Điều trị bệnh phụ khoa, cũng như các khoa lâm sàng khác, trọng điểm vẫn là điều chỉnh chức năng toàn thân. Khi lâm chứng, cần vận dụng Tứ chẩn và Bát cương để biện chứng phân tích cẩn thận, phân rõ bệnh thuộc tạng hay phủ, khí hay huyết, hàn hay nhiệt, hư hay thực, sau đó mới xác định nguyên tắc điều trị.
Phụ nữ lấy huyết làm chủ, huyết nhờ khí mà vận hành, tạng phủ lại là nguồn sinh hóa khí huyết. Do đặc điểm sinh lý của phụ nữ thường nhiều lần tổn thương đến huyết, nên khí phận dễ thiên thịnh, tình chí dễ dao động, thường ảnh hưởng đến Can. Ăn uống thất điều, ưu tư, lao nhọc dễ làm tổn thương Tỳ Vị. Bẩm phú vốn bất túc, kết hôn sớm, sinh đẻ nhiều, phòng sự không điều độ thường làm tổn thương Thận khí.
Vì vậy, trong phụ khoa, chức năng tạng phủ rối loạn, khí huyết thất điều, dẫn đến Xung Nhâm bị tổn thương, rồi phát sinh các bệnh kinh, đới, thai, sản và tạp bệnh. Những phép thường dùng gồm bổ Thận tư Thận, sơ Can dưỡng Can, kiện Tỳ hòa Vị, điều lý khí huyết để điều bổ Xung Nhâm. Đây là những nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh phụ khoa.
Đồng thời, đường sinh dục nữ thông với bên ngoài, dễ trực tiếp cảm thụ ngoại tà. Vì vậy trong điều trị bệnh phụ khoa, ngoài nội trị pháp, còn có thể phối hợp ngoại trị pháp, khiến thuốc trực tiếp đến nơi bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.
Tiết 1
Bổ Thận tư Thận
Thận là gốc tiên thiên, chủ tàng tinh khí, là căn bản của sự sinh trưởng, phát dục và sinh sản. Khi nữ giới phát dục đến một giai đoạn nhất định, Thận khí sung thịnh, Thiên quý trưởng thành, Xung Nhâm thông thịnh, thì mới có kinh nguyệt và khả năng thai nghén. Nếu Thận khí bất túc, Xung Nhâm hao tổn, sẽ phát sinh các bệnh về kinh, đới, thai, sản và tạp bệnh.
Vì vậy, bổ Thận tư Thận là một nguyên tắc quan trọng trong điều trị bệnh phụ khoa. Cùng là kết hôn sớm, sinh đẻ nhiều, phòng sự không điều độ, nhưng do thể chất khác nhau, có người tổn thương Thận khí, có người tổn thương Thận Dương, có người lại tổn thương Thận Âm. Vì vậy khi dùng pháp bổ Thận, lại có phân biệt bình bổ, ôn bổ và tư bổ.
Thận khí hư, Xung Nhâm không vững, có thể dẫn đến kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt trước sau không định kỳ, băng lậu, thai động bất an, sa tử cung, bất dựng và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy bình bổ Thận khí làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Đại bổ nguyên tiễn, Cố âm tiễn.
Pháp này thích hợp với những chứng Thận khí hư mà chưa rõ hàn nhiệt thiên lệch, biểu hiện thường thấy là lưng gối mỏi, đầu choáng, tai ù, tinh thần kém, tiểu nhiều lần, kinh nguyệt không đều, thai không vững hoặc sa hạ. Trị pháp chủ yếu là bổ mà không quá ôn, cố mà không quá sáp, nhằm giúp Xung Nhâm được vững.
Thận Âm hư, Xung Nhâm huyết ít, hoặc nhiệt ẩn phục ở Xung Nhâm, có thể dẫn đến kinh nguyệt đến sớm, băng lậu, bế kinh, bất dựng và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy tư Thận ích Âm làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Tả quy hoàn, Lục vị địa hoàng hoàn, Bổ Thận địa hoàng hoàn.
Pháp này dùng khi tinh huyết bất túc, hư nhiệt nội sinh, huyết hải không đầy hoặc nhiệt bức huyết đi càn. Lâm sàng thường thấy kinh ít, kinh muộn, bế kinh, hoặc kinh đến sớm lượng ít sắc đỏ tươi, kèm lưng gối mỏi, miệng họng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, mất ngủ, ra mồ hôi trộm. Trị pháp cần tư dưỡng Thận Âm, nuôi nguồn của tinh huyết, đồng thời làm yên hư nhiệt.
Thận Dương hư, Xung Nhâm mất sự ôn ấm, có thể dẫn đến các bệnh kinh, đới, thai, sản và tạp bệnh.
Điều trị nên lấy ôn Thận trợ Dương làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Kim Quỹ Thận Khí hoàn, Hữu quy hoàn.
Pháp này dùng khi Mệnh môn hỏa suy, Bào cung hư hàn, Xung Nhâm không được ôn dưỡng. Lâm sàng có thể thấy kinh muộn, kinh ít, thống kinh do hàn, đới hạ trong loãng, cung hàn bất dựng, thai động bất an, lưng gối lạnh đau, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu trong dài. Trị pháp cần ôn Thận, trợ Dương, làm ấm Bào cung, giúp khí hóa và huyết hành được thông.
Thận Dương hư phát triển thêm, thường dẫn đến khí hóa thất thường, thủy thấp đình lại bên trong. Thủy thấp có thể hạ chú Xung Nhâm hoặc tràn ra cơ phu, gây bệnh đới hạ, phù thũng khi mang thai và các chứng thủy thấp khác.
Điều trị nên lấy ôn Thận trợ Dương, hóa khí hành thủy làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Chân vũ thang, Ngũ linh tán.
Pháp này thích hợp với các chứng Thận Dương hư kèm thủy thấp: đới hạ lượng nhiều trong loãng, thai kỳ phù thũng, tiểu tiện không lợi, thân nặng, sợ lạnh, lưng gối mỏi lạnh. Trị pháp không chỉ lợi thủy, mà phải ôn Dương hóa khí; khí hóa phục hồi thì thủy thấp tự có đường vận hành.
