Dẫn nhập
Thiên “Đại hoặc luận” nói về chữ “hoặc”: mê lầm, rối loạn, nhìn sai, thần khí không định. Nội kinh không xem “hoặc” chỉ là chuyện tâm lý, mà giải thích từ tinh khí của ngũ tạng lục phủ dồn lên mắt, mắt liên hệ não, thần thuộc Tâm, hồn phách do tạng khí nuôi giữ, vệ khí ra vào âm dương quyết định mở mắt, nhắm mắt, thức ngủ.
Thiên này rất đặc sắc vì đem mắt, não, Tâm thần, hồn phách, vệ khí, Dương kiều, Âm kiều, thượng hạ khí, Trường Vị, Tâm Phế, Tỳ Vị nối lại thành một hệ thống. Nhờ vậy, các chứng như chóng mặt, nhìn đôi, mê hoặc, hay quên, mất ngủ, ngủ nhiều, mắt không mở đều có thể hiểu theo khí cơ chứ không rời rạc.
1
黃帝問於歧伯曰:余嘗上於清冷之台,中階而顧,匍匐而前,則惑。
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Dư thường thượng ư Thanh Lãnh chi đài, trung giai nhi cố, phủ phục nhi tiền, tắc hoặc.
Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Ta từng lên đài Thanh Lãnh, đến giữa bậc thềm mà ngoảnh nhìn lại, phải bò rạp mà tiến lên, liền thấy mê hoặc.
Giải thích
Hoàng Đế kể lại một trạng thái chóng mặt, choáng, rối loạn khi lên cao và nhìn xuống hoặc nhìn lại. “Hoặc” ở đây không chỉ là nghi hoặc trong ý nghĩ, mà là thần khí, thị giác, phương hướng đều rối, khiến người mất ổn định.
余私異之,竊內怪之,獨瞑獨視,安心定氣,久而不解。
Dư tư dị chi, thiết nội quái chi, độc minh độc thị, an tâm định khí, cửu nhi bất giải.
Ta riêng lấy làm lạ, trong lòng thầm kinh ngạc; tự nhắm mắt, tự nhìn kỹ, an tâm định khí, lâu mà vẫn không giải.
Giải thích
Hoàng Đế đã cố định tâm, điều khí, nhắm mắt hoặc nhìn lại để tự điều chỉnh, nhưng chứng vẫn chưa hết. Điều này cho thấy nguồn gốc không chỉ ở ý thức muốn bình tĩnh, mà còn liên quan đến mắt, não, tinh khí và hệ mạch.
獨博獨眩,披髮長跪,俛而視之,後久之不已也。
Độc bác độc huyễn, phi phát trường quỵ, phủ nhi thị chi, hậu cửu chi bất dĩ dã.
Một mình choáng váng, một mình hoa mắt; xõa tóc, quỳ lâu, cúi xuống mà nhìn, sau đó rất lâu vẫn chưa thôi.
Giải thích
“眩” là hoa mắt chóng mặt. Cúi xuống nhìn mà vẫn không hết, chứng tỏ mắt và thần khí chưa trở lại bình thường. Nội kinh mượn trải nghiệm này để mở ra luận về mắt và não.
卒然自上,何氣使然?
Tốt nhiên tự thượng, hà khí sử nhiên?
Đột nhiên từ trên cao mà sinh ra như vậy, là do khí gì khiến nên?
歧伯對曰:五藏六府之精氣,皆上注于目而為之精。
Kỳ Bá đối viết: Ngũ tạng lục phủ chi tinh khí, giai thượng chú vu mục nhi vi chi tinh.
Kỳ Bá đáp: Tinh khí của ngũ tạng lục phủ đều rót lên mắt mà làm thành tinh minh của mắt.
Giải thích
Đây là cương lĩnh rất quan trọng: mắt không chỉ thuộc một tạng riêng, mà là nơi tinh khí của ngũ tạng lục phủ đều dồn lên. Vì vậy mắt sáng hay mờ, nhìn đúng hay sai, chóng mặt hay không, đều liên hệ toàn thân.
精之窠為眼,骨之精為瞳子,筋之精為黑眼,血之精為絡其窠,氣之精為白眼,肌肉之精為約束。
Tinh chi khoa vi nhãn, cốt chi tinh vi đồng tử, cân chi tinh vi hắc nhãn, huyết chi tinh vi lạc kỳ khoa, khí chi tinh vi bạch nhãn, cơ nhục chi tinh vi ước thúc.
Ổ của tinh làm thành mắt; tinh của xương làm thành con ngươi; tinh của gân làm thành phần mắt đen; tinh của huyết làm thành lạc mạch quanh ổ mắt; tinh của khí làm thành mắt trắng; tinh của cơ nhục làm thành sự ràng buộc giữ chặt.
Giải thích
Đoạn này phân bố các phần của mắt theo tinh của thân thể.
