Bàn về chân khí tự nhiên của người thời thượng cổ
Câu 1
昔在黄帝,生而神灵,弱而能言,幼而徇齐,长而敦敏,成而登天。乃问于天师曰:余闻上古之人,春秋皆度百岁,而动作不衰;今时之人,年半百而动作皆衰者,时世异耶,人将失之耶?歧伯对曰:上古之人,其知道者,法于阴阳,和于术数,食饮有节,起居有常,不妄作劳,故能形与神俱,而尽终其天年,度百岁乃去。今时之人不然也,以酒为浆,以妄为常,醉以入房,以欲竭其精,以耗散其真,不知持满,不时御神,务快其心,逆于生乐,起居无节,故半百而衰也。
Hán Việt
Tích tại Hoàng Đế, sinh nhi thần linh, nhược nhi năng ngôn, ấu nhi tuần tề, trưởng nhi đôn mẫn, thành nhi đăng thiên. Nãi vấn vu Thiên sư viết: Dư văn thượng cổ chi nhân, xuân thu giai độ bách tuế, nhi động tác bất suy; kim thời chi nhân, niên bán bách nhi động tác giai suy giả, thời thế dị da, nhân tương thất chi da? Kỳ Bá đối viết: Thượng cổ chi nhân, kỳ tri đạo giả, pháp vu âm dương, hòa vu thuật số, thực ẩm hữu tiết, khởi cư hữu thường, bất vọng tác lao, cố năng hình dữ thần câu, nhi tận chung kỳ thiên niên, độ bách tuế nãi khứ. Kim thời chi nhân bất nhiên dã, dĩ tửu vi tương, dĩ vọng vi thường, túy dĩ nhập phòng, dĩ dục kiệt kỳ tinh, dĩ hao tán kỳ chân, bất tri trì mãn, bất thời ngự thần, vụ khoái kỳ tâm, nghịch vu sinh lạc, khởi cư vô tiết, cố bán bách nhi suy dã.
Dịch nghĩa
Ngày xưa, Hoàng Đế sinh ra đã có thần minh, khi còn nhỏ yếu đã biết nói, lúc thơ ấu đã thông tuệ lanh lợi, khi trưởng thành thì đôn hậu sáng suốt, đến tuổi thành nhân thì lên ngôi thiên tử. Ngài bèn hỏi Thiên sư rằng:
Ta nghe người thời thượng cổ tuổi đều vượt quá trăm năm mà động tác vẫn không suy yếu. Người đời nay mới đến nửa trăm tuổi mà động tác đều đã suy, đó là do thời thế khác xưa, hay là do con người đã đánh mất đạo dưỡng sinh?
Kỳ Bá đáp rằng:
Người thời thượng cổ, những ai biết Đạo, đều noi theo âm dương, điều hòa với thuật số, ăn uống có tiết độ, sinh hoạt có thường quy, không lao lực bừa bãi, cho nên hình thể và tinh thần cùng được bảo toàn, sống trọn tuổi trời, qua trăm tuổi mới mất.
Người đời nay thì không như vậy. Họ lấy rượu làm nước uống, lấy phóng túng làm thường lệ, say rồi vào phòng thất, vì dục vọng mà làm kiệt tinh, làm hao tán chân khí, không biết giữ gìn khi còn đầy đủ, không biết tùy thời điều dưỡng tinh thần, chỉ cốt làm khoái ý mình, đi ngược lại niềm vui sinh dưỡng của sự sống, ăn ở không có tiết độ, cho nên mới đến nửa trăm tuổi đã suy yếu.
Giải thích từ ngữ
Thượng cổ (上古): thời rất xa xưa, trong văn cảnh này chỉ thời con người còn sống thuận với đạo tự nhiên.
Thiên chân (天真): chân khí tự nhiên do trời phú, cũng có thể hiểu là tinh khí nguyên sơ của sinh mệnh.
Pháp vu âm dương (法於陰陽): noi theo quy luật âm dương, biết thuận theo ngày đêm, nóng lạnh, động tĩnh, bốn mùa.
Hòa vu thuật số (和於術數): điều hòa thân tâm theo các phép dưỡng sinh, vận khí, điều tức, sinh hoạt có phương pháp.
