Tiết 1
Tiểu luận
Những bệnh biến phát sinh ở tiền âm của phụ nữ, bao gồm âm hộ, ngọc môn và âm đạo, được gọi là bệnh tiền âm.
Các bệnh tiền âm thường gặp có âm dương, âm sang, v.v.
Tiền âm là một phần của hệ thống sinh sản nữ, thông qua kinh lạc mà liên hệ với tạng phủ. Mạch Túc Quyết âm Can “vào trong vùng lông mu, đi qua âm khí, đến thiếu phúc”. Mạch Túc Thiếu dương “vào mép lông mu, hợp với Quyết âm”. Tố Vấn, thiên Quyết Luận nói: “Tiền âm là nơi tông cân hội tụ.” Cân của Túc Quyết âm và Túc Thiếu âm đều “kết ở âm khí”; cân của Túc Thái âm và Túc Dương minh đều “tụ ở âm khí”. Xung mạch “hợp với Dương minh ở tông cân”; Nhâm mạch xuất phát từ Hội âm, đi qua âm khí, “lên mép lông mu”; Đốc mạch ở nữ “vào hệ đình khổng”, lạc của Đốc mạch đi theo âm khí.
Những điều trên cho thấy tiền âm thông qua kinh lạc, kinh cân và ba mạch Xung, Nhâm, Đốc mà có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với Can, Tỳ, Thận và các tạng phủ khác. Vì vậy, cơ chế phát bệnh của bệnh tiền âm có hai phương diện: trực tiếp và gián tiếp.
Cơ chế gián tiếp là công năng tạng phủ thất thường, ảnh hưởng đến tiền âm mà sinh bệnh. Ví dụ Can Thận khuy tổn, gân mạch hoặc da cơ vùng âm bộ mất sự nuôi dưỡng, có thể gây âm dương. Tỳ Thận Dương hư, thấp trọc chảy xuống, lâu ngày hóa nhiệt, thấp nhiệt thấm ngấm, có thể gây âm dương, âm sang.
Cơ chế trực tiếp là vùng tiền âm tại chỗ bị nhiễm tà độc, bệnh trùng, hoặc bị ngoại thương, từ đó có thể gây âm dương và các bệnh khác.
Điều trị bệnh tiền âm, nói chung là dùng thuốc uống để điều lý tạng phủ, trị gốc; đồng thời phối hợp ngoại trị tại chỗ để trị ngọn. Bên cạnh đó, bệnh tiền âm đặc biệt coi trọng phòng hộ. Chú ý vệ sinh sạch sẽ vùng tiền âm, phòng tránh tà độc, bệnh trùng nhiễm vào, có ý nghĩa quan trọng trong việc tránh và giảm các bệnh tiền âm.
Tiết 2
Âm dương
Phụ nữ bị ngứa ở âm hộ và âm đạo, nặng thì ngứa đau khó chịu, đứng ngồi không yên, hoặc kèm đới hạ tăng nhiều, gọi là âm dương. Bệnh này cũng gọi là âm môn tao dương, âm không cách.
Bệnh này tương đương với ngứa âm hộ, viêm âm hộ, viêm âm đạo và rối loạn dinh dưỡng âm hộ trong y học hiện đại.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu có hai mặt hư và thực.
Do Can Thận Âm hư, tinh huyết khuy tổn, ngoại âm mất sự nuôi dưỡng mà gây ngứa, thuộc hư chứng.
Do thấp nhiệt Can kinh chảy xuống, đới hạ thấm ngấm vùng âm bộ, hoặc thấp nhiệt sinh trùng, trùng ăn mòn trong âm đạo mà gây ngứa, thuộc thực chứng.
Các thể thường gặp gồm Can Thận Âm hư, thấp nhiệt Can kinh và thấp trùng sinh sôi.
Người vốn Âm hư, hoặc sau bệnh nặng, bệnh lâu ngày, hoặc sinh nhiều, cho bú nhiều làm hao tổn tinh huyết, khiến Can Thận Âm hư. Can mạch đi qua âm khí, Thận quản nhị âm. Can Thận Âm hư, tinh huyết bất túc, âm hộ mất nuôi dưỡng, lại thêm huyết táo sinh phong, phong động thì ngứa.
Thể này lấy hư và táo làm chủ. Vì tinh huyết không đủ để nhu dưỡng vùng âm bộ, nên âm bộ khô rít, nóng rát, ngứa nhiều. Nếu lâu ngày, da vùng âm bộ có thể trắng, dày, teo, nứt nẻ hoặc loét. Ngứa thường nặng về đêm, kèm các biểu hiện Âm hư như ngũ tâm phiền nhiệt, đầu choáng, mắt hoa, thỉnh thoảng bốc nóng, ra mồ hôi, lưng mỏi, chân mềm.
