Tiết 1
Nguyên nhân gây bệnh
Những yếu tố dẫn đến bệnh tật ở phụ nữ có thể quy thành bốn loại lớn: tà khí lục dâm, tình chí, sinh hoạt và thể chất.
Trong các yếu tố tà khí lục dâm, hàn, nhiệt và thấp là những yếu tố thường gặp hơn cả trong phụ khoa. Về tình chí, giận, lo nghĩ và sợ hãi thường có ảnh hưởng rõ đối với bệnh phụ nữ. Về sinh hoạt, các yếu tố như kết hôn quá sớm, sinh đẻ nhiều, phòng sự không điều độ, ăn uống thất thường, lao nhàn quá mức, té ngã, chấn thương đều có thể trở thành điều kiện gây bệnh. Về thể chất, bao gồm cả yếu tố tiên thiên, chủ yếu chỉ sự mạnh yếu của cơ thể, tức thịnh suy trong hoạt động của tạng phủ, kinh lạc và khí huyết.
Tà khí lục dâm, tình chí và sinh hoạt đều là điều kiện gây bệnh. Sau khi những yếu tố ấy tác động vào cơ thể, có phát bệnh hay không, bệnh biểu hiện theo hình thức nào, mức độ nặng nhẹ ra sao và chuyển quy thế nào, đều chịu sự quyết định của yếu tố thể chất. Riêng đối với bệnh phụ khoa, sự phát sinh bệnh chứng thường được quyết định bởi thịnh suy của tạng phủ, khí huyết, bốn mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới và chức năng của Bào cung.
Tố Vấn, thiên Bình Nhiệt Bệnh Luận, nói: “Tà khí tụ đến nơi nào, nơi ấy tất có chính khí hư.” Câu này cho thấy ngoại nhân là điều kiện phát sinh biến hóa, còn nội nhân, tức thể chất và chính khí, mới là căn cứ của biến hóa. Ngoại nhân phải thông qua nội nhân mới phát huy tác dụng gây bệnh.
Sau đây lần lượt trình bày các yếu tố gây bệnh và đặc điểm gây bệnh trong phụ khoa.
Tà khí lục dâm là tên gọi chung của sáu loại tà khí: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa. Khi bình thường, chúng là lục khí tự nhiên. Khi lục khí thất thường như quá mức, không đủ, hoặc đến không đúng thời, chúng trở thành lục dâm và có thể gây bệnh.
Sáu tà đều có thể dẫn đến bệnh phụ sản. Tuy nhiên, vì phụ nữ lấy huyết làm gốc, nên hàn, nhiệt và thấp dễ cùng huyết tương bác, từ đó gây ra nhiều chứng bệnh phụ khoa. Do đó, trong phụ khoa, hàn, nhiệt, thấp thường được bàn kỹ hơn. Còn hàn, nhiệt, thấp phát sinh từ bên trong cơ thể thì phần nhiều do chức năng tạng phủ rối loạn mà sinh.
1.1. Hàn tà
Hàn là Âm tà, có tính thu dẫn, ngưng trệ, dễ làm tổn thương Dương khí và ảnh hưởng đến sự vận hành của khí huyết. Xét theo vị trí, hàn có ngoại hàn và nội hàn. Xét theo tính chất, hàn có thực hàn và hư hàn. Bốn loại này thường giao xen với nhau, nhưng khi biện chứng vẫn nên lấy hư, thực làm cương lĩnh chính.
Những nguyên nhân cụ thể khiến hàn tà gây bệnh có thể khái quát như sau.
Nếu cảm thụ hàn tà bên ngoài, dầm mưa lội nước, hoặc ăn quá nhiều đồ sống lạnh, huyết sẽ bị hàn làm ngưng, huyết hành không thông, Bào mạch bị trở trệ. Khi đó có thể xuất hiện kinh nguyệt đến muộn, thống kinh, trưng hà và các chứng do huyết bị hàn ngưng.
Nếu Dương khí của cơ thể vốn bất túc, hàn tự sinh từ bên trong, chức năng tạng phủ rối loạn, ảnh hưởng đến Xung Nhâm và Bào cung, có thể gây thống kinh, đới hạ, đau bụng khi mang thai, cung hàn bất dựng và các bệnh chứng thuộc hư hàn.
Trong phụ khoa, hàn tà thường biểu hiện ở hai phương diện. Một là hàn làm huyết ngưng, khiến đau, bế, trệ, kết. Hai là hàn làm Dương khí suy, khiến Bào cung mất sự ôn dưỡng, Xung Nhâm không được ấm, thai nguyên không vững. Vì vậy, khi gặp các chứng đau bụng dưới lạnh, kinh sắc tối có cục, kinh đến muộn, đới hạ trong loãng, sợ lạnh, tay chân lạnh, cần xét kỹ hàn tà thuộc thực hay hư, từ ngoài vào hay từ trong sinh ra.