Hình dữ thần câu (形與神俱): hình thể và tinh thần cùng được bảo toàn.
Bất vọng tác lao (不妄作勞): không lao lực tùy tiện, không làm việc quá sức, không tiêu hao khí huyết vô độ.
Dĩ tửu vi tương (以酒為漿): xem rượu như nước uống thường ngày, ý nói uống rượu quá độ.
Dĩ vọng vi thường (以妄為常): lấy sự phóng túng, trái đạo làm nếp sống bình thường.
Túy dĩ nhập phòng (醉以入房): say rượu rồi hành phòng, làm tổn thương tinh khí rất nặng.
Trì mãn (持滿): giữ gìn khi tinh khí còn sung mãn, biết phòng hao tổn trước khi suy kiệt.
Ngự thần (御神): điều phục tinh thần, giữ thần khí không tán loạn.
Câu 2
夫上古圣人之教下也,皆谓之虚邪贼风,避之有时,恬惔虚无,真气从之,精神内守,病安从来。是以志闲而少欲,心安而不惧,形劳而不倦,气从以顺,各从其欲,皆得所愿。故美其食,任其服,乐其俗,高下不相慕,其民故曰朴。是以嗜欲不能劳其目,淫邪不能惑其心,愚智贤不肖不惧于物,故合于道。所以能年皆度百岁,而动作不衰者,以其德全不危也。
Hán Việt
Phù thượng cổ Thánh nhân chi giáo hạ dã, giai vị chi hư tà tặc phong, tị chi hữu thời, điềm đạm hư vô, chân khí tòng chi, tinh thần nội thủ, bệnh an tòng lai. Thị dĩ chí nhàn nhi thiểu dục, tâm an nhi bất cụ, hình lao nhi bất quyện, khí tòng dĩ thuận, các tòng kỳ dục, giai đắc sở nguyện. Cố mỹ kỳ thực, nhậm kỳ phục, lạc kỳ tục, cao hạ bất tương mộ, kỳ dân cố viết phác. Thị dĩ thị dục bất năng lao kỳ mục, dâm tà bất năng hoặc kỳ tâm, ngu trí hiền bất tiếu bất cụ vu vật, cố hợp vu đạo. Sở dĩ năng niên giai độ bách tuế, nhi động tác bất suy giả, dĩ kỳ đức toàn bất nguy dã.
Dịch nghĩa
Bậc Thánh nhân thời thượng cổ dạy dân dưới quyền mình rằng: đối với hư tà tặc phong, phải biết tránh né đúng thời. Giữ lòng điềm đạm, hư tĩnh, chân khí sẽ thuận theo; tinh thần giữ ở bên trong, bệnh từ đâu mà đến được?
Bởi vậy, chí ý nhàn tĩnh mà ít ham muốn, tâm an mà không sợ hãi, thân có lao động mà không mỏi mệt, khí thuận theo mà điều hòa. Ai nấy thuận theo điều mình mong muốn, đều được thỏa lòng. Vì thế họ thấy thức ăn của mình là ngon, y phục của mình là vừa ý, phong tục của mình là vui, người ở trên hay ở dưới không ganh mộ lẫn nhau, nên dân chúng thời ấy được gọi là chất phác.
Do đó, thị dục không thể làm mệt mắt họ, dâm tà không thể làm mê hoặc tâm họ. Người ngu hay người trí, người hiền hay người kém, đều không bị ngoại vật làm cho sợ hãi, cho nên hợp với Đạo. Sở dĩ họ có thể sống quá trăm tuổi mà động tác không suy, là vì đức của họ toàn vẹn, không bị nguy tổn.
Giải thích từ ngữ
Hư tà tặc phong (虛邪賊風): tà khí nhân chỗ hư mà xâm nhập; phong tà có tính làm hại người, thường chỉ khí hậu bất chính, trái mùa.
Tị chi hữu thời (避之有時): tránh tà khí đúng lúc, biết lúc nào nên tránh gió lạnh, thấp khí, nóng nực, lao lực.
Điềm đạm hư vô (恬惔虛無): tâm yên lặng, ít ham muốn, không bị ngoại vật làm rối.
Chân khí tòng chi (真氣從之): chân khí theo đó mà điều hòa, vận hành thuận lợi.