Tinh của xương ứng với đồng tử, vì Thận chủ cốt, tinh sinh tủy, lên thông với mắt.
Tinh của gân ứng với mắt đen, vì Can chủ cân, khai khiếu ra mắt.
Tinh của huyết làm lạc mạch quanh mắt, nuôi dưỡng mắt.
Tinh của khí làm mắt trắng, liên hệ Phế khí và phần dương khí ở ngoài.
Tinh của cơ nhục làm sự ước thúc, giữ cho mắt có hình thể và vận động ổn định.
裹擷筋骨血氣之精,而與脈并為系。
Quả hiệt cân cốt huyết khí chi tinh, nhi dữ mạch tịnh vi hệ.
Nó bao bọc, thu giữ tinh của gân, xương, huyết, khí, rồi cùng với mạch hợp lại thành hệ.
Giải thích
“Hệ” là dây hệ của mắt, tức hệ thống liên hệ mắt với não và kinh mạch. Mắt không đứng riêng, mà do tinh của gân, xương, huyết, khí, cơ nhục tụ lại, lại thông với mạch mà thành hệ thống nhìn.
上屬於腦,後出於項中。
Thượng thuộc ư não, hậu xuất ư hạng trung.
Ở trên thuộc vào não, phía sau ra ở giữa gáy.
Giải thích
Nội kinh đã thấy mắt liên hệ với não và gáy. Mắt có “mục hệ” lên thuộc não, sau thông ra vùng gáy. Vì vậy tà trúng gáy có thể ảnh hưởng não và mắt, gây chóng mặt, hoa mắt, nhìn lầm.
故邪中於項,因逢其身之虛,其入深,則隨眼系以入于腦。
Cố tà trúng ư hạng, nhân phùng kỳ thân chi hư, kỳ nhập thâm, tắc tùy nhãn hệ dĩ nhập vu não.
Cho nên tà trúng vào gáy, lại gặp lúc thân người hư, nếu vào sâu, thì theo hệ của mắt mà vào não.
Giải thích
Gáy là nơi phong tà dễ vào. Nếu chính khí hư, tà không dừng ở biểu mà vào sâu, theo mục hệ vào não. Đây là cơ chế giải thích chóng mặt, hoa mắt, mê hoặc do tà ở gáy vào sâu.
入于腦則腦轉,腦轉則引目系急。
Nhập vu não tắc não chuyển, não chuyển tắc dẫn mục hệ cấp.
Vào não thì não chuyển động; não chuyển động thì kéo làm hệ của mắt căng gấp.
目系急則目眩以轉矣。
Mục hệ cấp tắc mục huyễn dĩ chuyển hĩ.
Hệ của mắt căng gấp thì mắt hoa, mọi vật như xoay chuyển.
Giải thích
Tà vào não làm não chuyển, kéo căng mục hệ, nên sinh chóng mặt, hoa mắt, cảm giác xoay chuyển. Đây là cách Nội kinh giải thích “huyễn”: không chỉ ở mắt, mà liên hệ não, gáy và mục hệ.
邪其精,其精所中不相比也,則精散。
Tà kỳ tinh, kỳ tinh sở trúng bất tương tỷ dã, tắc tinh tán.
Tà làm rối loạn tinh; nơi tinh bị trúng không còn so hợp với nhau, thì tinh tán.
精散則視歧,視歧見兩物。
Tinh tán tắc thị kỳ, thị kỳ kiến lưỡng vật.
Tinh tán thì nhìn lệch; nhìn lệch thì thấy một vật thành hai vật.
Giải thích
Khi tinh khí của mắt không còn hội tụ, các phần của mắt không phối hợp nhau, thì thị giác phân tán, nhìn lệch, nhìn đôi. “Thị kỳ kiến lưỡng vật” là hiện tượng thấy hai hình, do tinh không quy nhất.
目者,五藏六府之精也,營衛魂魄之所常營也,神氣之所生也。
Mục giả, ngũ tạng lục phủ chi tinh dã, dinh vệ hồn phách chi sở thường doanh dã, thần khí chi sở sinh dã.
Mắt là tinh của ngũ tạng lục phủ, là nơi dinh vệ, hồn phách thường vận hành, là nơi thần khí sinh ra.
Giải thích
Mắt là nơi tinh khí tụ, cũng là nơi thần hiện. Dinh vệ vận hành, hồn phách yên định, thần khí sáng thì mắt có tinh thần. Vì vậy nhìn mắt có thể biết thần khí thịnh suy.
故神勞則魂魄散,志意亂。
Cố thần lao tắc hồn phách tán, chí ý loạn.
Cho nên thần lao nhọc thì hồn phách tán, chí ý rối loạn.
Giải thích
Lao thần quá độ làm Tâm thần không giữ, hồn phách tán loạn, ý chí không định. Khi thần khí rối, mắt cũng rối, dễ sinh mê hoặc, nhìn lầm, không định hướng.