Uất giận làm tổn thương Can, Can uất hóa nhiệt. Can khí phạm Tỳ, Tỳ hư thấp thịnh, khiến thấp và nhiệt kết lại với nhau, làm tổn thương Nhâm mạch và Đới mạch. Đới hạ lượng nhiều, thấm ngấm vùng âm bộ, từ đó phát sinh ngứa đau.
Thể này thuộc thực chứng, lấy thấp nhiệt hạ chú làm chủ. Thấp nhiệt thấm vào vùng âm bộ thì ngứa và nóng đau. Thấp nhiệt làm tổn thương Nhâm Đới thì đới hạ lượng nhiều, sắc vàng như mủ, chất dính đặc, mùi hôi. Can kinh có nhiệt nên thường kèm miệng đắng, họng khô, tâm phiền, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ.
Người vốn Tỳ hư thấp thịnh, lâu ngày hóa nhiệt, chảy xuống hạ tiêu, làm tổn thương Nhâm Đới. Thấp nhiệt uẩn tích sinh trùng; hoặc ngoại âm không sạch; hoặc sống lâu nơi âm thấp, khiến thấp trùng sinh sôi, trùng ăn mòn trong âm đạo, đều có thể dẫn đến âm dương.
Thể này thường ngứa như có trùng bò, nặng thì ngứa dữ dội khó chịu, kèm nóng rát, đau. Đới hạ lượng nhiều, có thể vàng và dạng bọt, hoặc trắng như bã đậu, mùi hôi. Đây là thấp nhiệt và bệnh trùng cùng tác động, cần vừa thanh nhiệt lợi thấp, vừa giải độc sát trùng.
Biện chứng luận trị
Cần căn cứ tình trạng ngứa ở âm bộ, lượng, màu, chất, mùi của đới hạ và chứng trạng toàn thân để biện chứng.
Âm bộ khô rít, nóng rát, hoặc da biến trắng, dày lên, teo, thậm chí nứt nẻ, ngứa nặng về đêm, phần nhiều thuộc Can Thận Âm hư.
Âm dương kèm đới hạ lượng nhiều, sắc vàng như mủ, đặc dính, hôi thối, phần nhiều thuộc thấp nhiệt Can kinh.
Âm bộ ngứa như có trùng bò, nặng thì ngứa dữ dội khó chịu, nóng rát đau, kèm đới hạ lượng nhiều, sắc vàng dạng bọt, hoặc trắng như bã đậu, hôi thối, phần nhiều thuộc thấp trùng sinh sôi.
Điều trị chú trọng điều lý công năng Can, Thận, Tỳ. Đồng thời phải chú ý nguyên tắc “trị ngoài phải gốc ở bên trong”, dùng thuốc uống và ngoại trị phối hợp, kết hợp chỉnh thể và cục bộ để điều trị.
Chứng trạng chủ yếu
Âm bộ khô rít, ngứa dữ dội khó chịu. Hoặc da vùng âm bộ biến trắng, dày lên hoặc teo lại, nứt nẻ, loét rách. Ngũ tâm phiền nhiệt, đầu choáng, mắt hoa, thỉnh thoảng có cơn bốc nóng, ra mồ hôi, lưng mỏi, chân mềm. Lưỡi đỏ, rêu ít. Mạch huyền tế mà sác.
Phân tích chứng trạng
Can Thận Âm hư, tinh huyết đều hao, huyết táo sinh phong, phong động thì ngứa. Âm hộ là vùng phân bố của Can Thận, nên âm hộ khô rít, ngứa dữ dội khó chịu. Phong thịnh thì sưng, nên da vùng âm bộ có thể dày lên. Da cơ vùng âm bộ mất nuôi dưỡng, nên da biến trắng, teo, nứt nẻ, loét rách. Âm hư nội nhiệt, nên ngũ tâm phiền nhiệt. Can Dương thiên cang, nên có cơn bốc nóng, ra mồ hôi. Thận hư, nên lưng mỏi, chân mềm. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch huyền tế mà sác là dấu hiệu của Can Thận Âm hư.
Pháp trị
Điều bổ Can Thận, tư Âm giáng hỏa.
Phương thang
Tri bá Địa hoàng hoàn gia Chế thủ ô, Bạch tiên bì.
Thục địa, Sơn thù nhục, Sơn dược, Trạch tả, Phục linh, Mẫu đơn bì, Tri mẫu, Hoàng bá, Chế thủ ô, Bạch tiên bì.