1.2. Nhiệt tà
Nhiệt là Dương tà, có tính hao khí, thương tân, dễ làm động huyết và bức huyết đi càn. Nhiệt tà cũng có ngoại nhiệt, nội nhiệt, hư nhiệt và thực nhiệt. Khi bàn trong phụ khoa, vẫn nên lấy hư và thực làm cương lĩnh.
Nguyên nhân gây nhiệt bệnh có thể khái quát như sau. Cảm thụ nhiệt tà bên ngoài, ngũ chí quá cực hóa hỏa, hoặc dùng quá nhiều thức ăn cay nóng, chất trợ Dương, đều có thể khiến Dương nhiệt bên trong thịnh. Nếu cơ thể vốn Âm phần bất túc, Dương khí thiên thịnh, cũng có thể do Âm hư mà sinh nội nhiệt.
Nhiệt độc thuộc phạm vi thực nhiệt. Có câu “nhiệt đến cực thì thành độc”, vì vậy nhiệt độc là chứng nặng trong thực nhiệt.
Dù là thực nhiệt hay hư nhiệt, đều có thể làm tổn thương kinh mạch Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, từ đó gây ra kinh nguyệt đến sớm, băng lậu, kinh hành thổ nục, thai lậu, thai động bất an, ác lộ không dứt, sốt sau sinh và nhiều bệnh chứng khác.
Trong phụ khoa, nhiệt tà thường có ba hướng biểu hiện. Một là huyết nhiệt vọng hành, kinh đến trước kỳ, lượng nhiều, sắc đỏ tươi hoặc đỏ sẫm. Hai là nhiệt làm thương Âm, gây kinh ít, kinh bế, triều nhiệt, phiền nhiệt, ra mồ hôi trộm. Ba là thấp nhiệt hoặc nhiệt độc hạ chú, gây đới hạ vàng, hôi, âm hộ ngứa, sưng đau hoặc lở loét. Vì vậy, khi biện chứng nhiệt tà cần phân biệt thực nhiệt, hư nhiệt, thấp nhiệt và nhiệt độc.
1.3. Thấp tà
Thấp là Âm tà, có tính nặng, đục, nhầy, trệ, dễ ngăn trở khí cơ. Căn cứ vào vị trí tổn thương cơ thể, thấp tà có ngoại thấp và nội thấp.
Nếu cảm thụ thủy thấp bên ngoài, dầm mưa lội nước, hoặc ở lâu nơi ẩm thấp, khiến thấp tà xâm nhập vào trong, đó là ngoại thấp. Nếu Tỳ Dương vốn hư, vận hóa thất chức, thấp trọc thịnh ở trong; hoặc Thận Dương bất túc, khí hóa thất thường, thủy khí đình lưu, đều có thể khiến thủy thấp tụ lại, đó là nội thấp.
Thấp là Âm tà hữu hình, nên bản thân thấp tà gây bệnh không trực tiếp chia thành hư hay thực như hàn và nhiệt. Tuy nhiên, thấp có thể tùy theo thịnh suy Âm Dương của cơ thể và thời gian thấp trọc lưu lại lâu hay ngắn mà phát sinh biến hóa. Nếu theo Dương mà hóa, có thể thành thấp nhiệt. Nếu theo Âm mà hóa, có thể thành hàn thấp.
Về thấp độc, có thể do thấp khí uất kết mà thành, cũng có thể do nhiễm tà độc từ vùng âm bộ mà đến.
Nói chung, thấp tà có tính nặng đục và đi xuống. Khi thấp tà hạ chú vào Xung Nhâm, Đới mạch mất sự ước thúc, có thể gây đới hạ, âm dương, bất dựng và các bệnh chứng vùng hạ tiêu. Nếu trong thai kỳ, do ảnh hưởng của thai khí, thấp có thể gây nôn nghén, phù thũng khi mang thai và những chứng liên quan thủy thấp.
Trong phụ khoa, thấp tà rất thường gặp. Nếu thấp nhiệt hạ chú, đới hạ thường vàng, đặc, hôi, âm hộ ngứa rát. Nếu hàn thấp ngưng trệ, kinh nguyệt có thể đau, sắc tối, đới hạ trắng loãng, bụng dưới lạnh nặng. Nếu Tỳ hư thấp thịnh, thường thấy đới hạ nhiều, trắng loãng, người mệt, ăn kém, bụng đầy. Vì vậy, trị thấp trong phụ khoa không chỉ là lợi thấp, mà còn cần xét Tỳ, Thận, hàn, nhiệt và khí hóa.
Tình chí là chỉ sự biến hóa của bảy tình: vui, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ, kinh. Khi phụ nữ chịu kích thích tinh thần quá mức, tình chí biến động, trước hết thường gây bệnh ở khí phận, sau đó ảnh hưởng đến huyết phận, khiến khí huyết không hòa. Từ đó cơ thể Âm Dương mất điều hòa, chức năng tạng phủ rối loạn mà phát bệnh.