是故瞳子黑眼法於陰,白眼赤脈法於陽也。
Thị cố đồng tử hắc nhãn pháp ư âm, bạch nhãn xích mạch pháp ư dương dã.
Cho nên đồng tử và mắt đen phỏng theo âm; mắt trắng và mạch đỏ phỏng theo dương.
Giải thích
Đồng tử, mắt đen sâu, tối, thu nhiếp, thuộc âm. Mắt trắng và mạch đỏ ở ngoài, sáng, hiện rõ, thuộc dương. Mắt có âm dương; âm dương hợp thì nhìn sáng rõ.
故陰陽合傳而精明也。
Cố âm dương hợp truyền nhi tinh minh dã.
Cho nên âm dương cùng truyền thông, hòa hợp thì tinh minh.
Giải thích
“Tinh minh” là sự sáng rõ của mắt và thần. Khi âm dương trong mắt, trong tạng phủ, trong khí huyết thông nhau, tinh thần mới sáng, nhìn mới rõ.
目者,心使也。
Mục giả, Tâm sử dã.
Mắt là sứ giả của Tâm.
心者,神之舍也,故神精亂而不轉。
Tâm giả, thần chi xá dã, cố thần tinh loạn nhi bất chuyển.
Tâm là nơi ở của thần; cho nên khi thần và tinh rối loạn thì sự vận chuyển không còn bình thường.
Giải thích
Mắt do Tâm thần sai khiến. Tâm thần định thì mắt định; Tâm thần loạn thì mắt nhìn sai, thần khí không xoay chuyển điều hòa. Vì vậy chứng “hoặc” liên hệ Tâm thần rất sâu.
卒然見非常處精神魂魄,散不相得,故曰惑也。
Tốt nhiên kiến phi thường xứ, tinh thần hồn phách, tán bất tương đắc, cố viết hoặc dã.
Đột nhiên thấy cảnh không thường, tinh, thần, hồn, phách tán ra, không hòa hợp với nhau, cho nên gọi là hoặc.
Giải thích
Khi lên cao, nhìn xuống, gặp cảnh khác thường, thần khí bị kích động; nếu thân khí hư hoặc mục hệ, não, Tâm thần không ổn, tinh thần hồn phách tán loạn, người sinh mê hoặc, chóng mặt, mất định hướng. Đó là nghĩa của “đại hoặc”.
Tiểu kết phần mắt, não và chứng mê hoặc
Phần đầu thiên này giải thích chứng “hoặc” từ mắt, não và thần.
Mắt là nơi tinh khí của ngũ tạng lục phủ rót lên.
Đồng tử do tinh của xương, mắt đen do tinh của gân, lạc quanh mắt do tinh của huyết, mắt trắng do tinh của khí, sự ràng buộc do tinh của cơ nhục.
Mắt có hệ lên thuộc não, sau ra giữa gáy. Tà trúng gáy, gặp thân hư, có thể theo mục hệ vào não, làm não chuyển, mục hệ căng, sinh hoa mắt chóng mặt.
Nếu tinh khí của mắt tán, các phần không hợp nhau, thì nhìn lệch, thấy một vật thành hai vật.
Mắt là sứ giả của Tâm; Tâm là nơi ở của thần. Thần lao thì hồn phách tán, chí ý loạn, mắt và thần đều mất định. Đột nhiên gặp cảnh khác thường khiến tinh thần hồn phách tán, không hòa hợp, gọi là “hoặc”.
Tóm lại, Nội kinh nhìn chứng mê hoặc không chỉ ở đầu óc hay mắt riêng lẻ, mà là sự rối loạn giữa mắt, não, gáy, Tâm thần, hồn phách, khí huyết và tinh của ngũ tạng lục phủ.
2
黃帝曰:余疑其然。余每之東苑,未曾不惑,去之則復,余唯獨為東苑勞神乎?何其異也?
Hoàng Đế viết: Dư nghi kỳ nhiên. Dư mỗi chi Đông Uyển, vị tằng bất hoặc, khứ chi tắc phục, dư duy độc vi Đông Uyển lao thần hồ? Hà kỳ dị dã?
Hoàng Đế nói: Ta vẫn còn nghi điều ấy. Mỗi lần ta đến Đông Uyển, chưa từng không bị mê hoặc; rời khỏi nơi ấy thì lại hồi phục. Chẳng lẽ chỉ riêng ta vì Đông Uyển mà lao thần sao? Sao lại lạ như vậy?
Giải thích
Hoàng Đế nói rõ chứng “hoặc” của mình có liên hệ với một nơi chốn nhất định: đến Đông Uyển thì phát, rời đi thì hết. Điều này cho thấy “hoặc” không chỉ do bệnh trong thân, mà còn do cảnh vật bên ngoài tác động vào Tâm thần, làm tinh khí và thị giác rối loạn.