Can và Thận cùng chủ hạ tiêu. Can tàng huyết, Thận tàng tinh, tinh huyết sinh lẫn nhau, Can Thận đồng nguyên. Can Thận lại là gốc của Xung Nhâm, vì vậy bệnh biến do Can Thận bất túc có thể ảnh hưởng đến Xung Nhâm; ngược lại, Xung Nhâm bị tổn thương cũng có thể liên lụy Can Thận.
Các bệnh thường gặp như băng lậu, bế kinh, thai động bất an, hoạt thai, bất dựng phần nhiều do Can Thận bất túc mà sinh. Vì vậy, các bệnh phụ khoa do Can Thận bất túc, Xung Nhâm tổn thương nên lấy tư Thận dưỡng Can làm chủ.
Phương thang đại diện thường dùng như Tả quy hoàn, Kỷ cúc địa hoàng hoàn. Tùy theo bệnh tình cụ thể, có thể phối hợp các vị huyết nhục hữu tình để bổ ích tinh huyết.
Tư Thận dưỡng Can chính là ích nguồn của Xung Nhâm. Nguồn thịnh thì dòng tự thông, bệnh cũng theo đó mà được điều chỉnh.
Tỳ chủ thấp, Thận chủ thủy. Thủy thấp cùng gốc, căn bản thường ở sự suy hư của Mệnh hỏa. Tỳ Thận Dương hư, thủy thấp đình lại bên trong, hoặc lâu ngày hóa thành đàm trọc, có thể dẫn đến kinh hành tiết tả, phù thũng khi mang thai, đới hạ, kinh nguyệt đến muộn, bế kinh, bất dựng và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy ôn Thận kiện Tỳ làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Tứ thần hoàn hợp Kiện cố thang, Ôn bào ẩm. Đồng thời căn cứ vào tình trạng thủy thấp, đàm trọc khác nhau mà phối hợp các vị táo thấp, lợi thủy, hóa đàm.
Nói tóm lại, pháp bổ Thận tư Thận giữ vị trí rất quan trọng trong điều trị bệnh phụ khoa, cần được vận dụng thuần thục. Đặc biệt ở thiếu nữ tuổi dậy thì, Thận khí chưa đầy, việc bổ Thận tư Thận càng có ý nghĩa quan trọng.
Tiết 2
Sơ Can dưỡng Can
Can tàng huyết, chủ sơ tiết, tính thích điều đạt. Can lại quản huyết hải, mà Xung mạch cũng là huyết hải. Nếu Can khí của phụ nữ bình hòa, kinh mạch lưu thông, huyết hải yên ổn thì kinh nguyệt, thai nghén, sinh sản và sữa đều bình thường.
Tuy nhiên, do phụ nữ nhiều lần tổn thương đến huyết, khí phận dễ thiên thịnh, cảm xúc dễ dao động, nên thường khiến Can mất điều đạt, sơ tiết thất thường, Xung Nhâm không điều, từ đó phát sinh các bệnh kinh, đới, thai, sản và tạp bệnh. Điều trị nên lấy sơ Can dưỡng Can làm chủ. Vì vậy, sơ Can dưỡng Can là một nguyên tắc quan trọng khác trong điều trị bệnh phụ khoa.
Do uất ức, phẫn nộ khiến Can khí uất kết, Xung Nhâm mất thông suốt, có thể dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, thống kinh, bế kinh, bất dựng và các bệnh phụ khoa khác.
Điều trị nên lấy sơ Can giải uất làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Gia vị ô dược thang, Bát vật thang.
Pháp này thường dùng khi bệnh do khí uất làm huyết trệ. Biểu hiện có thể thấy kinh đến muộn, kinh hành không thông, đau bụng trước kỳ, ngực sườn và vú căng đau, hay thở dài, cảm xúc uất ức. Trị pháp cần làm cho Can khí được điều đạt, Xung Nhâm thông thuận, huyết hải tự điều.
Nếu Can uất hóa hỏa, nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, hoặc khí hỏa thượng nghịch, có thể dẫn đến kinh nguyệt đến sớm, băng lậu, kinh hành thổ nục và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy sơ Can tả hỏa làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Đan chi tiêu dao tán, Thanh Can chỉ lâm thang.
Pháp này dùng khi Can uất đã hóa nhiệt, biểu hiện thường thấy là kinh đến trước kỳ, lượng nhiều, sắc đỏ sẫm hoặc tím đỏ, phiền táo dễ giận, miệng đắng, sườn đau, mạch huyền sác. Trị pháp không chỉ thanh nhiệt, mà còn phải sơ Can; nếu chỉ thanh hỏa mà không giải uất, khí cơ vẫn không thông.
Nếu Can uất hóa nhiệt, Can khí phạm Tỳ, Tỳ hư thấp thịnh, thấp nhiệt kết nhau, hạ chú Xung Nhâm, có thể dẫn đến đới hạ, âm dương và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy tả Can, thanh nhiệt, trừ thấp làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Long đởm tả Can thang.
Pháp này thích hợp với thấp nhiệt Can kinh hạ chú, biểu hiện đới hạ vàng hoặc đỏ, hôi, âm hộ ngứa, miệng đắng, tiểu vàng, sườn đau, tâm phiền. Trị pháp cần thanh tả Can kinh thấp nhiệt, đồng thời giúp hạ tiêu được thanh lợi.
Nếu Can khí phạm Tỳ, Can Tỳ bất hòa, Xung Nhâm mất sự điều khiển, có thể dẫn đến kinh nguyệt không đều, bất dựng và các bệnh khác.
Điều trị nên sơ Can lý Tỳ. Phương thang đại diện thường dùng như Tiêu dao tán, Khai uất chủng ngọc thang.
Pháp này dùng khi Can uất ảnh hưởng Tỳ Vị, khí huyết sinh hóa và vận hành đều bị trở ngại. Lâm sàng thường thấy kinh nguyệt không đều, ngực sườn căng, bụng đầy, ăn kém, mệt mỏi, khó thụ thai. Trị pháp cần vừa sơ Can, vừa kiện Tỳ, giúp khí huyết sinh hóa và Xung Nhâm điều hòa.