Trong nội thương thất tình, giận, lo nghĩ và sợ hãi có ảnh hưởng tương đối rõ đối với bệnh chứng phụ khoa, nên cần bàn riêng.
2.1. Giận
Uất ức, phẫn nộ thường khiến khí trệ hoặc khí nghịch. Khí trệ, khí nghịch lâu ngày sẽ dẫn đến bệnh biến ở huyết phận. Khí hành thì huyết hành, khí trệ thì huyết trệ. Vì vậy, giận dữ hoặc uất ức kéo dài có thể dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, thống kinh, bế kinh, kinh hành thổ nục, thiếu sữa, trưng hà và các chứng huyết ứ khí trệ.
Trong phụ khoa, Can khí dễ bị tình chí ảnh hưởng. Can chủ sơ tiết, lại tàng huyết và điều huyết hải. Khi Can khí uất kết, Xung Nhâm mất điều đạt, Bào cung mất thông lợi, kinh nguyệt dễ rối loạn. Nếu Can khí uất lâu hóa hỏa, nhiệt có thể nhiễu huyết, bức huyết vọng hành, làm kinh đến sớm, kinh nhiều hoặc băng lậu.
2.2. Lo nghĩ
Ưu tư, suy nghĩ không giải thường khiến khí kết. Khí kết thì khí huyết ứ trệ, có thể gây bế kinh, kinh nguyệt không đều, trưng hà và những chứng do khí huyết uất trệ.
Lo nghĩ lâu ngày cũng dễ làm tổn thương Tỳ. Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết, lại chủ thống huyết. Nếu Tỳ bị tổn thương do lo nghĩ, khí huyết sinh hóa không đủ, hoặc Tỳ khí không thống nhiếp, có thể sinh kinh ít, kinh muộn, rong kinh, băng lậu, thai không được nuôi, sau sinh thiếu sữa. Vì vậy, tình chí “tư” không chỉ làm khí kết, mà còn có thể ảnh hưởng sâu đến Tỳ Vị và khí huyết.
2.3. Sợ hãi
Kinh sợ quá độ thường khiến khí hạ hoặc khí loạn. Khí mất sự thống nhiếp và điều khiển đối với huyết, có thể dẫn đến kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, thai động bất an, đọa thai, tiểu sản và các chứng huyết không được giữ.
Sợ hãi còn dễ làm tổn thương Thận. Thận chủ tàng tinh, chủ sinh殖, Bào lạc hệ ở Thận. Nếu Thận khí bị tổn thương, Xung Nhâm không vững, thai nguyên không được cố nhiếp, có thể phát sinh thai động bất an hoặc sảy thai. Do đó, trong thai kỳ, tình chí ổn định có ý nghĩa rất quan trọng.
Yếu tố sinh hoạt vừa là điều kiện gây bệnh, vừa là điều kiện ảnh hưởng đến thể chất. Ở một mức độ nhất định, những yếu tố sinh hoạt bất điều có thể trở thành nguyên nhân quan trọng làm tổn thương thể chất.
3.1. Phòng lao và sinh đẻ nhiều
Nếu phụ nữ tiên thiên bất túc, hoặc kết hôn quá sớm, phòng sự không điều độ, sinh đẻ nhiều, nuôi con nhiều, đều có thể làm tổn thương Thận khí và hao thương khí huyết.
Thận khí bất túc, khí huyết thất điều có thể dẫn đến bệnh kinh nguyệt, bệnh đới hạ, thai động bất an, đọa thai, tiểu sản và nhiều chứng phụ khoa khác.
Trong Trung y, Thận là gốc tiên thiên, chủ sinh殖; khí huyết là cơ sở của kinh, thai, sản, nhũ. Phòng lao làm tổn Thận, sinh đẻ nhiều làm hao khí huyết. Nếu hai yếu tố này kéo dài, cơ thể dễ hình thành nền tảng hư tổn, khiến Xung Nhâm không vững, Bào cung mất nuôi dưỡng, thai không được cố nhiếp.
3.2. Ăn uống thất điều
Ăn uống quá độ, ăn quá nhiều đồ béo ngọt, ăn uống thiên lệch, hoặc hàn ôn không phù hợp, đều có thể làm tổn thương Tỳ Vị và gây nhiều bệnh.
Nếu ăn quá nhiều đồ cay nóng, chất trợ Dương, có thể gây kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt quá nhiều, kinh hành thổ nục, thai động bất an. Nếu ăn quá nhiều đồ lạnh sống, có thể gây thống kinh, bế kinh, đới hạ và các chứng hàn thấp.
Tỳ Vị là nguồn sinh hóa khí huyết. Ăn uống không điều độ làm Tỳ Vị bị tổn, khí huyết thiếu nguồn sinh hóa, hoặc thấp trọc nội sinh. Vì vậy, trong phụ khoa, ăn uống thất điều không chỉ gây bệnh tiêu hóa, mà còn ảnh hưởng đến kinh nguyệt, đới hạ, thai nghén và sữa mẹ.