歧伯曰:不然也。心有所喜,神有所惡,卒然相惑,則精氣亂,視誤,故惑,神移乃復。
Kỳ Bá viết: Bất nhiên dã. Tâm hữu sở hỷ, thần hữu sở ố, tốt nhiên tương hoặc, tắc tinh khí loạn, thị ngộ, cố hoặc, thần di nãi phục.
Kỳ Bá nói: Không phải như vậy. Khi Tâm có điều ưa thích, thần lại có điều ghét tránh, đột nhiên hai bên làm nhau mê loạn, thì tinh khí rối, sự nhìn bị sai lầm, cho nên sinh hoặc; khi thần chuyển đi thì lại hồi phục.
Giải thích
Đây là đoạn rất tinh tế. “Tâm hữu sở hỷ” là Tâm có chỗ ưa, bị cảnh hấp dẫn. “Thần hữu sở ố” là thần lại có điều không thuận, không yên, sinh né tránh hoặc sợ hãi. Khi ưa và ghét cùng khởi, tinh khí bị nhiễu, mắt nhìn sai, thần không định, nên sinh mê hoặc.
Khi rời khỏi cảnh ấy, thần không còn bị kích động, tinh khí dần trở lại, nên chứng hết. Vì vậy chứng “hoặc” có thể do cảnh bên ngoài động vào Tâm thần bên trong.
是故間者為迷,甚者為惑。
Thị cố gian giả vi mê, thậm giả vi hoặc.
Cho nên nhẹ thì gọi là mê, nặng thì gọi là hoặc.
Giải thích
“Mê” là mức nhẹ: lầm lẫn, chưa rõ, thần khí hơi loạn. “Hoặc” là mức nặng hơn: rối loạn rõ, nhìn sai, định hướng sai, tâm thần không tự chủ. Nội kinh phân biệt nhẹ nặng để thấy chứng này có tầng bậc, không phải chỉ một dạng.
3
黃帝曰:人之善忘者,何氣使然?
Hoàng Đế viết: Nhân chi thiện vong giả, hà khí sử nhiên?
Hoàng Đế hỏi: Người hay quên là do khí gì khiến nên?
歧伯曰:上氣不足,下氣有餘,腸胃實而心肺虛。
Kỳ Bá viết: Thượng khí bất túc, hạ khí hữu dư, Trường Vị thực nhi Tâm Phế hư.
Kỳ Bá đáp: Đó là do khí ở trên không đủ, khí ở dưới có dư; Trường Vị thực mà Tâm Phế hư.
Giải thích
Hay quên không chỉ là “não kém” theo cách nói thông thường. Nội kinh giải thích bằng khí cơ trên dưới: khí đáng lên nuôi Tâm Phế và thần minh thì không lên đủ; khí và thực trệ lại lưu ở Trường Vị bên dưới. Trên hư thì thần minh không sáng; dưới thực thì thanh khí khó thăng.
虛則營衛留於下,久之不以時上,故善忘也。
Hư tắc dinh vệ lưu ư hạ, cửu chi bất dĩ thời thượng, cố thiện vong dã.
Khi trên hư, dinh vệ lưu lại ở dưới, lâu ngày không theo đúng thời mà đi lên, cho nên hay quên.
Giải thích
Dinh vệ đáng vận hành lên xuống đúng thời để nuôi tạng phủ, thần khí và các khiếu. Nếu Tâm Phế hư, khí ở trên không đủ tiếp nhận và vận hành, dinh vệ lưu ở dưới lâu ngày, không lên nuôi Tâm thần, thì trí nhớ giảm, dễ quên.
Nói gọn, hay quên ở đây là do “trên hư dưới thực”: Tâm Phế thiếu khí, Trường Vị đầy thực, dinh vệ không thăng lên đúng lúc. Trị không chỉ bổ thần trí, mà còn phải xét Trường Vị, khí cơ thăng giáng, Tâm Phế hư thực.
Tiểu kết phần mê hoặc do cảnh và chứng hay quên
Đoạn này nói thêm hai chứng.
Thứ nhất là mê hoặc do cảnh. Khi Tâm có điều ưa, thần có điều ghét, cảnh vật bên ngoài đột nhiên kích động bên trong, tinh khí rối, mắt nhìn sai, thì sinh mê hoặc. Nhẹ gọi là mê, nặng gọi là hoặc. Rời khỏi cảnh, thần chuyển, khí định thì hồi phục.
Thứ hai là hay quên. Gốc ở thượng khí bất túc, hạ khí hữu dư; Trường Vị thực mà Tâm Phế hư. Dinh vệ lưu ở dưới lâu ngày, không lên đúng thời để nuôi Tâm thần, nên trí nhớ không bền.
Tóm lại, Nội kinh nhìn mê hoặc và hay quên đều thuộc sự không điều hòa của thần khí và khí cơ. Một bên do cảnh làm Tâm thần động, tinh khí loạn; một bên do trên dưới không giao, dinh vệ không lên, thần minh thiếu nuôi dưỡng.
4
黃帝曰:人之善飢而不嗜食者,何氣使然?