Trong phương, Thục địa, Sơn thù nhục, Sơn dược tư bổ Can Thận, ích tinh huyết. Trạch tả, Phục linh, Mẫu đơn bì tả thấp trọc, thanh hư nhiệt, giúp bổ mà không trệ. Tri mẫu, Hoàng bá tư Âm giáng hỏa, thanh hư nhiệt ở hạ tiêu. Chế thủ ô bổ Can Thận, dưỡng tinh huyết. Bạch tiên bì thanh nhiệt táo thấp, khứ phong chỉ dương. Toàn phương có công năng tư bổ Can Thận, dưỡng huyết nhu táo, thanh hư nhiệt, khứ phong chỉ dương.
Gia giảm
Nếu âm bộ khô rít, nứt nẻ rõ, có thể thêm Mạch môn, Huyền sâm, Nữ trinh tử để dưỡng Âm sinh tân.
Nếu ngứa nặng về đêm, huyết táo sinh phong rõ, có thể thêm Địa phu tử, Kinh giới tuệ, Phòng phong lượng nhẹ để khứ phong chỉ dương, nhưng không nên dùng quá nhiều vị táo tán.
Nếu bốc nóng, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt rõ, có thể thêm Địa cốt bì, Thanh hao để thanh hư nhiệt.
Nếu da vùng âm bộ dày, trắng, teo hoặc nứt nẻ lâu ngày, cần thăm khám phụ khoa hoặc da liễu để loại trừ các bệnh lý mạn tính vùng âm hộ.
Ngoại trị tham khảo
Có thể dùng các vị dưỡng Âm, nhuận táo, khứ phong chỉ dương sắc nước rửa ngoài, như Bạch tiên bì, Địa phu tử, Khổ sâm, Xà sàng tử lượng thích hợp. Khi âm bộ khô nứt, không nên dùng thuốc rửa quá mạnh, quá cay nóng hoặc quá táo, tránh làm da niêm mạc tổn thương thêm.
Chứng trạng chủ yếu
Âm bộ ngứa, nóng rát đau. Đới hạ lượng nhiều, sắc vàng như mủ, chất đặc dính, mùi hôi thối. Đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô, tâm phiền không yên, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch huyền hoạt mà sác.
Phân tích chứng trạng
Thấp nhiệt Can kinh chảy xuống, làm tổn thương Nhâm mạch và Đới mạch, nên đới hạ lượng nhiều, sắc vàng như mủ, chất đặc dính, mùi hôi thối. Thấp nhiệt thấm ngấm vùng âm bộ, nên âm bộ ngứa, nặng thì nóng rát đau. Thấp nhiệt xông bốc lên trên, nên đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô. Nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, nên tâm phiền không yên. Thấp nhiệt làm tổn thương tân dịch, nên đại tiện bí, tiểu tiện đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch huyền hoạt mà sác là dấu hiệu của thấp nhiệt Can kinh.
Pháp trị
Tả Can thanh nhiệt, trừ thấp chỉ dương.
Phương thang
Long đởm tả Can thang.
Long đởm thảo, Hoàng cầm, Chi tử, Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử, Đương quy, Sinh địa, Sài hồ, Cam thảo.
Trong phương, Long đởm thảo tả thực hỏa Can Đởm, thanh thấp nhiệt hạ tiêu. Hoàng cầm, Chi tử thanh nhiệt tả hỏa. Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử thấm thấp lợi niệu, dẫn thấp nhiệt đi xuống theo tiểu tiện. Sài hồ sơ Can, dẫn thuốc vào Can kinh. Đương quy, Sinh địa dưỡng huyết, lương huyết, phòng các vị khổ hàn làm tổn thương Âm huyết. Cam thảo điều hòa các vị. Toàn phương có công năng tả Can thanh nhiệt, lợi thấp chỉ dương.
Gia giảm
Nếu đới hạ hôi thối, vàng đặc rõ, có thể thêm Thổ phục linh, Bồ công anh, Bại tương thảo để thanh nhiệt giải độc, trừ thấp.
Nếu ngứa rát nhiều, có thể thêm Khổ sâm, Bạch tiên bì, Địa phu tử để thanh nhiệt táo thấp, khứ phong chỉ dương.
Nếu đại tiện bí, bụng đầy, rêu vàng nhờn dày, có thể thêm Đại hoàng lượng thích hợp để thông phủ tả nhiệt.
Nếu thấp nặng, thân thể nặng nề, rêu nhờn nhiều, có thể thêm Ý dĩ nhân, Thương truật để kiện Tỳ trừ thấp.