3.3. Lao nhàn quá mức
Trong thời kỳ kinh nguyệt, thai nghén và sau sinh, phụ nữ cần lao động vừa phải. Nếu kinh kỳ lao lực quá mức, có thể gây kinh kỳ kéo dài hoặc kinh nguyệt quá nhiều. Nếu thai kỳ mang vác nặng, lao lực quá độ, dễ gây thai động bất an, đọa thai, tiểu sản. Ngược lại, nếu an nhàn quá mức, ít vận động, khí huyết ngưng trệ, có thể dễ sinh trệ sản. Sau sinh nếu mang vác nặng hoặc lao động quá sớm, dễ gây sa tử cung.
Điều này cho thấy lao động và nghỉ ngơi đều cần điều hòa. Quá lao thì hao khí, thương huyết, tổn Thận, động thai. Quá nhàn thì khí huyết không thông, vận hành trì trệ. Đối với phụ nữ trong các giai đoạn đặc biệt như kinh kỳ, thai kỳ, sản hậu, sự điều hòa lao nhàn càng cần được chú trọng.
3.4. Té ngã và chấn thương
Phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc thai kỳ, nếu leo cao, mang vác nặng, té ngã, va đập, trật vặn, dễ gây băng lậu, thai động bất an và các chứng tổn thương Xung Nhâm, Bào cung.
Chấn thương có thể làm huyết ứ, khí trệ, mạch lạc bị tổn. Nếu xảy ra trong thai kỳ, thai nguyên có thể bị động. Nếu xảy ra trong kinh kỳ, huyết hải đang mở, Xung Nhâm dễ bị tổn, có thể gây kinh nguyệt rối loạn, đau bụng, rong huyết hoặc băng lậu.
Thể chất của con người biểu hiện rõ ở sức chống bệnh mạnh hay yếu. Nó không chỉ quyết định các yếu tố gây bệnh nói trên có thể làm tổn thương cơ thể và dẫn đến bệnh hay không, mà còn quyết định loại bệnh phát sinh, mức độ nặng nhẹ, chuyển quy và tiên lượng.
Linh Khu, thiên Bách Bệnh Thủy Sinh, nói: bỗng gặp gió mạnh mưa lớn mà không bệnh, là vì cơ thể không hư, nên tà không thể một mình làm hại người. Câu này nói rõ tầm quan trọng của thể chất.
Đồng thời, những loại thể chất khác nhau có thể ảnh hưởng đến tính dễ cảm của cơ thể đối với từng loại nhân tố gây bệnh. Y Lý Tập Yếu của Ngô Đức Hán nói: người dễ bị phong bệnh là do biểu khí vốn hư; người dễ bị hàn bệnh là do Dương khí vốn yếu; người dễ bị nhiệt bệnh là do Âm khí vốn suy; người dễ bị thương thực là do Tỳ Vị tất hư; người dễ bị lao thương là do trung khí tất tổn. Cần biết rằng ngày phát bệnh cũng chính là lúc chính khí không đủ.
Có thể thấy, trong cùng một hoàn cảnh sinh hoạt, người thể chất mạnh khỏe có thể không bệnh khi gặp yếu tố gây bệnh, còn người thể chất yếu thì khó chịu được sự công kích của tà khí mà phát bệnh.
Do bẩm phú tiên thiên khác nhau, lại chịu ảnh hưởng của dinh dưỡng hậu thiên và thói quen sinh hoạt, con người có thể hình thành nhiều loại thể chất. Có người vốn thiên Dương thịnh, thường táo bón, lòng bàn tay bàn chân nóng. Có người vốn thiên Âm thịnh, thường đại tiện lỏng, sợ lạnh, tay chân lạnh.
Lại như cùng là tiên thiên bất túc, kết hôn sớm, sinh đẻ nhiều, phòng sự không điều, đều làm tổn thương Thận khí, nhưng kết quả bệnh lý có thể khác nhau. Có người chủ yếu bị tổn thương Mệnh môn chân hỏa, biểu hiện thành các chứng Thận Dương hư như kinh hành tiết tả do Thận Dương hư, đới hạ, tử thũng, bất dựng. Có người chủ yếu hao tổn Âm tinh chân thủy, biểu hiện thành các chứng Thận Âm hư như băng lậu do Thận Âm hư, bế kinh, các chứng quanh thời kỳ kinh đoạn, thai động bất an.
Lại như cùng cảm thụ thấp tà, nhưng do thể chất Âm Dương thịnh suy khác nhau mà kết quả cũng khác. Có người thấp tà theo Dương hóa nhiệt, biểu hiện thành các chứng thấp nhiệt như đới hạ thấp nhiệt, âm dương. Có người thấp tà theo Âm hóa hàn, biểu hiện thành hàn thấp như thống kinh, bế kinh do hàn thấp ngưng trệ.
