạnh, môi móng tím.
Lưỡi: Nhợt hoặc xanh tím.
Mạch: Trầm Nhược.
Phép trị
Bổ Khí, ôn Dương, hoạt Huyết thông lạc.
Phương thang thường dùng
Sâm phụ thang hợp Hữu quy ẩm.
Huyệt thường dùng
Bàng quang-15 Tâm du, Nhâm-14 Cự khuyết, Bàng quang-20 Tỳ du, Nhâm-12 Trung quản, Nhâm-6 Khí hải, Vị-36 Túc tam lý, Bàng quang-23 Thận du, Đốc-4 Mệnh môn, Tâm bào-6 Nội quan.
Biểu hiện
Đau ngực lúc có lúc không, mức độ nhẹ, hồi hộp, khó thở, mệt mỏi, ít nói, sắc mặt nhợt, chóng mặt; triệu chứng tăng khi lao lực.
Lưỡi: Ít hoặc không rêu.
Mạch: Tế Nhược.
Phép trị
Bổ Khí dưỡng Âm, hoạt Huyết thông lạc.
Phương thang thường dùng
Sinh mạch tán hợp Nhân sâm dưỡng vinh thang.
Chích cam thảo thang khi mạch Kết Đại hoặc nhịp không đều.
Huyệt thường dùng
Phế-9 Thái uyên, Bàng quang-13 Phế du, Tâm-5 Thông lý, Bàng quang-15 Tâm du, Nhâm-17 Đản trung, Tâm bào-6 Nội quan, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao, Nhâm-4 Quan nguyên.
Biểu hiện
Ngực bức bối và đau nhẹ, hồi hộp, mất ngủ, mồ hôi trộm, lưng gối mỏi, ù tai, chóng mặt, nóng về chiều.
Lưỡi: Đỏ, ít hoặc không rêu, có thể có nứt vùng Tâm.
Mạch: Tế hoặc Phù Hư.
Phép trị
Dưỡng Âm, ích Thận, dưỡng Tâm, an Thần.
Phương thang thường dùng
Tả quy ẩm.
Thiên vương bổ tâm đan, tên Việt là Đan Thiên vương bổ Tâm.
Huyệt thường dùng
Bàng quang-14 Quyết âm du, Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Đản trung, Bàng quang-23 Thận du, Nhâm-4 Quan nguyên, Thận-3 Thái khê, Tâm-6 Âm khích.
NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Trong giai đoạn đau cấp hoặc bức bối rõ, trước tiên thường xử lý phần thực như Đàm, Hàn, Khí trệ và Huyết ứ.
Khi các biểu hiện bế tắc đã giảm, mới tập trung điều trị phần hư ở Tâm, Tỳ, Phế hoặc Thận.
Không nên vội dùng thuốc bổ Khí, bổ Huyết có tính nê trệ khi còn rêu lưỡi dày nhớt, Đàm nhiệt hoặc bức bối ngực rõ.
Huyết ứ thường hiện diện trong bệnh kéo dài, nhưng thuốc hoạt Huyết phải dùng thận trọng ở người đang chảy máu hoặc dùng thuốc chống đông.
KINH LẠC VÀ HUYỆT CHỦ YẾU
Kinh Tâm bào có vai trò đặc biệt quan trọng vì đi qua trung tâm lồng ngực và ảnh hưởng đến cả Tâm lẫn Phế.
Tâm bào-6 Nội quan: khai Hung, điều Khí, hoạt Huyết, giảm đau và hồi hộp.
Nhâm-17 Đản trung: điều Tông khí, hành Khí ở ngực.
Bàng quang-14 Quyết âm du: tác động đến Tâm bào và vùng ngực.
Vị-40 Phong long: hóa Đàm, giáng nghịch và khai thông vùng ngực.
Vị-36 Túc tam lý: kiện Tỳ, bổ Khí và hỗ trợ điều hòa mạch.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Hung tý cần phân biệt với:
Huyền ẩm: đau ngực sườn liên quan Đàm ẩm, thường đau tăng khi ho hoặc hít sâu.
Vị quản thống: đau vùng thượng vị, liên quan bữa ăn, ợ hơi và ợ chua.
Chân tâm thống: đau ngực dữ dội, kéo dài, kèm tím tái, mồ hôi lạnh và khó thở; có thể tương ứng với hội chứng mạch vành cấp.
Bệnh phổi: thường có ho, khạc đàm, sốt hoặc khó thở nổi bật.
Đau cơ xương thành ngực: đau tăng khi ấn, xoay người hoặc vận động vai.
PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU DƯỠNG
Vận động vừa sức, đều đặn; đi bộ là hình thức phù hợp với nhiều người bệnh ổn định.
Tránh lao lực quá mức, vận động đột ngột và tiếp xúc lạnh.
Hạn chế thức ăn nhiều mỡ, chiên rán, quá ngọt và các thực phẩm dễ sinh Đàm.
Không ăn quá no vì thực tích ở Vị có thể làm Khí cơ vùng ngực bất lợi.
Bỏ thuốc lá.
Giữ cảm xúc điều hòa, tránh căng thẳng và giận dữ kéo dài.
Không tự ngừng thuốc tim mạch khi triệu chứng giảm.
CHÚ Ý
Đau ngực lan ra hàm, lưng, vai hoặc cánh tay, kèm khó thở, buồn nôn, mồ hôi lạnh, choáng hoặc kéo dài nhiều phút có thể là hội chứng mạch vành cấp. Cần gọi cấp cứu, không chờ châm cứu hoặc thuốc sắc.
Không cứu hoặc châm trực tiếp để trì hoãn việc cấp cứu khi nghi nhồi máu cơ tim.
Trung y có thể hỗ trợ điều chỉnh Khí, Huyết, Đàm, Hàn và thể trạng trong giai đoạn ổn định, nhưng không thay thế điện tâm đồ, xét nghiệm tim, thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc chống đau thắt ngực, can thiệp mạch vành hoặc phẫu thuật khi có chỉ định.
Trường Xuân biên soạn