Hoàng Đế viết: Nhân chi thiện cơ nhi bất thị thực giả, hà khí sử nhiên?
Hoàng Đế hỏi: Người thường hay đói mà lại không thích ăn, là do khí gì khiến nên?
歧伯曰:精氣并於脾,熱氣留於胃,胃熱則消穀,穀消故善飢。
Kỳ Bá viết: Tinh khí tịnh ư Tỳ, nhiệt khí lưu ư Vị, Vị nhiệt tắc tiêu cốc, cốc tiêu cố thiện cơ.
Kỳ Bá đáp: Tinh khí dồn vào Tỳ, nhiệt khí lưu ở Vị. Vị có nhiệt thì làm tiêu hóa thức ăn nhanh; thức ăn tiêu nhanh nên thường hay đói.
Giải thích
“Thiện cơ” là dễ đói, hay đói. Vị chủ thu nạp, chủ tiêu hóa thủy cốc. Khi Vị có nhiệt, nhiệt làm tiêu cốc nhanh, nên người bệnh dễ có cảm giác đói. Nhưng đói không đồng nghĩa với ăn được, vì còn phải xét khí cơ của Vị có thuận hay nghịch.
胃氣逆上,則胃脘寒,故不嗜食也。
Vị khí nghịch thượng, tắc Vị quản hàn, cố bất thị thực dã.
Vị khí nghịch lên trên thì vùng Vị quản lạnh, cho nên không thích ăn.
Giải thích
Câu này nói tình trạng trên dưới không hòa trong Vị. Một mặt Vị có nhiệt nên tiêu cốc nhanh, sinh cảm giác đói; mặt khác Vị khí nghịch lên, vùng Vị quản lại lạnh, khí cơ không thuận, nên người bệnh không muốn ăn. Vì vậy mới có hiện tượng “hay đói mà không thích ăn”.
Nói gọn, đây không phải đơn thuần là ăn khỏe hay ăn kém, mà là Vị nhiệt tiêu cốc ở một mặt, Vị khí nghịch và Vị quản hàn ở mặt khác. Trị phải điều Vị khí, hòa hàn nhiệt, không nên chỉ thấy đói mà cho là thực nhiệt đơn giản.
5
黃帝曰:病而不得臥者,何氣使然?
Hoàng Đế viết: Bệnh nhi bất đắc ngọa giả, hà khí sử nhiên?
Hoàng Đế hỏi: Người bệnh mà không thể nằm ngủ được, là do khí gì khiến nên?
歧伯曰:衛氣不得入于陰,常留於陽。
Kỳ Bá viết: Vệ khí bất đắc nhập vu âm, thường lưu ư dương.
Kỳ Bá đáp: Vệ khí không vào được phần âm, thường lưu lại ở phần dương.
Giải thích
Đây là cốt lõi của chứng mất ngủ trong thiên này. Ban ngày vệ khí đi ở dương, ban đêm phải vào âm. Nếu vệ khí không vào âm mà cứ lưu ở dương, dương khí không thu, thần không yên, mắt không nhắm, nên khó ngủ.
留於陽則陽氣滿,陽氣滿則陽蹻盛,不得入于陰則陰氣虛,故目不瞑矣。
Lưu ư dương tắc dương khí mãn, dương khí mãn tắc Dương kiều thịnh, bất đắc nhập vu âm tắc âm khí hư, cố mục bất minh hĩ.
Lưu ở dương thì dương khí đầy; dương khí đầy thì Dương kiều thịnh. Không vào được âm thì âm khí hư, cho nên mắt không nhắm lại được.
Giải thích
Dương kiều mạch chủ sự vận động của phần dương, liên hệ mở mắt, tỉnh thức, hoạt động. Khi vệ khí lưu ở dương quá lâu, Dương kiều thịnh, âm khí không được nuôi, Âm phần hư, mắt không thể nhắm, người không ngủ được.
Nội kinh giải thích mất ngủ bằng sự ra vào của vệ khí: ngủ không phải chỉ do “muốn ngủ”, mà do vệ khí phải vào âm, dương phải thu, âm phải nhận. Nếu dương không vào âm, thì mắt không nhắm, thần không yên.
6
黃帝曰:病目而不得視者,何氣使然?
Hoàng Đế viết: Bệnh mục nhi bất đắc thị giả, hà khí sử nhiên?
Hoàng Đế hỏi: Người bệnh ở mắt mà không thể nhìn được, là do khí gì khiến nên?
歧伯曰:衛氣留於陰,不得行於陽。
Kỳ Bá viết: Vệ khí lưu ư âm, bất đắc hành ư dương.
Kỳ Bá đáp: Vệ khí lưu ở âm, không thể đi ra dương.
Giải thích
Đây là tình trạng ngược với mất ngủ ở trên. Mất ngủ là vệ khí lưu ở dương, không vào âm. Còn mắt nhắm không mở, không nhìn được, là vệ khí lưu ở âm, không ra dương. Dương không ra thì mắt không mở, tinh minh không phát.