Ngoài ra, người thể chất mạnh khỏe thường bệnh nhẹ và dễ trị. Người thể chất hư yếu thường bệnh nặng và khó khỏi.
Từ đó có thể thấy, yếu tố thể chất giữ vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển, chuyển quy và tiên lượng của bệnh tật. Đối với phụ khoa Trung y, xét thể chất không phải là phần phụ, mà là nền tảng để hiểu vì sao cùng một nguyên nhân gây bệnh nhưng mỗi người lại phát bệnh khác nhau, bệnh cơ khác nhau và phép trị cũng khác nhau.
Tiết 2
Bệnh cơ
Cơ chế bệnh lý của bệnh phụ khoa có thể khái quát thành ba phương diện lớn.
Một là chức năng tạng phủ rối loạn, ảnh hưởng đến Xung Nhâm mà gây bệnh.
Hai là khí huyết thất điều, ảnh hưởng đến Xung Nhâm mà gây bệnh.
Ba là Bào cung bị tổn thương trực tiếp, ảnh hưởng đến Xung Nhâm mà gây bệnh.
Điểm khác biệt giữa bệnh cơ phụ khoa với bệnh cơ của nội khoa, ngoại khoa và các chuyên khoa khác nằm ở chỗ: bệnh cơ phụ khoa nhất định phải liên hệ đến tổn thương Xung Nhâm, đồng thời cũng thường liên hệ đến Đốc và Đới. Về sinh lý, Bào cung thông qua Xung Nhâm, Đốc Đới mà liên hệ với toàn bộ kinh mạch. Về bệnh lý, chức năng tạng phủ rối loạn, khí huyết thất điều hoặc các tổn thương khác chỉ khi làm tổn thương chức năng của Xung Nhâm, Đốc Đới mới dẫn đến các bệnh của Bào cung như kinh, đới, thai, sản và tạp bệnh phụ khoa.
Các y gia qua nhiều đời phần nhiều đều lập luận từ điểm này. Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận khi bàn bệnh phụ nữ, các mục như nguyệt thủy bất điều, đới hạ, lậu hạ, băng trung đều lấy tổn thương Xung Nhâm làm căn cứ. Hiệu Chú Phụ Nhân Lương Phương nói: bệnh phụ nữ có ba mươi sáu loại, đều do Xung Nhâm lao tổn mà sinh, vì mạch Xung Nhâm là hội hải của mười hai kinh. Y Học Nguyên Lưu Luận nói: phàm trị phụ nữ, trước hết phải hiểu mạch Xung Nhâm; Xung Nhâm đều khởi ở Bào trung, đi lên theo trong lưng, là biển của kinh mạch. Đây là nơi huyết sinh ra và là nơi thai được hệ thuộc. Nếu hiểu rõ Xung Nhâm, thì gốc nguồn sáng tỏ; sau đó xét các bệnh sinh ra, dù ngàn mối vạn đầu cũng có thể biết chúng khởi từ đâu. Lý Thời Trân lại nói rõ hơn: thầy thuốc nếu không biết điều này thì khó nắm được bệnh cơ.
Những nhận định này đều cho thấy cần đặt “tổn thương Xung Nhâm” vào vị trí trung tâm trong bệnh cơ phụ khoa. Sau đây chỉ trình bày những cơ chế bệnh lý chủ yếu.
1.1. Thận
Thận tàng tinh, chủ sinh殖, Bào lạc hệ ở Thận. Vì vậy, Thận có quan hệ rất mật thiết với Bào cung và Xung Nhâm.
Nếu Thận khí bất túc, Xung Nhâm không vững, sức hệ giữ Bào cung suy yếu, có thể gây sa tử cung. Xung Nhâm không vững, thai mất chỗ hệ giữ, có thể gây thai động bất an. Xung Nhâm không vững, chức năng phong tàng thất thường, có thể gây băng lậu. Xung Nhâm không vững, huyết hải mất sự điều khiển, chứa và tràn thất thường, có thể gây kinh nguyệt trước sau không định kỳ. Xung Nhâm không vững, không thể nhiếp tinh thành thai, có thể gây bất dựng.
Nếu Thận Âm hao tổn, tinh thiếu huyết ít, Xung Nhâm huyết hư, huyết hải không thể đúng kỳ đầy lên, có thể gây kinh nguyệt đến muộn, kinh ít, bế kinh. Xung Nhâm huyết hư, Bào mạch mất sự nuôi dưỡng, có thể gây các chứng quanh thời kỳ kinh đoạn. Xung Nhâm huyết hư, không thể ngưng tinh thành thai, có thể gây bất dựng.
Nếu Thận Âm hao tổn, Âm hư nội nhiệt, nhiệt ẩn phục ở Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, có thể gây kinh nguyệt đến sớm, băng lậu và các chứng huyết nhiệt do hư nhiệt.