Nếu Can uất kèm Thận hư, Xung Nhâm thất điều, có thể dẫn đến kinh nguyệt không đều, thống kinh, bất dựng và các bệnh khác.
Điều trị nên điều Can bổ Thận. Phương thang đại diện thường dùng như Điều Can thang, Định kinh thang.
Pháp này thích hợp với các chứng vừa có Can khí uất trệ vừa có Thận khí hoặc Thận tinh bất túc. Khi Can uất thì khí cơ không thông; khi Thận hư thì Xung Nhâm thiếu nền tảng. Vì vậy, trị pháp cần vừa điều Can cho khí huyết thông, vừa bổ Thận để củng cố gốc của Xung Nhâm.
Phụ nữ do kinh, thai, sản, nhũ nhiều lần làm tổn thương huyết, Can huyết bất túc, Xung Nhâm huyết hư, từ đó dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, kinh lượng ít, bế kinh, thai động bất an, bất dựng và các bệnh khác.
Điều trị nên dưỡng huyết nhu Can. Phương thang đại diện thường dùng như Tứ vật thang, Tư huyết thang, Dưỡng tinh chủng ngọc thang.
Pháp này lấy bổ huyết dưỡng Can làm chủ. Khi Can huyết đầy đủ, Can khí được nhu hòa, huyết hải có nguồn, Xung Nhâm được nuôi dưỡng, kinh nguyệt và thai nghén mới có cơ sở.
Nếu Can kinh huyết hư ngày càng nặng, Can Âm bất túc, hoặc Can huyết vốn hư, sau khi mang thai huyết lại dùng để nuôi thai, Can huyết càng hư, Can Âm bất túc, khiến Can Dương thiên cang, có thể dẫn đến chóng mặt khi mang thai, sản hậu kinh chứng và các bệnh khác.
Điều trị nên bình Can tiềm Dương. Phương thang đại diện thường dùng như Nhất quán tiễn, Tam giáp phục mạch thang.
Pháp này dùng khi Âm huyết bất túc, Can Dương không được kiềm chế mà thượng cang. Biểu hiện có thể có đầu choáng, mắt hoa, tai ù, phiền nhiệt, mất ngủ, trong thai kỳ có thể chóng mặt nặng. Trị pháp cần dưỡng Âm huyết để trị gốc, đồng thời bình Can tiềm Dương để trị ngọn.
Nếu Âm hư hỏa vượng, Can phong nội động, có thể gây chứng sản giật trong thai kỳ. Điều trị nên trấn Can tức phong. Phương thang đại diện như Linh giác câu đằng thang.
Phụ nữ trung niên do thai sản, nuôi con bằng sữa nhiều lần làm tổn thương huyết, thường khiến Can mất sự nuôi dưỡng, từ đó dẫn đến các bệnh kinh, đới, thai, sản. Vì vậy, điều trị thường lấy điều Can làm chủ. Nhưng Can Thận đồng nguyên, nên trong nhiều trường hợp cũng cần kiêm bổ Thận.
Tiết 3
Kiện Tỳ hòa Vị
Tỳ Vị là gốc hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết. Xung Nhâm lại lệ thuộc Dương minh. Nếu Tỳ Vị của phụ nữ kiện vận, khí huyết sung thịnh, thì huyết hải đầy đủ, kinh nguyệt đúng kỳ, thai nghén bình thường. Nếu Tỳ Vị rối loạn, nguồn sinh hóa bất túc, ảnh hưởng đến Xung Nhâm, sẽ dễ phát sinh các bệnh kinh, đới, thai, sản, nhũ.
Nguyên tắc điều trị là kiện Tỳ hòa Vị, bồi bổ nguồn sinh hóa.
Pháp kiện Tỳ hòa Vị phải căn cứ vào bệnh tình khác nhau mà vận dụng: hư thì bổ, thực thì tả, hàn thì ôn, nhiệt thì thanh.
Cơ thể vốn Tỳ Vị hư yếu, hoặc bị ăn uống, lao nhọc làm tổn thương, khiến Tỳ Vị hư, Xung Nhâm không điều; hoặc trong thai kỳ Xung khí thượng nghịch, dẫn đến các bệnh thai sản.
Điều trị nên kiện Tỳ hòa Vị, hoặc phối hợp các vị tiêu đạo. Phương thang đại diện thường dùng như Hương sa lục quân tử thang.
Pháp này dùng khi Tỳ Vị là trung tâm của bệnh cơ: ăn kém, đầy bụng, buồn nôn, mệt mỏi, khí huyết không đủ, kinh thai không điều. Điều hòa Tỳ Vị chính là làm cho nguồn khí huyết được phục hồi.
Nếu Tỳ Vị hư nhược, trung khí bất túc, Xung Nhâm không cố, huyết mất thống nhiếp, có thể dẫn đến các bệnh băng thương trong thai sản.
Điều trị nên lấy kiện Tỳ ích khí làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Cử nguyên tiễn, Bổ trung ích khí thang.
Pháp này dùng khi khí hư không nhiếp huyết, không nâng giữ được thai hoặc Bào cung. Lâm sàng có thể thấy kinh nhiều, băng lậu, rong huyết, thai lậu, sa tử cung, ác lộ không dứt, người mệt, hơi ngắn, lưỡi nhạt, mạch nhược.
Nếu Tỳ Vị hư yếu làm ảnh hưởng nguồn sinh hóa, thì Tỳ hư huyết ít, Xung Nhâm huyết hư, dẫn đến các bệnh kinh, đới, thai, sản.
Điều trị nên lấy kiện Tỳ dưỡng huyết làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Quy Tỳ thang, Bát trân thang.
Pháp này dùng khi khí huyết đều hư, huyết hải không đầy, thai không được nuôi, sau sinh sữa ít. Trị pháp phải vừa kiện Tỳ để sinh huyết, vừa dưỡng huyết để bổ Xung Nhâm.