Ngoại trị tham khảo
Có thể dùng Khổ sâm, Bạch tiên bì, Địa phu tử, Hoàng bá, Xà sàng tử sắc nước rửa ngoài. Khi có viêm đỏ, trầy xước, loét hoặc đau rát nhiều, nước rửa nên để ấm vừa, không quá nóng, không ngâm rửa kéo dài quá mức.
Chứng trạng chủ yếu
Âm bộ ngứa như có trùng bò, nặng thì ngứa dữ dội khó chịu, nóng rát đau. Đới hạ lượng nhiều, sắc vàng dạng bọt, hoặc sắc trắng như bã đậu, mùi hôi thối. Tâm phiền, ngủ ít, ngực tức, nấc nghịch, miệng đắng, họng khô, tiểu tiện vàng đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Thấp nhiệt và bệnh trùng cùng sinh sôi, trùng quấy phá, nên âm bộ ngứa như có trùng bò, nặng thì ngứa dữ dội khó chịu, nóng rát đau. Thấp nhiệt chảy xuống, uế dịch chảy ra, nên đới hạ lượng nhiều, sắc vàng dạng bọt, hoặc sắc trắng như bã đậu, hôi thối. Thấp nhiệt và ngứa cùng quấy nhiễu Tâm thần, nên tâm phiền, ngủ ít. Thấp nhiệt uẩn bên trong, nên ngực tức, nấc nghịch. Thấp nhiệt xông bốc, nên miệng đắng, họng khô. Thấp nhiệt làm tổn thương tân dịch, nên tiểu tiện ngắn đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác là dấu hiệu của thấp nhiệt và bệnh trùng cùng sinh sôi.
Pháp trị
Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc sát trùng.
Phương thang
Tỳ giải thấm thấp thang gia Bạch đầu ông, Khổ sâm, Phòng phong.
Tỳ giải, Ý dĩ nhân, Hoàng bá, Xích linh, Đơn bì, Trạch tả, Thông thảo, Hoạt thạch, Bạch đầu ông, Khổ sâm, Phòng phong.
Trong phương, Tỳ giải, Ý dĩ nhân, Xích linh, Trạch tả, Thông thảo, Hoạt thạch thanh lợi thấp nhiệt, thấm thấp hạ tiêu. Hoàng bá thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu. Đơn bì thanh nhiệt lương huyết. Bạch đầu ông thanh nhiệt giải độc. Khổ sâm thanh nhiệt táo thấp, sát trùng chỉ dương. Phòng phong khứ phong chỉ dương. Toàn phương có công năng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc sát trùng, khứ phong chỉ dương.
Gia giảm
Nếu đới hạ vàng dạng bọt, mùi hôi rõ, có thể thêm Thổ phục linh, Bại tương thảo để giải độc lợi thấp.
Nếu đới hạ trắng như bã đậu, ngứa dữ dội, có thể thêm Xà sàng tử, Bạch tiên bì để táo thấp sát trùng chỉ dương.
Nếu âm bộ nóng rát, tiểu tiện đỏ, có thể thêm Chi tử, Xa tiền tử để thanh nhiệt lợi niệu.
Nếu Tỳ hư thấp thịnh, đới hạ kéo dài, người mệt, ăn kém, có thể phối Bạch truật, Phục linh để kiện Tỳ hóa thấp, nhưng trong lúc thấp nhiệt đang thịnh không nên dùng thuốc bổ nê trệ quá sớm.
Ngoại trị tham khảo
Có thể dùng Khổ sâm, Xà sàng tử, Bạch tiên bì, Địa phu tử, Hoàng bá, Bách bộ sắc nước rửa ngoài để thanh nhiệt táo thấp, sát trùng chỉ dương. Cần chú ý vệ sinh, thay giặt đồ lót, tránh gãi mạnh làm trầy xước. Nếu nghi nhiễm nấm, trùng roi hoặc bệnh lây truyền qua đường tình dục, nên thăm khám và điều trị cho cả bạn tình khi cần, tránh tái nhiễm.
Chú ý lâm sàng
Âm dương là chứng thường gặp nhưng nguyên nhân rất khác nhau. Có trường hợp do Âm hư huyết táo, da vùng âm bộ mất nuôi dưỡng. Có trường hợp do viêm nhiễm, thấp nhiệt, nấm, trùng roi hoặc các bệnh da liễu vùng âm hộ. Có trường hợp do kích ứng với dung dịch vệ sinh, băng vệ sinh, thuốc đặt, chất tẩy rửa hoặc quần áo chật, bí.
Khi có ngứa kéo dài, khí hư hôi, đau rát, loét, chảy máu, da đổi màu, dày lên hoặc teo lại, cần thăm khám để xác định nguyên nhân. Không nên tự ý rửa bằng các dung dịch quá mạnh, quá sát khuẩn hoặc thụt rửa sâu trong âm đạo, vì có thể làm tổn thương niêm mạc và mất cân bằng môi trường âm đạo.