Nếu Thận Dương bất túc, Xung Nhâm mất sự ôn ấm, Bào mạch hư hàn, có thể gây đau bụng khi mang thai, thai động bất an, bất dựng. Đến kỳ kinh, huyết khí đổ xuống Xung Nhâm, Mệnh hỏa càng suy, có thể gây kinh hành tiết tả. Nếu khí hóa thất thường, thấp trọc hạ chú Xung Nhâm, Đới mạch mất sự ước thúc, có thể gây bệnh đới hạ. Trong thai kỳ, Xung Nhâm nuôi thai, thai làm trở khí cơ, thấp trọc tràn ra da cơ, có thể gây phù thũng khi mang thai.
Như vậy, bệnh cơ do Thận trong phụ khoa có thể quy thành bốn hướng lớn: Thận khí hư khiến Xung Nhâm không cố; Thận Âm hư khiến huyết hải không đầy hoặc hư nhiệt động huyết; Thận Dương hư khiến Bào cung hư hàn; Thận khí hóa bất lợi khiến thủy thấp hạ chú hoặc tràn ra.
1.2. Can
Can tàng huyết, chủ sơ tiết, tính thích điều đạt. Can có quan hệ trực tiếp với khí cơ, huyết hải, kinh nguyệt và thai nghén.
Nếu tình chí không thư thái, Can khí uất kết, huyết bị khí trệ, Xung Nhâm mất sự thông suốt, huyết hải chứa và tràn thất thường, có thể gây kinh nguyệt trước sau không định kỳ. Xung Nhâm không thông, Bào mạch trở trệ, có thể gây thống kinh, bế kinh.
Nếu Can uất hóa hỏa, nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, có thể gây băng lậu, kinh nguyệt đến sớm, kinh nhiều và các chứng huyết nhiệt. Can kinh thấp nhiệt hoặc uất hỏa hạ chú cũng có thể gây đới hạ, âm dương.
Nếu Can khí phạm Vị, trong thai kỳ Xung mạch khí thịnh lại kèm Vị khí thượng nghịch, có thể gây nôn nghén.
Nếu Can huyết bất túc, sau khi mang thai huyết tụ xuống Xung Nhâm để nuôi thai, Can huyết càng hư, Can Dương thiên cang, có thể gây chóng mặt khi mang thai. Nặng hơn, Can phong nội động có thể phát thành chứng thai sản kinh phong hoặc sản giật theo cách hiểu hiện đại.
Nói tóm lại, bệnh cơ do Can thường liên hệ đến Can khí uất, Can uất hóa hỏa, Can huyết hư và Can Dương thượng cang. Các bệnh thường thấy gồm kinh nguyệt không đều, thống kinh, bế kinh, đới hạ, âm dương, nôn nghén, thai kỳ chóng mặt và các chứng co giật trong thai kỳ.
1.3. Tỳ
Tỳ chủ vận hóa, chủ trung khí, cùng với Vị là nguồn sinh hóa khí huyết. Trong phụ khoa, Tỳ liên hệ mật thiết với sinh huyết, thống huyết, nuôi thai và hóa thấp.
Nếu Tỳ khí bất túc, Xung Nhâm không cố, huyết mất sự thống nhiếp, có thể gây kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu. Xung Nhâm không vững, thai mất chỗ nâng giữ, có thể gây thai động bất an, thai lậu, đọa thai, tiểu sản. Xung Nhâm không vững, sức hệ giữ Bào cung suy, có thể gây sa tử cung.
Nếu Tỳ hư huyết ít, nguồn hóa sinh không đủ, Xung Nhâm huyết hư, huyết hải không đúng kỳ đầy lên, có thể gây kinh nguyệt đến muộn, kinh ít, bế kinh. Xung Nhâm huyết hư, thai mất sự nuôi dưỡng, có thể gây thai động bất an, đọa thai, tiểu sản.
Nếu Tỳ Dương không phấn chấn, thấp trọc đình lưu ở trong, hạ chú Xung Nhâm, Đới mạch mất ước thúc, Nhâm mạch không cố, có thể gây bệnh đới hạ. Nếu thấp trọc nội đình, trong thai kỳ Xung mạch khí thịnh, kèm đàm ẩm thượng nghịch, có thể gây nôn nghén.
Như vậy, Tỳ bệnh trong phụ khoa thường có ba hướng: Tỳ khí hư không thống huyết, gây rong kinh, băng lậu; Tỳ hư khí huyết thiếu nguồn, gây kinh ít, bế kinh, thai không được dưỡng; Tỳ hư sinh thấp, gây đới hạ, nôn nghén do đàm thấp.
1.4. Tâm
Tâm tàng thần, chủ huyết mạch. Chức năng của Tâm ảnh hưởng đến huyết mạch, thần chí và sự điều hòa của kinh nguyệt.