Tỳ Vị khí hư nặng, Tỳ Dương không phấn chấn, vận hóa thất chức, có thể dẫn đến kinh hành tiết tả, phù thũng và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy kiện Tỳ phù Dương làm chủ. Phương thang đại diện thường dùng như Sâm linh bạch truật tán, Kiện cố thang.
Pháp này thích hợp với các chứng Tỳ Dương hư, thấp trọc nội sinh, đại tiện lỏng, kinh kỳ tiêu chảy, thân nặng, phù nhẹ, ăn kém. Trị pháp cần ôn vận Tỳ Dương, giúp thủy cốc được vận hóa.
Tỳ Dương không phấn chấn, thủy thấp đình lại bên trong, thậm chí hạ chú Xung Nhâm, có thể dẫn đến phù thũng khi mang thai, đới hạ và các bệnh khác.
Điều trị nên kiện Tỳ lợi thấp. Phương thang đại diện thường dùng như Toàn sinh bạch truật tán, Hoàn đới thang.
Pháp này dùng khi Tỳ hư thấp thịnh, biểu hiện đới hạ nhiều, sắc trắng, chất loãng, hoặc thai kỳ phù thũng, thân nặng, ăn kém. Trị pháp vừa kiện Tỳ, vừa lợi thấp, khiến thấp có đường ra mà chính khí không bị tổn.
Tỳ Dương không phấn chấn, thủy thấp đình tụ, hóa thành đàm trọc, bế tắc Bào mạch, có thể dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, bế kinh, bất dựng và các bệnh phụ khoa khác.
Điều trị nên kiện Tỳ, khoát đàm, trừ thấp. Phương thang đại diện thường dùng như phương trị thấp đàm của Đan Khê, Thương phụ đạo đàm hoàn.
Pháp này dùng khi đàm thấp trở trệ Bào mạch, thường gặp ở người thân thể béo, kinh muộn hoặc bế kinh, đới hạ nhiều, ngực bụng đầy, rêu lưỡi nhờn. Trị pháp phải kiện Tỳ hóa đàm, thông Bào mạch, giúp Xung Nhâm được thông.
Hàn tích trong Vị, Vị mất chức năng thụ nạp, có thể dẫn đến kinh hành tiết tả, nôn nghén và các bệnh khác.
Điều trị nên ôn trung hòa Vị. Phương thang đại diện thường dùng như Lý trung thang, Bán hạ phục linh thang. Các vị thuốc thường dùng như Sa nhân, Khấu nhân, Hoắc hương, Đinh hương, Pháo khương, Ngô thù du.
Pháp này dùng khi hàn làm Vị khí không hòa, biểu hiện nôn, ăn kém, bụng lạnh, tiêu lỏng, gặp lạnh nặng hơn. Trong thai kỳ, dùng thuốc cần thận trọng, lấy hòa Vị giáng nghịch làm chính.
Vị có uất nhiệt, hoặc tà nhiệt nhập lý, có thể dẫn đến nôn nghén, táo bón sau sinh, sốt sau sinh và các bệnh khác.
Điều trị nên thanh nhiệt hòa Vị hoặc tả nhiệt hòa Vị. Phương thang đại diện thường dùng như Bạch hổ thang, Ma tử nhân hoàn. Các vị thuốc thường dùng như Trúc nhự, Hoàng cầm, Hoàng liên, Đại hoàng.
Pháp này dùng khi Vị nhiệt làm khí nghịch, hoặc nhiệt kết khiến đại tiện không thông. Biểu hiện có thể có nôn đắng, miệng khô, khát, táo bón, rêu vàng. Trị pháp cần thanh nhiệt, giáng nghịch, hòa Vị, thông phủ tùy chứng.
Thai nghén ác trở, nôn lâu làm tổn thương Vị Âm, hoặc nhiệt tà làm tổn thương Vị Âm, nên dùng pháp dưỡng Âm hòa Vị. Phương thang đại diện như Cận hiệu phương. Các vị thuốc thường dùng như Thạch hộc, Mạch môn, Thiên hoa phấn, Hồ ma nhân.
Trong quá trình điều trị, dù tà bệnh chưa làm tổn thương Tỳ Vị, khi dùng thuốc vẫn cần chiếu cố Tỳ Vị. Không nên dùng quá nhiều thuốc tư nê hoặc công phạt, để tránh làm tổn thương Tỳ Vị, ảnh hưởng chức năng vận hóa.
Ở phụ nữ lớn tuổi sau khi kinh đoạn, tiên thiên Thận khí đã suy, khí huyết đều hư, hoàn toàn nhờ hậu thiên thủy cốc nuôi dưỡng. Lúc này, kiện Tỳ hòa Vị để bồi nguồn sinh hóa càng trở nên quan trọng.
Tiết 4
Điều lý khí huyết
Khí huyết bắt nguồn từ tạng phủ, vận hành trong kinh lạc, là cơ sở vật chất của kinh nguyệt, thai nghén, sinh sản và nuôi con bằng sữa. Khí là soái của huyết, huyết là mẹ của khí; hai bên phối hợp, nương tựa và làm dụng cho nhau.
Nếu khí huyết của phụ nữ điều hòa, ngũ tạng an hòa, Xung Nhâm thông thịnh, kinh nguyệt và thai nghén sẽ bình thường. Nhưng phụ nữ lấy huyết làm gốc, huyết theo khí mà vận hành. Do các quá trình kinh, thai, sản, nhũ dễ hao huyết, thương khí, nên khí huyết dễ thất điều, ảnh hưởng đến Xung Nhâm, từ đó phát sinh bệnh phụ khoa.
Khí huyết thất điều không chỉ là nguyên nhân gây bệnh phụ sản, mà có lúc còn là kết quả của bệnh phụ sản. Vì vậy, điều lý khí huyết là một trong những nguyên tắc quan trọng trong điều trị bệnh phụ sản.
Biến động tình chí thường gây bệnh ở khí phận. Hàn, nhiệt, thấp tà chủ yếu gây bệnh ở huyết phận. Do đó, phương pháp điều khí huyết phải căn cứ vào triệu chứng lâm sàng, phân biệt bệnh ở khí hay ở huyết, phân tích hư, thực, hàn, nhiệt, rồi mới xác định phép trị cụ thể.