Điều dưỡng
Cần giữ vùng tiền âm sạch và khô thoáng, thay đồ lót thường xuyên, chọn chất liệu mềm, thoáng khí. Tránh gãi mạnh, tránh mặc quần quá chật, tránh dùng xà phòng, dung dịch vệ sinh có tính kích ứng mạnh. Trong thời gian bệnh đang hoạt động, nên hạn chế phòng sự hoặc dùng biện pháp bảo vệ phù hợp, đồng thời tránh lây nhiễm qua lại.
Ăn uống nên tùy thể bệnh mà điều chỉnh. Thấp nhiệt nên giảm cay nóng, rượu, đồ chiên béo, ngọt nhiều. Âm hư nên tránh thức khuya, lao lực, ăn quá cay nóng, đồng thời dưỡng Âm, dưỡng huyết. Tỳ hư thấp thịnh nên ăn uống điều độ, dễ tiêu, giảm đồ sống lạnh, béo ngậy.
Nói tóm lại
Âm dương là chứng ngứa ở âm hộ và âm đạo, nặng thì ngứa đau khó chịu, đứng ngồi không yên, thường kèm đới hạ tăng nhiều. Bệnh cơ có hư có thực. Hư phần nhiều do Can Thận Âm hư, tinh huyết bất túc, âm hộ mất nuôi dưỡng, huyết táo sinh phong. Thực phần nhiều do thấp nhiệt Can kinh hạ chú, hoặc thấp trùng sinh sôi.
Can Thận Âm hư thì điều bổ Can Thận, tư Âm giáng hỏa. Thấp nhiệt Can kinh thì tả Can thanh nhiệt, trừ thấp chỉ dương. Thấp trùng sinh sôi thì thanh nhiệt lợi thấp, giải độc sát trùng.
Điều trị cần kết hợp thuốc uống và ngoại trị, vừa điều tạng phủ, vừa xử lý cục bộ. Đồng thời, vệ sinh vùng tiền âm, tránh kích ứng, phòng lây nhiễm và thăm khám khi có dấu hiệu bất thường là những điểm rất quan trọng.
Tiết 3
Âm sang
Phụ nữ vùng âm bộ sinh mụn nhọt, nặng thì lở loét, mủ nước chảy rỉ rả, tại chỗ sưng đau, gọi là âm sang, cũng gọi là âm thực.
Bệnh này tương đương với các bệnh trong y học hiện đại như loét âm hộ không đặc hiệu, áp xe tuyến tiền đình vỡ mủ, nhiễm trùng thứ phát trên khối u âm hộ, v.v.
Nguyên nhân bệnh cơ
Bệnh phần nhiều do thấp nhiệt chảy xuống, uẩn kết thành độc; hoặc do chính khí hư yếu, hàn thấp ngưng kết mà thành.
Hạ tiêu cảm thụ tà thấp nhiệt, hoặc uất giận làm tổn thương Can, Can uất hóa nhiệt, Can khí phạm Tỳ, Tỳ hư thấp thịnh, thấp nhiệt chảy xuống, uẩn kết thành độc, làm thịt rữa thành mủ, từ đó thành âm sang.
Thể này thuộc Dương chứng. Đặc điểm là phát bệnh tương đối gấp, tại chỗ đỏ, sưng, nóng, đau, mủ đặc, hôi, có thể kèm sốt, miệng đắng, họng khô, đại tiện táo, tiểu tiện vàng. Cơ chế chủ yếu là thấp nhiệt độc tà làm khí huyết ngưng trệ, lâu dần hóa mủ.
Sống lâu nơi âm thấp, hoặc trong kỳ kinh, sau sinh dầm mưa lội nước, khiến hàn thấp ngưng trệ, ứ huyết đình lại bên trong, khí cơ không lợi. Hoặc đàm trọc nội đình, đàm ứ giao trở, da cơ mất sự nuôi dưỡng, lâu ngày lở nát mà thành âm sang.
Thể này thuộc Âm chứng. Bệnh thường kéo dài, khối cứng, sắc da không đổi, đau không dữ dội; sau khi lở thì mủ nước loãng chảy rỉ rả, lâu khó liền. Người bệnh thường mệt mỏi, ăn kém, lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn, mạch tế nhược.
Biện chứng luận trị
Trước hết cần phân biệt Âm Dương.
Nếu vùng bệnh đỏ, sưng, nóng, đau, phát sốt nhanh, mủ đặc, hôi thối, hoặc kèm sốt toàn thân, phần nhiều thuộc thấp nhiệt, là Dương chứng.