Nếu ưu tư tích tụ lâu ngày, Âm huyết âm thầm hao tổn, Tâm khí không thể hạ đạt, Xung Nhâm huyết ít, huyết hải không thể đúng kỳ đầy lên, có thể gây kinh nguyệt quá ít, bế kinh. Nếu Doanh Âm bất túc, thần mất sự nuôi dưỡng, có thể gây tạng táo và các chứng quanh thời kỳ kinh đoạn.
Trong phụ khoa, Tâm không chỉ liên hệ với huyết, mà còn liên hệ với thần. Nhiều chứng rối loạn kinh nguyệt, tiền mãn kinh, sau sinh hoặc tình chí bất an có thể liên quan đến Tâm huyết hư, Tâm Âm bất túc hoặc Tâm thần không yên. Vì vậy, khi bệnh phụ khoa kèm hồi hộp, mất ngủ, hay buồn, dễ khóc, tâm phiền, cần xét đến Tâm và huyết mạch.
1.5. Phế
Phế chủ khí, chủ túc giáng, triều bách mạch và thông điều thủy đạo. Tuy Phế không phải trục chính của phụ khoa như Thận, Can, Tỳ, nhưng vẫn ảnh hưởng đến khí huyết và tân dịch toàn thân.
Nếu Âm hư Phế táo, đến kỳ kinh Âm huyết đổ xuống Xung Nhâm, Phế Âm càng hư, hư hỏa bốc lên làm tổn thương Phế lạc, có thể gây kinh hành thổ nục. Nếu trong thai kỳ Phế mất chức năng túc giáng, có thể gây ho khi mang thai.
Nếu Phế khí mất tuyên giáng, thủy đạo bất lợi, có thể phát sinh phù thũng khi mang thai, tiểu tiện không thông trong thai kỳ, hoặc tiểu tiện không thông sau sinh.
Từ đó có thể thấy, Phế bệnh trong phụ khoa chủ yếu liên hệ đến khí cơ thăng giáng, huyết theo khí mà nghịch lên, và thủy đạo không thông.
Khí huyết thất điều là một cơ chế phát bệnh rất thường gặp trong phụ sản khoa. Vì kinh nguyệt, thai nghén, sinh sản và nuôi con bằng sữa đều lấy huyết làm dụng, lại đều dễ làm hao huyết, nên cơ thể phụ nữ thường có trạng thái huyết phần tương đối bất túc, khí phần tương đối thiên dư.
Linh Khu, thiên Ngũ Âm Ngũ Vị, nói: phụ nữ sinh lý thường khí có phần dư, huyết có phần bất túc, vì nhiều lần mất huyết. Khí và huyết nương tựa nhau, sinh hóa lẫn nhau. Tổn thương huyết tất ảnh hưởng đến khí; tổn thương khí cũng ảnh hưởng đến huyết. Vì vậy, khi lâm chứng cần phân tích bệnh cơ lấy huyết làm chủ hay lấy khí làm chủ.
Nói chung, biến động tình chí chủ yếu gây bệnh ở khí phận. Tố Vấn, thiên Cử Thống Luận, nói: trăm bệnh đều sinh từ khí; giận thì khí thượng, vui thì khí hoãn, buồn thì khí tiêu, sợ thì khí hạ, kinh thì khí loạn, lao thì khí hao, nghĩ thì khí kết. Còn hàn, nhiệt, thấp tà thường chủ yếu gây bệnh ở huyết phận. Tố Vấn, thiên Điều Kinh Luận, nói hàn thấp trúng người thì da không thu, cơ nhục cứng chặt, doanh huyết bị sáp trệ. Tố Vấn, thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận, nói nhiệt thịnh thì sưng. Những câu này cho thấy hàn, nhiệt, thấp tà thường làm tổn thương doanh huyết.
Nắm được điểm này sẽ giúp truy tìm nguyên nhân và lập pháp điều trị. Sau đây trình bày cụ thể bệnh cơ khí huyết thất điều.
2.1. Tình chí biến hóa thường gây bệnh ở khí phận
Khi khí nghịch, Xung khí cũng theo đó mà đi lên. Trong thai kỳ, khí nghịch có thể gây nôn nghén. Trong kỳ kinh, khí nghịch khiến huyết đi lên, có thể gây kinh hành nục huyết hoặc thổ nục.
Khi khí hư hạ hãm, Xung Nhâm không cố, huyết mất sự thống nhiếp, có thể gây kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, ác lộ sau sinh không dứt. Xung Nhâm không cố, không thể nâng giữ thai, có thể gây thai động bất an. Xung Nhâm không cố, sức hệ giữ Bào cung suy yếu, có thể gây sa tử cung.
Khi khí kết, khí trệ thì huyết cũng trệ. Xung Nhâm mất sự thông suốt, huyết hành chậm trệ, có thể gây kinh nguyệt đến muộn, thống kinh, bế kinh. Nặng hơn, huyết kết thành khối có thể gây trưng hà.