1.1. Bổ khí
Khí hư thì bổ khí.
Người khí hư thường do trung khí bất túc, Xung Nhâm không cố, dẫn đến kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều, băng lậu, thai động bất an, đọa thai, tiểu sản, ác lộ sau sinh không dứt, sa tử cung và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy bổ khí làm chủ. Các vị thuốc thường dùng như Nhân sâm, Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Sơn dược.
Bổ khí trong phụ khoa không chỉ nhằm giảm mệt mỏi, mà còn nhằm giúp khí nhiếp huyết, nâng đỡ Bào cung, cố giữ thai nguyên và làm vững Xung Nhâm.
1.2. Thăng đề
Khí hãm thì thăng đề.
Trung khí bất túc, nặng hơn thì khí hư hạ hãm, thanh Dương không thăng, dẫn đến kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, đới hạ, sa tử cung và các bệnh khác.
Điều trị nên trong phép bổ khí gia thêm các vị thăng đề. Các vị thăng đề thường dùng như Thăng ma, Sài hồ, Kinh giới tuệ.
Pháp này dùng khi có biểu hiện sa hạ, trống sa bụng dưới, kinh kéo dài, băng lậu do khí hư, sa tử cung. Cần vừa bổ khí, vừa thăng Dương, không chỉ dùng thuốc sáp giữ.
1.3. Hành khí
Khí trệ thì hành khí.
Uất ức, phẫn nộ khiến khí cơ bất lợi, uất trệ không hành. Khí trệ thì huyết ứ, Xung Nhâm mất thông, dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, thống kinh, bế kinh, thiếu sữa, trưng hà và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy hành khí làm chủ. Các vị thuốc thường dùng như Hương phụ, Mộc hương, Ô dược, Chỉ xác, Trần bì, Sa nhân, Xuyên luyện tử, Lệ chi hạch.
Hành khí trong phụ khoa thường nhằm thông Can khí, điều Xung Nhâm, làm huyết hành theo khí. Khi khí thông, huyết tự dễ thông; đau do trệ cũng theo đó giảm.
1.4. Giáng khí
Khí nghịch thì giáng khí.
Uất giận quá mức có thể khiến khí cơ nghịch loạn, gây kinh hành thổ nục, thai nghén ác trở và các bệnh khác.
Điều trị nên trong phép hành khí kiêm dùng các vị giáng khí. Các vị thường dùng như Trầm hương, Chỉ thực, Hậu phác, Bán hạ, Tô tử.
Pháp này dùng khi khí đi ngược lên trên, biểu hiện nôn, ợ, tức ngực, kinh hành nục huyết, nôn nghén. Trị pháp cần giáng nghịch, hòa Vị, đồng thời điều khí huyết.
1.5. Ôn kinh phù Dương
Khí hàn thì ôn kinh phù Dương.
Cảm thụ hàn tà, hàn làm tổn thương Dương khí, hoặc cơ thể vốn Dương hư, hàn tự sinh từ trong, có thể dẫn đến các bệnh kinh, đới, thai, sản.
Điều trị nên lấy ôn kinh phù Dương làm chủ. Các vị thuốc thường dùng như Phụ tử, Nhục quế, Ngô thù du, Pháo khương, Hồi hương, Quế chi, Ngải diệp, Dâm dương hoắc, Bổ cốt chi, Ba kích thiên, Tiên mao.
Pháp này dùng khi hàn làm khí huyết không vận hành, Xung Nhâm không ấm, Bào cung lạnh. Cần phân biệt hư hàn và thực hàn để chọn mức độ ôn bổ hoặc ôn tán cho thích hợp.
1.6. Thanh khí tiết nhiệt
Khí nhiệt thì thanh khí tiết nhiệt.
Cảm thụ nhiệt tà, nhập lý hóa nhiệt, hoặc ngũ chí quá cực hóa hỏa, có thể dẫn đến các bệnh kinh, đới, thai, sản.
Điều trị nên lấy thanh khí tiết nhiệt làm chủ. Các vị thuốc thường dùng như Thạch cao, Tri mẫu, Chi tử, Hoàng cầm, Hoàng liên, Hoàng bá, Đại hoàng, Mang tiêu.
Các phép điều lý khí phận trên thường phối hợp thêm thuốc bổ huyết, lý huyết, hoạt huyết. Vì khí và huyết không tách rời nhau, trị khí nhưng vẫn phải chiếu cố huyết; khí thông mà huyết không đủ thì khó phục, khí hư mà huyết ứ thì cũng cần kiêm thông.
2.1. Bổ huyết dưỡng huyết
Huyết hư thì bổ huyết dưỡng huyết.
Kinh, thai, sản, nhũ đều lấy huyết làm dụng, lại đều dễ hao huyết, khiến Xung Nhâm huyết hư, dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, bế kinh, thai động bất an, đau bụng sau sinh và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy bổ huyết dưỡng huyết làm chủ. Nếu huyết hư nặng, nên điền tinh bổ huyết. Các vị thuốc thường dùng như Thục địa, Bạch thược, Đương quy, A giao, Long nhãn nhục, Sơn thù du, Câu kỷ tử.
Pháp này không chỉ bổ lượng huyết, mà còn nuôi nguồn của Xung Nhâm, giúp huyết hải đầy đủ, thai được nuôi, sau sinh khí huyết hồi phục.
2.2. Hoạt huyết hóa ứ
Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ.
Hàn ngưng, nhiệt kết, khí trệ, khí hư đều có thể dẫn đến huyết ứ. Huyết ứ làm Xung Nhâm mất thông, gây kinh nguyệt đến muộn, kinh nguyệt quá ít, kinh kỳ kéo dài, xuất huyết giữa kỳ, thống kinh, băng lậu, nhau thai không xuống, đau bụng sau sinh, trưng hà và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy hoạt huyết hóa ứ làm chủ. Trường hợp nặng nên dùng các vị trùng loại, huyết nhục hữu tình để sưu tước mạch lạc. Các vị thường dùng như Xích thược, Đan sâm, Hồng hoa, Đào nhân, Đan bì, Ích mẫu thảo, Đương quy, Xuyên khung, Xuyên ngưu tất, Vương bất lưu hành, Ngũ linh chi, Bồ hoàng, Trạch lan, Sơn tra, Tam lăng, Nga truật, Diên hồ sách, Địa miết trùng, Thủy điệt, Manh trùng.