Nếu khối sưng cứng, sắc da không đổi, lâu ngày không tiêu, hoặc sau khi lở mủ loãng chảy rỉ rả, người bệnh gầy yếu, phần nhiều thuộc hàn thấp, là Âm chứng.
Kế đó cần phân biệt thiện ác.
Nếu loét nhẹ, độc nông, thể trạng còn khỏe, phần nhiều thuộc thiện hậu.
Nếu sang dương lở nát, lâu không liền miệng, mủ nước rỉ rả, mùi hôi khó chịu, phần nhiều là nhiệt độc uẩn ứ mà khí huyết suy bại, thuộc ác hậu.
Nguyên tắc điều trị nên theo các phép: nhiệt thì thanh, hàn thì ôn, thấp thì hóa, cứng thì tiêu, hư thì bổ, hạ hãm thì nâng đỡ. Thường dùng phương pháp trong ngoài cùng trị.
Chứng trạng chủ yếu
Vùng âm bộ sinh mụn nhọt, đỏ, sưng, nóng, đau; nặng thì lở loét chảy mủ, mủ đặc dính, hôi thối. Đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô, thân nhiệt, tâm phiền, đại tiện khô kết. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Thấp nhiệt ở hạ tiêu khiến khí huyết ngưng trệ, uẩn kết thành độc, làm thịt rữa thành mủ, nên vùng âm bộ sinh mụn nhọt, đỏ, sưng, nóng, đau, lở loét chảy mủ, mủ đặc dính, hôi thối. Thấp nhiệt xông bốc lên trên, nên đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô. Nhiệt độc uẩn bên trong, nên tâm phiền, thân nhiệt, đại tiện khô kết. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là dấu hiệu của thấp nhiệt tà độc.
Pháp trị
Tả Can thanh nhiệt, giải độc trừ thấp.
Phương thang
Long đởm tả Can thang gia Thổ phục linh, Bồ công anh.
Long đởm thảo, Hoàng cầm, Chi tử, Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử, Đương quy, Sinh địa, Sài hồ, Cam thảo, Thổ phục linh, Bồ công anh.
Trong phương, Long đởm thảo tả Can Đởm thực hỏa, thanh thấp nhiệt hạ tiêu. Hoàng cầm, Chi tử thanh nhiệt tả hỏa. Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử lợi thấp, dẫn thấp nhiệt theo tiểu tiện mà ra. Sài hồ sơ Can, dẫn thuốc vào Can kinh. Sinh địa, Đương quy dưỡng huyết, lương huyết, giúp thuốc thanh nhiệt không làm tổn thương Âm huyết. Thổ phục linh, Bồ công anh thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng tán kết. Cam thảo điều hòa các vị. Toàn phương có công năng tả Can thanh nhiệt, giải độc trừ thấp, tiêu thũng chỉ thống.
Gia giảm theo nhiệt độc ủng thịnh
Nếu nhiệt độc ủng thịnh, biểu hiện sốt không lui, khát thích uống lạnh, vết loét chảy mủ hôi thối, phép trị nên thanh nhiệt giải độc, hóa ứ trừ thấp. Dùng Tiên phương hoạt mệnh ẩm, trích từ Hiệu Chú Phụ Nhân Lương Phương.
Tiên phương hoạt mệnh ẩm
Bạch chỉ, Bối mẫu, Phòng phong, Xích thược, Đương quy vĩ, Tạo giác thích, Xuyên sơn giáp, Thiên hoa phấn, Nhũ hương, Một dược, Kim ngân hoa, Trần bì, Cam thảo tiết.
Trong phương, Kim ngân hoa thanh nhiệt giải độc. Bạch chỉ, Phòng phong tán phong khứ thấp. Xích thược, Đương quy vĩ, Nhũ hương, Một dược hoạt huyết hóa ứ, tiêu thũng. Xuyên sơn giáp, Tạo giác thích hoạt huyết, nhuyễn kiên, tán kết. Trần bì, Bối mẫu lý khí hóa đàm. Thiên hoa phấn dưỡng Âm thanh nhiệt. Cam thảo giải độc hòa trung. Toàn phương có công năng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu thũng, hóa đàm tán kết, thường dùng khi nhiệt độc ủng thịnh, mủ độc chưa tiêu.
Chú ý về vị thuốc
Xuyên sơn giáp hiện nay liên quan đến bảo tồn động vật và quy định pháp luật ở nhiều nơi, không nên sử dụng tùy tiện. Khi gặp ý phương cổ có vị này, cần thay bằng các vị hoạt huyết thông lạc, nhuyễn kiên tán kết phù hợp theo điều kiện lâm sàng và quy định hiện hành.