Như vậy, bệnh ở khí phận trong phụ khoa thường biểu hiện thành khí nghịch, khí hư hạ hãm, khí trệ và khí kết. Mỗi loại lại ảnh hưởng đến Xung Nhâm và Bào cung theo cách khác nhau. Khí nghịch thì huyết dễ đi lên; khí hư thì huyết mất nhiếp; khí trệ thì huyết ứ; khí kết lâu ngày thì thành khối.
2.2. Hàn, nhiệt, thấp tà thường gây bệnh ở huyết phận
Hàn kết với huyết, huyết bị hàn làm ngưng, Xung Nhâm mất sự thông suốt, có thể gây kinh nguyệt đến muộn, kinh nguyệt quá ít, thống kinh, bế kinh, trưng hà, đau bụng sau sinh.
Nhiệt tương bác với huyết, làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, có thể gây kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, kinh đoạn rồi lại hành kinh, đọa thai, tiểu sản, sốt sau sinh, ác lộ không dứt.
Thấp làm tổn thương huyết. Gặp nhiệt thì hóa thành thấp nhiệt, làm tổn thương hai mạch Nhâm và Đới, có thể gây đới hạ, âm dương. Gặp hàn thì hóa thành hàn thấp, khách ở Xung Nhâm, huyết hành không thông, có thể gây thống kinh, bế kinh.
Trong phụ khoa, huyết phận là nơi nhiều bệnh biến phát sinh. Hàn làm huyết ngưng, nhiệt làm huyết động, thấp làm huyết trệ và làm Đới mạch mất ước thúc. Vì vậy, khi xét bệnh kinh, đới, thai, sản, cần phân biệt huyết bị hàn, huyết bị nhiệt, huyết bị thấp hay huyết ứ do khí trệ.
Trong kỳ kinh hoặc lúc sinh nở, nếu không chú ý vệ sinh, tà độc dễ xâm nhập, kết tụ ở Bào cung, làm tổn thương Xung Nhâm. Khi đó có thể gây kinh nguyệt không đều, băng lậu, đới hạ, sốt sau sinh và các chứng nhiễm tà độc.
Nếu ở lâu nơi ẩm thấp, hoặc dầm mưa lội nước, hàn thấp xâm phạm Bào cung, khách ở Xung Nhâm, huyết bị hàn thấp làm ngưng trệ, có thể gây thống kinh, bế kinh, trưng hà.
Ngoại thương, bao gồm cả tổn thương do thủ thuật trong buồng tử cung, hoặc phòng sự không điều độ, đều có thể trực tiếp làm tổn thương Bào cung, khiến Xung Nhâm mất điều hòa, dẫn đến kinh nguyệt không đều, băng lậu, thai động bất an, đọa thai, tiểu sản.
Loại bệnh cơ này có đặc điểm là bệnh tà hoặc tổn thương tác động trực tiếp vào Bào cung, rồi từ Bào cung ảnh hưởng đến Xung Nhâm. Vì vậy, trong lâm sàng cần chú ý hoàn cảnh phát bệnh: có xảy ra sau sinh, sau sảy thai, sau thủ thuật, sau giao hợp không điều độ, sau nhiễm lạnh, dầm mưa, hoặc sau khi vệ sinh không đảm bảo hay không. Những yếu tố ấy thường giúp nhận ra bệnh cơ trực tiếp tổn thương Bào cung.
Nói tóm lại
Ba loại bệnh cơ trên không tồn tại cô lập, mà thường liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau. Chức năng tạng phủ rối loạn có thể dẫn đến khí huyết thất điều. Khí huyết thất điều cũng có thể làm chức năng tạng phủ rối loạn. Bào cung bị tổn thương trực tiếp cũng có thể kéo theo rối loạn tạng phủ và khí huyết.
Vì vậy, bất kể yếu tố gây bệnh nào làm tổn thương cơ thể, bất kể bệnh biến khởi từ tạng phủ nào, ở khí hay ở huyết, phản ứng bệnh cơ cuối cùng vẫn mang tính chỉnh thể. Chỉ khi chức năng sinh lý của Xung Nhâm, thường kèm Đốc Đới, bị tổn thương, bệnh phụ sản mới phát sinh thành các chứng kinh, đới, thai, sản và tạp bệnh phụ khoa.
Hiểu được điều này, người học mới có thể từ những biến hóa phức tạp của bệnh chứng mà tìm ra then chốt bệnh cơ. Khi đã nắm được gốc là tạng phủ, khí huyết, Bào cung và Xung Nhâm Đốc Đới, việc nhận định các bệnh kinh nguyệt, đới hạ, thai nghén, hậu sản và tạp bệnh phụ khoa sẽ trở nên rõ ràng hơn, từ đó có thể đưa ra chẩn đoán và phương hướng điều trị tương đối chính xác.