留於陰則陰氣盛,陰氣盛則陰蹻滿,不得入于陽則陽氣虛,故目閉也。
Lưu ư âm tắc âm khí thịnh, âm khí thịnh tắc Âm kiều mãn, bất đắc nhập vu dương tắc dương khí hư, cố mục bế dã.
Lưu ở âm thì âm khí thịnh; âm khí thịnh thì Âm kiều đầy. Không vào được dương thì dương khí hư, cho nên mắt khép lại.
Giải thích
Âm kiều mạch liên hệ sự thu nhiếp, nhắm mắt, vào âm. Khi vệ khí lưu ở âm quá lâu, Âm kiều đầy, dương khí không ra được, mắt khép mà không mở, nhìn không rõ hoặc không muốn mở mắt. Đây là đối chứng với đoạn trước.
Tiểu kết phần hay đói không muốn ăn, mất ngủ và mắt khép
Đoạn này nói ba chứng đều do khí cơ không thuận.
Hay đói mà không thích ăn là do Vị nhiệt làm tiêu cốc nhanh nên đói, nhưng Vị khí nghịch lên, Vị quản hàn nên không muốn ăn. Một bên là nhiệt tiêu cốc, một bên là hàn nghịch ở Vị quản.
Mất ngủ là do vệ khí không vào âm, lưu ở dương; dương khí đầy, Dương kiều thịnh, âm khí hư, nên mắt không nhắm.
Mắt khép không nhìn được là do vệ khí lưu ở âm, không ra dương; âm khí thịnh, Âm kiều đầy, dương khí hư, nên mắt đóng.
Tóm lại, thức ngủ, mở mắt nhắm mắt, đói và ăn đều không tách khỏi khí cơ. Vệ khí ra dương thì tỉnh và mở mắt; vào âm thì ngủ và nhắm mắt. Nếu ra vào mất điều hòa, sẽ sinh mất ngủ hoặc ngủ mê, mắt không mở. Đây là một điểm rất sâu của thiên “Đại hoặc luận”.
7
黃帝曰:人之多臥者,何氣使然?
Hoàng Đế viết: Nhân chi đa ngọa giả, hà khí sử nhiên?
Hoàng Đế hỏi: Người hay nằm ngủ nhiều là do khí gì khiến nên?
歧伯曰:此人腸胃大而皮膚濕,而分肉不解焉。
Kỳ Bá viết: Thử nhân Trường Vị đại nhi bì phu thấp, nhi phân nhục bất giải yên.
Kỳ Bá đáp: Người ấy Trường Vị lớn, da dẻ ẩm thấp, mà khoảng phân nhục không thông lợi, không tách mở rõ.
Giải thích
“Đa ngọa” là ngủ nhiều, hay muốn nằm. Kỳ Bá không quy ngay về thần chí, mà xét hình thể và khí cơ: Trường Vị lớn, da ẩm, phân nhục không thông. Những điều này làm vệ khí vận hành chậm, lưu lại lâu, nên người dễ buồn ngủ.
腸胃大則衛氣留久;皮膚濕則分肉不解,其行遲。
Trường Vị đại tắc vệ khí lưu cửu; bì phu thấp tắc phân nhục bất giải, kỳ hành trì.
Trường Vị lớn thì vệ khí lưu lại lâu; da dẻ ẩm thấp thì khoảng phân nhục không thông mở, vệ khí vận hành chậm.
Giải thích
Vệ khí vốn đi nhanh ở ngoài mạch. Nhưng nếu Trường Vị lớn, thấp trệ, da ẩm, phân nhục không thông, thì đường đi của vệ khí trở nên chậm. Khí chậm thì thanh dương không phát, thần khí không sáng, người dễ buồn ngủ.
夫衛氣者,晝日常行於陽,夜行於陰,故陽氣盡則臥,陰氣盡則寤。
Phù vệ khí giả, trú nhật thường hành ư dương, dạ hành ư âm, cố dương khí tận tắc ngọa, âm khí tận tắc ngộ.
Vệ khí ban ngày thường đi ở dương, ban đêm đi ở âm. Vì vậy dương khí hết thì nằm ngủ; âm khí hết thì thức dậy.
Giải thích
Đây là nguyên lý thức ngủ. Ban ngày vệ khí ở dương nên người tỉnh, mắt mở, hoạt động. Ban đêm vệ khí vào âm nên người ngủ. Khi vệ khí đi hết phần âm thì lại ra dương, người thức dậy.
故腸胃大,則衛氣行留久;皮膚濕,分肉不解,則行遲。
Cố Trường Vị đại, tắc vệ khí hành lưu cửu; bì phu thấp, phân nhục bất giải, tắc hành trì.
Cho nên Trường Vị lớn thì vệ khí đi mà lưu lại lâu; da dẻ ẩm thấp, phân nhục không thông mở thì vệ khí vận hành chậm.