Gia giảm theo chính khí bất túc
Nếu sang lở lâu không khỏi, chính khí bất túc, tà độc nội hãm, nên phù chính thác độc. Có thể dùng Bổ trung ích khí thang gia giảm.
Bổ trung ích khí thang gia giảm
Hoàng kỳ, Nhân sâm, Bạch truật, Chích cam thảo, Đương quy, Trần bì, Thăng ma, Sài hồ, gia Kim ngân hoa, Bạch chỉ, Tạo giác thích tùy chứng.
Ý phương là bổ trung ích khí, thăng đề chính khí, giúp chính khí có sức đẩy độc ra ngoài, đồng thời phối vị giải độc tiêu thũng.
Nếu bệnh lâu ngày làm tổn thương Âm, phép trị nên dưỡng Âm thanh nhiệt giải độc. Dùng Bách hợp Địa hoàng thang, trích từ Kim Quỹ Yếu Lược.
Bách hợp Địa hoàng thang
Bách hợp, Sinh địa hoàng.
Bách hợp dưỡng Âm, thanh Tâm, nhuận táo. Sinh địa hoàng lương huyết, dưỡng Âm, thanh nhiệt. Phương này thích hợp khi bệnh lâu, tân huyết bị thương, hư nhiệt chưa hết, vùng loét khô rát khó liền.
Ngoại trị tham khảo
Nếu còn đỏ, sưng, nóng, đau, có thể dùng các vị thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, trừ thấp sắc nước rửa ngoài như Kim ngân hoa, Bồ công anh, Hoàng bá, Khổ sâm, Thổ phục linh. Khi đã lở loét, cần giữ sạch, tránh cọ xát, tránh tự ý đắp thuốc không sạch lên vết loét. Nếu mủ nhiều, đau tăng, sốt hoặc sưng lan, cần thăm khám để xử lý dẫn lưu, kháng nhiễm trùng khi cần.
Chứng trạng chủ yếu
Âm sang cứng chắc, sắc da không đổi, hoặc có đau. Sau khi lở, mủ nước chảy rỉ rả. Thần mệt, uể oải, ăn ít, kém ngon. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn. Mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Hàn thấp ngưng trệ, đàm ứ giao trở, da cơ mất sự nuôi dưỡng, nên âm sang cứng chắc, sắc da không đổi, hoặc có đau. Sau khi lở, Dương khí bất túc, khí huyết không đủ để hóa độc sinh cơ, nên mủ nước chảy rỉ rả, lâu khó liền. Hàn thấp ngưng trệ, Tỳ Dương không phấn chấn, nên thần mệt, uể oải, ăn ít, kém ngon. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn, mạch tế nhược là dấu hiệu của hàn thấp ngưng trệ, chính khí bất túc.
Pháp trị
Ôn kinh hóa thấp, hoạt huyết tán kết.
Phương thang
Dương hòa thang, trích từ Ngoại Khoa Toàn Sinh Tập, gia Thương truật, Phục linh, Nga truật, Tạo giác thích.
Thục địa, Lộc giác giao, Khương thán, Nhục quế, Ma hoàng, Cam thảo, Bạch giới tử, Thương truật, Phục linh, Nga truật, Tạo giác thích.
Trong phương, Thục địa, Lộc giác giao bổ tinh huyết mà trợ Dương. Khương thán, Nhục quế ôn kinh thông mạch. Ma hoàng, Bạch giới tử thông Dương, tán trệ, tiêu sang. Nga truật, Tạo giác thích hành khí hoạt huyết, tán kết. Thương truật, Phục linh táo thấp, lợi thủy, hóa trọc. Cam thảo giải độc, điều hòa các vị. Toàn phương có công năng ôn kinh hóa thấp, hoạt huyết tán kết, dùng cho âm sang thuộc hàn thấp, Âm chứng.
Gia giảm
Nếu lạnh đau rõ, vùng bệnh không đỏ, sắc da nhợt, có thể thêm Bào khương, Tiểu hồi hương để ôn kinh tán hàn.
Nếu mủ nước loãng chảy lâu, thể lực yếu, có thể thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm để ích khí thác độc, sinh cơ.
Nếu đàm thấp nặng, khối cứng, rêu nhờn dày, có thể thêm Bán hạ, Trần bì để hóa đàm tán kết.
Nếu vùng loét lâu không liền, da thịt nhợt, ít đau, có thể phối các vị bổ khí dưỡng huyết, sinh cơ tùy chứng.