Tinh thần nội thủ (精神內守): tinh và thần giữ ở bên trong, không hao tán ra ngoài.
Chí nhàn nhi thiểu dục (志閒而少欲): chí ý thanh nhàn, ham muốn ít.
Hình lao nhi bất quyện (形勞而不倦): thân thể có hoạt động, có lao động, nhưng không quá mức nên không mỏi mệt.
Mỹ kỳ thực, nhậm kỳ phục, lạc kỳ tục (美其食,任其服,樂其俗): biết vui với điều bình dị, ăn thấy ngon, mặc thấy vừa, sống yên với phong tục của mình.
Phác (朴): chất phác, giản dị, không bị dục vọng và so sánh làm nhiễu loạn.
Đức toàn bất nguy (德全不危): đức và đạo dưỡng sinh đầy đủ, chính khí không bị nguy tổn.
Câu 3
帝曰:人年老而无子者,材力尽邪,将天数然也。歧伯曰:女子七岁,肾气盛,齿更发长;二七而天癸至,任脉通,太冲脉盛,月事以时下,故有子;三七,肾气平均,故真牙生而长极;四七,筋骨坚,发长极,身体盛壮;五七,阳明脉衰,面始焦,发始堕;六七,三阳脉衰于上,面皆焦,发始白;七七,任脉虚,太冲脉衰少,天癸竭,地道不通,故形坏而无子也。丈夫八岁,肾气实,发长齿更;二八,肾气盛,天癸至,精气溢写,阴阳和,故能有子;三八,肾气平均,筋骨劲强,故真牙生而长极;四八,筋骨隆盛,肌肉满壮;五八,肾气衰,发堕齿槁;六八,阳气衰竭于上,面焦,发鬓颁白;七八,肝气衰,筋不能动,天癸竭,精少,肾藏衰,形体皆极;八八,则齿发去,肾者主水,受五藏六府之精而藏之,故五藏盛,乃能写。今五藏皆衰,筋骨解堕,天癸尽矣。故发鬓白,身体重,行步不正,而无子耳。帝曰:有其年已老而有子者何也。歧伯曰:此其天寿过度,气脉常通,而肾气有馀也。此虽有子,男不过尽八八,女不过尽七七,而天地之精气皆竭矣。帝曰:夫道者年皆百数,能有子乎。歧伯曰:夫道者能却老而全形,身年虽寿,能生子也。
Hán Việt
Đế viết: Nhân niên lão nhi vô tử giả, tài lực tận da, tương thiên số nhiên dã? Kỳ Bá viết: Nữ tử thất tuế, Thận khí thịnh, xỉ canh phát trưởng; nhị thất nhi thiên quý chí, Nhâm mạch thông, Thái xung mạch thịnh, nguyệt sự dĩ thời hạ, cố hữu tử; tam thất, Thận khí bình quân, cố chân nha sinh nhi trưởng cực; tứ thất, cân cốt kiên, phát trưởng cực, thân thể thịnh tráng; ngũ thất, Dương minh mạch suy, diện thủy tiêu, phát thủy đọa; lục thất, tam dương mạch suy vu thượng, diện giai tiêu, phát thủy bạch; thất thất, Nhâm mạch hư, Thái xung mạch suy thiểu, thiên quý kiệt, địa đạo bất thông, cố hình hoại nhi vô tử dã. Trượng phu bát tuế, Thận khí thực, phát trưởng xỉ canh; nhị bát, Thận khí thịnh, thiên quý chí, tinh khí dật tả, âm dương hòa, cố năng hữu tử; tam bát, Thận khí bình quân, cân cốt kính cường, cố chân nha sinh nhi trưởng cực; tứ bát, cân cốt long thịnh, cơ nhục mãn tráng; ngũ bát, Thận khí suy, phát đọa xỉ cảo; lục bát, dương khí suy kiệt vu thượng, diện tiêu, phát tấn ban bạch; thất bát, Can khí suy, cân bất năng động, thiên quý kiệt, tinh thiểu, Thận tạng suy, hình thể giai cực; bát bát, tắc xỉ phát khứ. Thận giả chủ thủy, thụ ngũ tạng lục phủ chi tinh nhi tàng chi, cố ngũ tạng thịnh, nãi năng tả. Kim ngũ tạng giai suy, cân cốt giải đọa, thiên quý tận hĩ. Cố phát tấn bạch, thân thể trọng, hành bộ bất chính, nhi vô tử nhĩ. Đế viết: Hữu kỳ niên dĩ lão nhi hữu tử giả hà dã? Kỳ Bá viết: Thử kỳ thiên thọ quá độ, khí mạch thường thông, nhi Thận khí hữu dư dã. Thử tuy hữu tử, nam bất quá tận bát bát, nữ bất quá tận thất thất, nhi thiên địa chi tinh khí giai kiệt hĩ. Đế viết: Phù đạo giả niên giai bách số, năng hữu tử hồ? Kỳ Bá viết: Phù đạo giả năng khước lão nhi toàn hình, thân niên tuy thọ, năng sinh tử dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Người già mà không có con, là do tài lực đã hết, hay là do số trời vốn như vậy?