Hoạt huyết trong phụ khoa cần nắm thời điểm và mức độ. Khi có thai phải hết sức thận trọng; sau sinh, huyết ứ chưa ra thì cần hoạt huyết thích đáng; xuất huyết do ứ cũng có thể phải hoạt huyết chỉ huyết.
2.3. Nhuyễn kiên tán kết
Huyết ứ nặng, huyết kết thành trưng, nên hoạt huyết hóa ứ, đồng thời kiêm nhuyễn kiên tán kết.
Các vị thường dùng như Hải tảo, Côn bố, Miết giáp, Mẫu lệ, Xuyên sơn giáp.
Pháp này dùng cho các chứng trưng hà, tích khối, u cục lâu ngày do huyết ứ đàm kết. Khi dùng cần căn cứ thể chất hư thực và bệnh vị, không nên công phá quá mức làm tổn chính khí.
2.4. Cố Xung chỉ huyết
Xuất huyết không dứt thì cố Xung chỉ huyết.
Khí hư, huyết nhiệt, huyết ứ và nhiều nguyên nhân khác đều có thể làm tổn thương Xung Nhâm, gây các bệnh xuất huyết phụ khoa như kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, thai lậu, thai động bất an, ác lộ sau sinh không dứt.
Khi điều trị, cần nhắm vào nguyên nhân gây xuất huyết, đồng thời lấy chỉ huyết làm chủ. Tùy tác dụng thuốc khác nhau, có thể chia thành cố nhiếp chỉ huyết, sáp huyết chỉ huyết, ôn kinh chỉ huyết, lương huyết chỉ huyết, hoạt huyết chỉ huyết.
Các vị thường dùng như Long cốt, Mẫu lệ, Ô tặc cốt, Trần tông thán, Tiên hạc thảo, Huyết dư thán, Ngẫu tiết, Ngải diệp thán, Pháo khương thán, sao Địa du, Quán chúng thán, Hắc hoàng bá, Tiêu chi tử, Trắc bá diệp, Trữ ma căn, Tam thất, Thiến thảo, sao Bồ hoàng, Đan bì thán.
Chỉ huyết trong phụ khoa cần phân biệt hư, nhiệt, ứ. Hư thì bổ khí nhiếp huyết; nhiệt thì lương huyết chỉ huyết; ứ thì hoạt huyết chỉ huyết; hàn thì ôn kinh chỉ huyết. Nếu chỉ thấy máu mà vội sáp, có thể làm ứ lưu lại.
2.5. Thanh nhiệt lương huyết
Huyết nhiệt thì thanh nhiệt lương huyết.
Nhiệt tà tương bác với huyết, làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, dẫn đến kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều, băng lậu, kinh hành phát nhiệt, ác lộ sau sinh không dứt, sốt sau sinh và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy thanh nhiệt lương huyết làm chủ. Thường phối hợp thuốc thanh khí tiết nhiệt với thuốc lương huyết như Thủy ngưu giác, Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì, Huyền sâm, Bạch thược.
2.6. Thanh doanh khứ ứ
Nhiệt độc tương bác với huyết thì thanh doanh khứ ứ.
Nhiễm tà độc, nhập lý hóa nhiệt, hoặc nhiệt cực hóa độc, cùng huyết kết lại, có thể dẫn đến nhiệt nhập huyết thất, phụ nhân phúc thống, sốt sau sinh và các bệnh khác.
Điều trị nên thanh doanh khứ ứ, tức thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ. Thường phối hợp thuốc thanh nhiệt giải độc như Kim ngân hoa, Liên kiều, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Bại tương thảo, Ngư tinh thảo, Thổ phục linh với thuốc hoạt huyết hóa ứ.
Pháp này dùng trong các chứng tà độc, nhiệt ứ, sản hậu nhiễm tà, đau bụng sốt, ác lộ hôi. Khi có biểu hiện hiểm chứng cần xử trí thận trọng và phối hợp y học hiện đại khi cần.
2.7. Ôn kinh hành trệ
Huyết hàn thì ôn kinh hành trệ.
Hàn tà nhập lý, cùng huyết kết lại, huyết bị hàn làm ngưng, Xung Nhâm trở trệ, dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, thống kinh, bế kinh, bất dựng, trưng hà, nhau thai không xuống và các bệnh khác.
Điều trị nên ôn kinh hành trệ. Thường phối hợp thuốc ôn kinh phù Dương với thuốc hoạt huyết hóa ứ.
2.8. Ôn kinh dưỡng huyết
Hư hàn thì ôn kinh dưỡng huyết.
Cơ thể vốn Dương khí bất túc, hàn tự sinh từ trong, chức năng sinh hóa của tạng phủ không đủ, không thể sinh huyết và hành huyết, Xung Nhâm huyết hư, dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, thống kinh và các bệnh khác.
Điều trị nên ôn kinh dưỡng huyết. Thường phối hợp thuốc ôn kinh phù Dương với thuốc bổ huyết dưỡng huyết.
Pháp này khác với ôn kinh hành trệ ở chỗ trọng tâm không phải chỉ tán hàn thông ứ, mà còn phải dưỡng huyết. Huyết được nuôi, Dương được ấm, Xung Nhâm mới có thể vận hành điều hòa.
2.9. Tán hàn khứ thấp
Hàn thấp thì tán hàn khứ thấp.
Tỳ Thận Dương hư, hoặc cảm thụ hàn thấp, hàn thấp cùng huyết ngưng kết, huyết hành không thông, Xung Nhâm trở trệ, dẫn đến thống kinh, bế kinh, trưng hà và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy tán hàn khứ thấp làm chủ. Thường phối hợp thuốc ôn kinh phù Dương với thuốc táo thấp, lợi thấp như Thương truật, Bạch truật, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Ý dĩ nhân, Xa tiền tử, Đại phúc bì, Nhân trần, Mộc thông. Vì hàn thấp ngưng trệ khiến huyết hành không thông, nên thường phối hợp thêm thuốc hoạt huyết hóa ứ.