Gia giảm theo chính hư tà thịnh
Nếu chính hư tà thịnh, biểu hiện sang lở lâu không liền, hồi hộp, hơi ngắn, phép trị nên thác lý tiêu độc. Dùng Thác lý tiêu độc tán, trích từ Nữ Khoa Chính Tông.
Thác lý tiêu độc tán
Nhân sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Cam thảo, Phục linh, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Kim ngân hoa, Bạch chỉ, Tạo giác thích, Cát cánh.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Cam thảo bổ khí trợ Dương. Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung dưỡng huyết hòa huyết. Kim ngân hoa, Bạch chỉ, Tạo giác thích giải độc tiêu thũng, bài nùng. Hoàng kỳ, Cát cánh giúp nâng đỡ chính khí, thác độc ra ngoài. Toàn phương có công năng bổ khí dưỡng huyết, thác lý tiêu độc, dùng khi âm sang lâu ngày không liền, chính hư mà tà còn.
Ngoại trị tham khảo
Thể hàn thấp không nên dùng quá nhiều thuốc rửa khổ hàn mạnh kéo dài, vì có thể làm hàn thấp càng ngưng, da thịt khó sinh cơ. Nếu vết loét sạch, mủ ít, có thể chú trọng giữ khô sạch, bảo vệ khỏi cọ xát và phối hợp thuốc sinh cơ theo hướng dẫn chuyên môn. Nếu vết loét có mùi hôi, mủ nhiều, đau tăng, cần xem lại có chuyển thành thấp nhiệt hoặc nhiễm trùng nặng hay không.
Chú ý lâm sàng
Âm sang là chứng cần cẩn trọng. Vùng âm bộ là nơi dễ nhiễm khuẩn, dễ bị cọ xát, lại liên hệ với nhiều bệnh phụ khoa và da liễu. Khi thấy vết loét vùng âm hộ, sưng đau, chảy mủ, mùi hôi, sốt, hoặc khối sưng lớn nhanh, cần thăm khám để xác định nguyên nhân. Cần phân biệt với viêm tuyến tiền đình, áp xe, bệnh lây truyền qua đường tình dục, herpes sinh dục, loét do chấn thương, bệnh da liễu mạn tính, khối u âm hộ và nhiễm trùng thứ phát.
Không nên tự ý nặn mủ, chích rạch, đắp lá hoặc bôi thuốc không rõ nguồn gốc lên vùng loét. Những cách này có thể làm nhiễm trùng lan rộng, đau tăng và khiến vết thương lâu liền.
Điều dưỡng
Cần giữ vùng tiền âm sạch, khô thoáng, tránh mặc quần quá chật, tránh cọ xát mạnh. Khi có vết loét hoặc mủ, nên thay đồ lót thường xuyên, dùng chất liệu mềm, sạch. Trong thời gian bệnh đang tiến triển, nên kiêng phòng sự hoặc dùng biện pháp bảo vệ phù hợp theo chỉ định, tránh làm tổn thương thêm và tránh lây nhiễm nếu có yếu tố nhiễm trùng.
Ăn uống nên tùy thể mà điều chỉnh. Thể thấp nhiệt nên tránh rượu, cay nóng, chiên béo, đồ ngọt nhiều. Thể hàn thấp nên tránh lạnh sống, giữ ấm, kiện Tỳ hóa thấp. Người bệnh lâu ngày, khí huyết hư, cần chú trọng bổ dưỡng nhẹ nhàng, giúp chính khí phục hồi và vết loét có điều kiện liền.
Nói tóm lại
Âm sang là chứng vùng âm bộ sinh mụn nhọt, nặng thì lở loét, mủ nước chảy rỉ rả, tại chỗ sưng đau. Bệnh cơ chủ yếu có hai mặt: thấp nhiệt uẩn kết thành độc, hoặc chính khí hư yếu, hàn thấp ngưng kết.
Thấp nhiệt thuộc Dương chứng, biểu hiện đỏ, sưng, nóng, đau, mủ đặc hôi, có thể kèm sốt, đại tiện táo, tiểu tiện vàng; điều trị lấy tả Can thanh nhiệt, giải độc trừ thấp làm chủ. Hàn thấp thuộc Âm chứng, biểu hiện khối cứng, sắc da không đổi, bệnh lâu không tiêu, sau lở mủ loãng rỉ rả, người mệt, ăn kém; điều trị lấy ôn kinh hóa thấp, hoạt huyết tán kết làm chủ.
Điều trị cần trong ngoài cùng phối hợp, vừa điều lý tạng phủ, vừa chăm sóc cục bộ. Nếu vết loét lâu không liền, mủ hôi, đau tăng, sốt, hoặc nghi bệnh lý đặc biệt, cần thăm khám chuyên khoa kịp thời.