Kỳ Bá đáp:
Nữ giới đến bảy tuổi thì Thận khí thịnh, răng thay, tóc dài. Hai lần bảy, tức mười bốn tuổi, thì thiên quý đến, Nhâm mạch thông, Thái xung mạch thịnh, kinh nguyệt xuống đúng kỳ, cho nên có thể sinh con.
Ba lần bảy, tức hai mươi mốt tuổi, Thận khí quân bình, cho nên răng thật mọc và phát triển đầy đủ.
Bốn lần bảy, tức hai mươi tám tuổi, gân xương bền chắc, tóc dài đến cực độ, thân thể sung thịnh khỏe mạnh.
Năm lần bảy, tức ba mươi lăm tuổi, mạch Dương minh suy, mặt bắt đầu khô sạm, tóc bắt đầu rụng.
Sáu lần bảy, tức bốn mươi hai tuổi, ba mạch dương suy ở phần trên, sắc mặt đều khô sạm, tóc bắt đầu bạc.
Bảy lần bảy, tức bốn mươi chín tuổi, Nhâm mạch hư, Thái xung mạch suy yếu, thiên quý kiệt, đường sinh dục không thông, cho nên hình thể suy hoại mà không còn sinh con được.
Nam giới đến tám tuổi thì Thận khí thực, tóc dài, răng thay.
Hai lần tám, tức mười sáu tuổi, Thận khí thịnh, thiên quý đến, tinh khí đầy tràn mà tiết ra, âm dương hòa hợp, cho nên có thể sinh con.
Ba lần tám, tức hai mươi bốn tuổi, Thận khí quân bình, gân xương cứng mạnh, răng thật mọc và phát triển đầy đủ.
Bốn lần tám, tức ba mươi hai tuổi, gân xương hưng thịnh, cơ nhục đầy chắc.
Năm lần tám, tức bốn mươi tuổi, Thận khí suy, tóc rụng, răng khô.
Sáu lần tám, tức bốn mươi tám tuổi, dương khí suy kiệt ở phần trên, mặt khô sạm, tóc mai hoa râm.
Bảy lần tám, tức năm mươi sáu tuổi, Can khí suy, gân không còn vận động linh hoạt, thiên quý kiệt, tinh ít, Thận tạng suy, hình thể đều đến mức suy cực.
Tám lần tám, tức sáu mươi bốn tuổi, răng và tóc rụng.
Thận chủ thủy, tiếp nhận tinh của năm tạng sáu phủ mà tàng giữ. Vì vậy, năm tạng thịnh thì tinh mới có thể tiết ra. Nay năm tạng đều suy, gân xương lỏng yếu, thiên quý đã hết, cho nên tóc mai bạc, thân thể nặng nề, đi đứng không vững, và không còn sinh con được.
Hoàng Đế hỏi:
Có người tuổi đã già mà vẫn có con, là vì sao?
Kỳ Bá đáp:
Đó là vì tuổi trời của người ấy vượt quá mức thường, khí mạch thường thông, Thận khí còn dư. Tuy người ấy còn có thể sinh con, nhưng nam không quá hết tám lần tám, nữ không quá hết bảy lần bảy; đến đó thì tinh khí của trời đất đều đã kiệt.