Giải thích
Câu này nhấn lại cơ chế: vệ khí bị giữ lại và đi chậm. Khi thấp và trệ làm đường khí không lợi, vệ khí không chuyển nhanh từ âm ra dương, nên người không tỉnh táo, chỉ muốn ngủ.
留於陰也久,其氣不清,則欲瞑,故多臥矣。
Lưu ư âm dã cửu, kỳ khí bất thanh, tắc dục minh, cố đa ngọa hĩ.
Vệ khí lưu ở âm lâu, khí ấy không trong sáng, thì muốn nhắm mắt, cho nên ngủ nhiều.
Giải thích
Khi vệ khí ở âm quá lâu, thanh dương không phát ra ngoài, mắt muốn nhắm, thần khí mờ trệ. Đây là loại ngủ nhiều do vệ khí chậm, thấp trệ, âm phần lưu lâu, không phải giấc ngủ phục hồi khỏe khoắn.
其腸胃小,皮膚滑以緩,分肉解利,衛氣之留於陽也久,故少瞑焉。
Kỳ Trường Vị tiểu, bì phu hoạt dĩ hoãn, phân nhục giải lợi, vệ khí chi lưu ư dương dã cửu, cố thiểu minh yên.
Nếu Trường Vị nhỏ, da trơn mà mềm, phân nhục thông lợi, vệ khí lưu ở dương lâu, cho nên ít nhắm mắt.
Giải thích
Đây là trường hợp ngược lại. Trường Vị không trệ, da thịt thông lợi, vệ khí dễ đi ở dương, người tỉnh nhiều, ít buồn ngủ. Nhưng “ít nhắm mắt” nếu quá mức cũng có thể thành khó ngủ. Nội kinh ở đây chỉ nêu sự khác nhau của thể chất và đường đi vệ khí.
8
黃帝曰:其非常經也,卒然多臥者,何氣使然?
Hoàng Đế viết: Kỳ phi thường kinh dã, tốt nhiên đa ngọa giả, hà khí sử nhiên?
Hoàng Đế hỏi: Trường hợp không theo thường kinh, bỗng nhiên ngủ nhiều, là do khí gì khiến nên?
歧伯曰:邪氣留於上焦,上焦閉而不通,已食若飲湯,衛氣留久於陰而不行,故卒然多臥焉。
Kỳ Bá viết: Tà khí lưu ư Thượng tiêu, Thượng tiêu bế nhi bất thông, dĩ thực nhược ẩm thang, vệ khí lưu cửu ư âm nhi bất hành, cố tốt nhiên đa ngọa yên.
Kỳ Bá đáp: Tà khí lưu ở Thượng tiêu, Thượng tiêu bế mà không thông. Sau khi ăn hoặc uống nước canh, vệ khí lưu lâu ở âm mà không vận hành, cho nên bỗng nhiên ngủ nhiều.
Giải thích
Đây là chứng ngủ nhiều đột ngột, không phải do thể chất thường ngày. Tà khí bế ở Thượng tiêu làm khí không thông; sau ăn uống, khí của thủy cốc và vệ khí phải vận hành, nhưng vì Thượng tiêu bế, vệ khí bị lưu ở âm, không ra dương, nên người đột nhiên buồn ngủ nhiều.
Điểm này rất gần với kinh nghiệm thường thấy: sau ăn, nếu Tỳ Vị và Thượng tiêu không thông, thấp trệ, đàm trọc, khí bế, thì người dễ nặng đầu, buồn ngủ. Nội kinh quy về vệ khí lưu âm không hành.
9
黃帝曰:善。治此諸邪,奈何?
Hoàng Đế viết: Thiện. Trị thử chư tà, nại hà?
Hoàng Đế nói: Hay thay. Vậy trị các loại tà ấy như thế nào?
歧伯曰:先其藏府,誅其小過,後調其氣。
Kỳ Bá viết: Tiên kỳ tạng phủ, tru kỳ tiểu quá, hậu điều kỳ khí.
Kỳ Bá đáp: Trước hết phải xét tạng phủ, trừ bỏ những sai lệch nhỏ, sau đó điều hòa khí của người bệnh.
Giải thích
Trị các chứng mê hoặc, hay quên, đói mà không muốn ăn, mất ngủ, mắt không mở, ngủ nhiều, không thể chỉ trị triệu chứng. Phải xét tạng phủ nào hư thực, khí cơ nào nghịch, vệ khí đang lưu ở âm hay dương, rồi sửa từng chỗ sai nhỏ trước, sau mới điều khí toàn cục.
盛者寫之,虛者補之。
Thịnh giả tả chi, hư giả bổ chi.
Chỗ thịnh thì tả, chỗ hư thì bổ.