2.10. Thanh nhiệt trừ thấp
Thấp nhiệt thì thanh nhiệt trừ thấp.
Thấp trọc theo Dương hóa nhiệt, hoặc cảm thụ tà thấp nhiệt, thấp nhiệt hạ chú, làm tổn thương Xung Nhâm, dẫn đến thống kinh, đới hạ, âm dương và các bệnh khác.
Điều trị nên lấy thanh nhiệt trừ thấp làm chủ. Thường phối hợp thuốc thanh khí tiết nhiệt với thuốc táo thấp, lợi thấp. Nếu thấp nhiệt hóa độc hoặc cảm thụ thấp độc, lại nên giải độc trừ thấp, thường phối hợp thêm thuốc thanh nhiệt giải độc. Vì thấp ngăn trở khí cơ, huyết hành không thông, nên cũng thường phối hợp thuốc hoạt huyết hóa ứ.
2.11. Giải độc sát trùng
Nhiễm bệnh trùng thì giải độc sát trùng. Cách điều trị cụ thể được trình bày trong phần Ngoại trị pháp.
Các phép điều lý huyết phận trên thường phối hợp với thuốc bổ khí, lý khí, hành khí. Vì huyết không tự hành, phải nhờ khí thúc đẩy; khí không có huyết nuôi thì cũng khó vận hành bền vững.
Ngoài ra, nếu mất máu quá nhiều, tay chân lạnh, có dấu hiệu muốn thoát, cần cấp thời bổ khí cố thoát. Khi dùng các pháp ôn bổ, thanh bổ, tư bổ, phá khí, trục ứ, cũng phải luôn chiếu cố khí huyết. Dùng thuốc không nên quá tư nê, hao tán hoặc công phạt, để tránh làm khí huyết ứ trệ, hoặc hao khí, hao huyết.
Nói tóm lại, nguyên tắc điều lý khí huyết là làm cho khí huyết hòa điều, Xung Nhâm thông suốt. Khi khí huyết được điều hòa, các bệnh kinh, đới, thai, sản cũng có cơ sở để hồi phục.
Phụ lục
Ngoại trị pháp
Ngoại trị pháp trong phụ khoa thường dùng nhất cho các bệnh tiền âm. Vị trí bệnh biến chủ yếu biểu hiện ở vùng tiền âm, nhưng phản ứng cục bộ này có thể ảnh hưởng đến toàn thân. Ngược lại, cũng có một số bệnh tiền âm là biểu hiện cục bộ của bệnh biến toàn thân. Vì vậy, trong điều trị vừa phải dùng thuốc tại chỗ, vừa phải kết hợp nội trị để điều chỉnh toàn thân.
Bệnh tiền âm phần nhiều do tà độc, bệnh trùng gây ra, có thể phát sinh sưng, mủ, loét, trợt và các bệnh biến khác. Trong ngoại trị pháp thường chọn các loại thuốc thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, thu liễm.
Thuốc thanh nhiệt thường dùng như Hoàng bá, Hoàng liên, Tri mẫu.
Thuốc giải độc thường dùng như Kim ngân hoa, Bồ công anh, Thổ phục linh, Ngư tinh thảo, Bại tương thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo.
Thuốc sát trùng thường dùng như Khổ sâm, Hạc sắt, Xà sàng tử, Bách bộ, Hùng hoàng, Bạch đầu ông.
Thuốc thu liễm thường dùng như Ô mai, Ngũ bội tử, Xích thạch chi, Ô tặc cốt, Hải cáp phấn, Khô phàn.
Sau đây trình bày các ngoại trị pháp chủ yếu trong phụ khoa.
Pháp xông rửa là dùng nước thuốc để xông hơi và rửa vùng âm hộ. Pháp này chủ yếu dùng cho bệnh biến âm hộ như ngứa, thấp chẩn, sưng, loét.
Cách dùng: thuốc được gói lại rồi sắc, phải đun sôi hai mươi đến ba mươi phút mới dùng ngoài. Khi dùng, đổ nước thuốc vào chậu riêng, nhân lúc còn nóng để xông vùng bệnh trước, sau đó rửa. Khi nhiệt độ thích hợp có thể rửa âm hộ hoặc ngồi chậu, mỗi lần mười phút. Nếu có loét thì không ngâm rửa. Bảy ngày là một liệu trình. Mỗi ngày một thang, sắc hai lần, chia sáng và tối để xông rửa.
Pháp xối rửa là dùng nước thuốc để xối rửa âm đạo và âm hộ. Pháp này chủ yếu dùng cho bệnh biến âm đạo và cổ tử cung như viêm âm đạo do trùng roi, viêm âm đạo do nấm, viêm âm đạo không đặc hiệu, viêm cổ tử cung cấp hoặc mạn tính có trợt loét.
Cách dùng: thuốc được gói lại rồi sắc, đun sôi hai mươi đến ba mươi phút. Đợi nước thuốc có nhiệt độ thích hợp, về cơ bản gần với thân nhiệt, cho vào dụng cụ xối rửa để rửa. Vì trong âm đạo có nhiều nếp gấp, dịch tiết và mầm bệnh không dễ rửa sạch, nên dùng cách lau rửa âm đạo thường có hiệu quả tốt hơn. Người bệnh ngồi trong chậu nước thuốc, người đã kết hôn có thể dùng kẹp giữ bông thấm nước thuốc để lau rửa âm đạo. Rửa càng kỹ thì hiệu quả càng tốt. Bảy ngày là một liệu trình. Mỗi ngày một thang, sắc hai lần, chia sáng và tối để xối rửa. Nếu ngồi chậu rửa thì mỗi lần năm đến mười phút.
Pháp nạp thuốc là đặt thuốc dùng ngoài vào cùng đồ âm đạo và vùng cổ tử cung. Pháp này chủ yếu dùng cho bệnh biến cổ tử cung và âm đạo như viêm cổ tử cung mạn tính có trợt loét, ung thư cổ tử cung, viêm âm đạo do trùng roi, viêm âm đạo do nấm, viêm âm đạo không đặc hiệu, viêm âm đạo tuổi già.