Hoàng Đế hỏi:
Người đắc Đạo tuổi đều trên trăm, vậy có thể sinh con được chăng?
Kỳ Bá đáp:
Người đắc Đạo có thể đẩy lùi sự già yếu mà giữ toàn hình thể. Tuy tuổi thọ đã cao, vẫn có thể sinh con.
Giải thích từ ngữ
Thận khí (腎氣): khí của Thận, chủ sinh trưởng, phát dục, sinh sản, xương tủy, răng tóc và sự suy lão.
Thiên quý (天癸): vật chất tinh vi liên quan đến khả năng sinh sản; ở nữ biểu hiện qua kinh nguyệt, ở nam liên quan đến tinh khí sinh dục.
Nhâm mạch (任脈): một mạch quan trọng trong kỳ kinh bát mạch, chủ bào cung và sinh sản ở nữ.
Thái xung mạch (太衝脈): thường hiểu là Xung mạch, biển của huyết, có quan hệ mật thiết với kinh nguyệt và sinh dục.
Nguyệt sự (月事): kinh nguyệt.
Địa đạo bất thông (地道不通): đường sinh dục và kinh nguyệt không còn thông hành; ở nữ thường chỉ kinh nguyệt dứt, khả năng sinh sản suy kiệt.
Chân nha (真牙): răng vĩnh viễn, răng thật sau khi thay răng sữa.
Ngũ tạng lục phủ chi tinh (五藏六府之精): tinh khí của năm tạng sáu phủ, được Thận thu nhận và tàng giữ.
Khước lão toàn hình (卻老全形): đẩy lùi sự già yếu, giữ cho hình thể được toàn vẹn.
Câu 4
黄帝曰:余闻上古有真人者,提挈天地,把握阴阳,呼吸精气,独立守神,肌肉若一,故能寿敝天地,无有终时,此其道生。中古之时,有至人者,淳德全道,和于阴阳,调于四时,去世离俗,积精全神,游行天地之间,视听八达之外,此盖益其寿命而强者也,亦归于真人。其次有圣人者,处天地之和,从八风之理,适嗜欲于世俗之间,无恚嗔之心,行不欲离于世,被服章,举不欲观于俗,外不劳形于事,内无思想之患,以恬愉为务,以自得为功,形体不敝,精神不散,亦可以百数。其次有贤人者,法则天地,象似日月,辩列星辰,逆从阴阳,分别四时,将从上古合同于道,亦可使益寿而有极时。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Dư văn thượng cổ hữu Chân nhân giả, đề khiết thiên địa, bả ác âm dương, hô hấp tinh khí, độc lập thủ thần, cơ nhục nhược nhất, cố năng thọ tệ thiên địa, vô hữu chung thời, thử kỳ đạo sinh. Trung cổ chi thời, hữu Chí nhân giả, thuần đức toàn đạo, hòa vu âm dương, điều vu tứ thời, khứ thế ly tục, tích tinh toàn thần, du hành thiên địa chi gian, thị thính bát đạt chi ngoại, thử cái ích kỳ thọ mệnh nhi cường giả dã, diệc quy vu Chân nhân. Kỳ thứ hữu Thánh nhân giả, xử thiên địa chi hòa, tòng bát phong chi lý, thích thị dục vu thế tục chi gian, vô khuể sân chi tâm, hành bất dục ly vu thế, bị phục chương, cử bất dục quan vu tục, ngoại bất lao hình vu sự, nội vô tư tưởng chi hoạn, dĩ điềm du vi vụ, dĩ tự đắc vi công, hình thể bất tệ, tinh thần bất tán, diệc khả dĩ bách số. Kỳ thứ hữu Hiền nhân giả, pháp tắc thiên địa, tượng tự nhật nguyệt, biện liệt tinh thần, nghịch tòng âm dương, phân biệt tứ thời, tương tòng thượng cổ hợp đồng vu đạo, diệc khả sử ích thọ nhi hữu cực thời.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta nghe thời thượng cổ có bậc Chân nhân, nâng giữ trời đất, nắm vững âm dương, hô hấp tinh khí, độc lập mà giữ thần, cơ nhục như một, cho nên tuổi thọ có thể cùng trời đất lâu dài, không có lúc chấm dứt. Đó là bậc sống theo Đạo.