Giải thích
Đây là nguyên tắc căn bản. Dương thịnh, vệ khí lưu ở dương thì phải tả phần thịnh, dẫn khí vào âm. Âm thịnh, vệ khí lưu ở âm thì phải thông dương. Tâm Phế hư thì bổ, Trường Vị thực thì điều và thông. Không được thấy cùng một triệu chứng mà dùng cùng một phép.
必先明知其形志之苦樂,定乃取之。
Tất tiên minh tri kỳ hình chí chi khổ lạc, định nãi thủ chi.
Nhất định trước phải biết rõ hình thể và chí ý của người ấy khổ hay vui, rồi định chắc mới lấy huyệt mà trị.
Giải thích
“Hình” là thân thể, thể chất, béo gầy, ẩm khô, hư thực. “Chí” là tình chí, thần khí, vui buồn, ưa ghét, lao thần hay an định. Nội kinh dặn trước khi trị phải hiểu cả hình và chí, vì các chứng trong thiên này đều liên quan rất sâu đến thân tâm: mắt và não, Tâm thần, hồn phách, Trường Vị, vệ khí, âm dương.
Tiểu kết phần ngủ nhiều và phép trị
Người ngủ nhiều thường do Trường Vị lớn, da ẩm thấp, phân nhục không thông, khiến vệ khí lưu lại lâu và vận hành chậm. Vệ khí lưu ở âm lâu, khí không thanh, mắt muốn nhắm, nên ngủ nhiều.
Người bỗng nhiên ngủ nhiều không theo thường lệ thường do tà khí lưu ở Thượng tiêu, Thượng tiêu bế không thông; sau ăn uống, vệ khí lưu lâu ở âm mà không hành, nên đột nhiên buồn ngủ.
Phép trị các chứng trong thiên này là: trước xét tạng phủ, sửa sai lệch nhỏ, sau điều khí; thịnh thì tả, hư thì bổ; nhất định phải biết rõ hình thể và tình chí của người bệnh rồi mới chọn phép trị.
Tổng kết thiên 《大惑論》
Thiên “Đại hoặc luận” lấy chứng mê hoặc làm đầu mối để bàn rộng về mắt, não, Tâm thần, hồn phách, vệ khí và thức ngủ.
Mắt là nơi tinh khí ngũ tạng lục phủ rót lên. Đồng tử, mắt đen, mắt trắng, lạc mạch quanh mắt, sự ràng buộc của mắt đều do tinh của xương, gân, khí, huyết, cơ nhục hợp lại. Mắt có hệ lên não, sau thông với gáy. Tà trúng gáy, gặp thân hư, theo mục hệ vào não thì não chuyển, mục hệ căng, sinh hoa mắt chóng mặt.
Mắt cũng là sứ giả của Tâm. Tâm là nơi ở của thần. Khi thần lao, hồn phách tán, chí ý loạn, tinh khí của mắt không hợp, thì sinh nhìn lầm, nhìn đôi, mê hoặc. Cảnh vật bên ngoài nếu làm Tâm có chỗ ưa, thần có chỗ ghét, tinh khí rối thì nhẹ là mê, nặng là hoặc.
Thiên này cũng giải thích hay quên là do thượng khí bất túc, hạ khí hữu dư, Trường Vị thực mà Tâm Phế hư, dinh vệ lưu ở dưới không lên đúng thời để nuôi thần minh.
Hay đói mà không thích ăn là do Vị nhiệt tiêu cốc nên dễ đói, nhưng Vị khí nghịch lên làm Vị quản hàn nên không muốn ăn.
Mất ngủ là do vệ khí không vào âm, lưu ở dương, Dương kiều thịnh, âm khí hư nên mắt không nhắm. Mắt khép không nhìn được là do vệ khí lưu ở âm, không ra dương, Âm kiều đầy, dương khí hư nên mắt đóng.
Ngủ nhiều là do vệ khí lưu ở âm lâu, khí không thanh; hoặc do Trường Vị lớn, da ẩm, phân nhục không thông làm vệ khí đi chậm; hoặc do tà khí bế ở Thượng tiêu, sau ăn uống vệ khí không hành mà lưu âm.
Tóm lại
Ý nghĩa chủ yếu của thiên này là: thần trí, thị giác và giấc ngủ không tách khỏi khí huyết, tạng phủ, vệ khí và âm dương. Mắt sáng là tinh của ngũ tạng lục phủ hội tụ; ngủ thức là vệ khí ra vào âm dương; trí nhớ là thượng khí và Tâm Phế được nuôi; đói ăn là Tỳ Vị hàn nhiệt thuận nghịch.
Vì vậy trị các chứng mê hoặc, hay quên, mất ngủ, ngủ nhiều, mắt không mở, không thể chỉ nhìn một triệu chứng. Phải xét tạng phủ, hình thể, tình chí, hư thực, khí cơ trên dưới, vệ khí ở âm hay dương. Thịnh thì tả, hư thì bổ, nhưng trước hết phải hiểu người bệnh là ai, hình chí khổ lạc thế nào, rồi mới định phép trị.