Cách dùng: thuốc ngoại trị được chế thành dạng viên đặt, cao hoặc bột theo nhu cầu, sau khi khử trùng thì dùng. Sau khi xử lý sạch vùng âm hộ hoặc âm đạo, viên đặt có thể đặt vào cùng đồ sau âm đạo. Cách này có thể hướng dẫn người bệnh tự thực hiện. Cao thuốc có thể bôi lên gạc vô khuẩn. Bột thuốc có thể chấm vào bông có buộc chỉ, do nhân viên y tế thao tác theo quy trình thường quy, đặt lên vùng tổn thương. Bảy đến mười lần là một liệu trình, mỗi ngày hoặc cách ngày đặt thuốc một lần.
Pháp dán đắp là dùng thuốc nước, bột hoặc cao dùng ngoài thấm vào gạc vô khuẩn rồi dán đắp lên nơi bệnh. Pháp này chủ yếu dùng cho bệnh biến âm hộ hoặc vú như âm hộ sưng, âm hộ loét, sau rạch áp xe âm hộ, viêm tuyến vú cấp, hoặc hồi sữa.
Cách dùng: nếu là thuốc nước, dùng gạc vô khuẩn thấm nước thuốc rồi đắp lên nơi bệnh. Nếu là bột thuốc, có thể rắc trực tiếp lên mặt vết loét. Nếu là cao thuốc, bôi lên gạc vô khuẩn rồi đắp lên nơi bệnh, sau đó phủ gạc và cố định. Mỗi ngày hoặc cách ngày thay thuốc một lần, cho đến khi khỏi.
Ngoài ra, khi dùng ngoại trị pháp trong phụ khoa, cần tuân thủ một số nguyên tắc sau.
Tất cả chế phẩm dùng ngoài như viên đặt, cao, bột đều phải được chế bị theo quy trình thao tác tiêu chuẩn và dùng sau khi khử trùng. Tất cả nước thuốc tự sắc dùng ngoài đều phải đun sôi trên hai mươi đến ba mươi phút mới được sử dụng.
Vùng điều trị cần được làm sạch hoặc khử trùng theo quy trình thường quy.
Trong vòng ba ngày trước và sau kỳ kinh không nên dùng các ngoại trị pháp đặt hoặc can thiệp trong âm đạo. Trong thai kỳ và mới sau sinh nên hạn chế dùng ngoại trị pháp, trừ trường hợp đặc biệt cần thiết.
Trong thời gian dùng thuốc ngoài, kiêng phòng sự và không tắm bồn.
Xuất phát từ chỉnh thể quan, cần nhấn mạnh nguyên tắc kết hợp điều trị cục bộ bên ngoài với điều chỉnh toàn thân, đồng thời vẫn phải làm nổi bật biện chứng luận trị.
Phụ lục
Bài ca thuốc kỵ dùng trong thai kỳ
Khâu dẫn, ban mao, thủy điệt cùng manh trùng,
Ô đầu, phụ tử, lại phối thiên hùng,
Dã cát, thủy ngân cùng ba đậu,
Ngưu tất, ý dĩ với ngô công,
Tam lăng, nguyên hoa, đại giả, xạ hương,
Đại kích, thiền thoái, hoàng thư hùng,
Nha tiêu, mang tiêu, mẫu đơn, quế,
Hòe hoa, khiên ngưu, tạo giác cùng,
Bán hạ, nam tinh và thông thảo,
Cù mạch, can khương, đào nhân thông,
Nao sa, can tất, giải trảo giáp,
Địa đảm, mao căn đều không nên dùng.
Ghi chú
Bài ca trên liệt kê những vị thuốc cần kiêng hoặc hết sức thận trọng trong thai kỳ theo truyền thống Trung y. Khi vận dụng vào lâm sàng hiện đại, không nên hiểu máy móc, nhưng cần giữ tinh thần thận trọng. Phàm thuốc có tác dụng công phá, trục ứ mạnh, tả hạ, phá khí, hoạt huyết quá mạnh, độc tính rõ, hoặc dễ động thai đều phải cân nhắc rất kỹ, đặc biệt trong ba tháng đầu thai kỳ và ở người có thai nguyên không vững.
Nói tóm lại
Nguyên tắc điều trị bệnh phụ khoa tuy nhiều, nhưng có thể quy về bốn trục lớn: bổ Thận tư Thận, sơ Can dưỡng Can, kiện Tỳ hòa Vị, điều lý khí huyết. Thận là gốc tiên thiên, chủ sinh殖 và Thiên quý; Can tàng huyết, chủ sơ tiết, điều huyết hải; Tỳ Vị là nguồn sinh hóa khí huyết; khí huyết là vật chất căn bản của kinh, thai, sản, nhũ. Bốn trục này lại đều quy về việc điều bổ và thông lợi Xung Nhâm.
Khi lâm chứng, không nên chỉ thấy bệnh danh mà lập phương. Cần xét bệnh thuộc hư hay thực, hàn hay nhiệt, ở khí hay ở huyết, liên hệ với Thận, Can, Tỳ Vị hay nhiều tạng cùng bệnh. Có khi cần bổ Thận mà kiêm dưỡng Can; có khi cần sơ Can mà kiêm kiện Tỳ; có khi cần kiện Tỳ mà kiêm hóa thấp; có khi cần điều khí mà kiêm hoạt huyết; có khi cần chỉ huyết mà không quên tìm nguyên nhân xuất huyết.
Đối với bệnh tiền âm và một số bệnh ở âm đạo, cổ tử cung, âm hộ, có thể phối hợp ngoại trị pháp để thuốc đến trực tiếp nơi bệnh. Tuy vậy, ngoại trị không tách rời chỉnh thể quan. Cục bộ và toàn thân cần được xét chung, nội trị và ngoại trị cần phối hợp thích đáng. Đây chính là tinh thần căn bản của điều trị phụ khoa Trung y.