Thời trung cổ có bậc Chí nhân, đức thuần hậu, đạo toàn vẹn, hòa với âm dương, điều theo bốn mùa, rời bỏ thế tục, tích chứa tinh khí, giữ toàn tinh thần, đi lại giữa trời đất, nghe nhìn vượt ngoài tám phương. Những người ấy tăng thêm tuổi thọ, làm thân thể mạnh mẽ, cũng gần với bậc Chân nhân.
Kế đó là bậc Thánh nhân, ở trong sự hòa của trời đất, thuận theo lý của tám thứ gió, điều hòa ham muốn trong đời sống thế tục, không có lòng oán giận. Hành xử không nhất thiết lìa khỏi thế gian, mặc y phục theo khuôn phép, cử động không mong phô bày trước tục đời. Bên ngoài không để công việc làm nhọc hình thể, bên trong không có mối lo nghĩ làm tổn thần. Lấy điềm tĩnh vui hòa làm việc chính, lấy tự được nơi mình làm công phu, nên hình thể không suy bại, tinh thần không tán mất, cũng có thể sống đến trên trăm tuổi.
Kế nữa là bậc Hiền nhân, noi theo phép tắc của trời đất, mô phỏng mặt trời mặt trăng, phân biệt tinh tú, thuận nghịch theo âm dương, phân chia bốn mùa, muốn theo thời thượng cổ mà hợp cùng Đạo. Những người ấy cũng có thể tăng thêm tuổi thọ, nhưng vẫn có lúc giới hạn.
Giải thích từ ngữ
Chân nhân (真人): bậc đạt đạo cao nhất trong quan niệm dưỡng sinh cổ, tinh thần và hình thể hợp với tự nhiên.
Đề khiết thiên địa (提挈天地): nâng giữ, nắm lấy khí cơ của trời đất; ý nói hòa hợp và làm chủ quy luật lớn của tự nhiên.
Bả ác âm dương (把握陰陽): nắm vững sự vận hành của âm dương.
Hô hấp tinh khí (呼吸精氣): hô hấp điều hòa, thu nạp tinh khí thanh trong của trời đất.
Độc lập thủ thần (獨立守神): giữ thần không tán, nội tâm độc lập, không bị ngoại vật lôi kéo.
Cơ nhục nhược nhất (肌肉若一): hình thể, cơ nhục điều hòa như một khối thống nhất, không rời rạc suy tán.
Chí nhân (至人): bậc người đạt đến mức rất cao, đức thuần, đạo toàn, tuy chưa tuyệt đối như Chân nhân nhưng gần với Chân nhân.
Thánh nhân (聖人): người hiểu đạo trời đất, sống thuận tự nhiên mà vẫn ở trong nhân gian.
Hiền nhân (賢人): người hiền trí, biết noi theo trời đất, bốn mùa, âm dương để dưỡng sinh.
Bát phong (八風): tám loại gió từ tám phương, cũng chỉ các biến động khí hậu có thể thuận hoặc nghịch với thân thể.
Nhận xét chung
Thiên Thượng cổ thiên chân luận mở đầu Hoàng Đế Nội Kinh bằng một tinh thần rất căn bản: tuổi thọ không chỉ do số trời, mà còn do con người có biết thuận Đạo hay không. Đạo ở đây không xa lạ, mà nằm trong ăn uống có tiết độ, sinh hoạt có thường quy, ít dục vọng, giữ tinh thần yên ổn, không lao lực quá mức, không làm hao tán tinh khí.
Đoạn về nữ bảy năm, nam tám năm là nền tảng quan trọng của học thuyết Thận khí trong Trung y. Sự sinh trưởng, phát dục, sinh sản, suy lão đều quy về thịnh suy của Thận khí, thiên quý, mạch Nhâm, mạch Xung, gân xương, răng tóc. Vì vậy, dưỡng sinh không chỉ là sống lâu, mà là giữ cho tinh, khí, thần không hao tán quá sớm.
Đoạn nói về Chân nhân, Chí nhân, Thánh nhân, Hiền nhân cho thấy các tầng bậc dưỡng sinh. Cao nhất là hợp trọn với trời đất âm dương; gần hơn với đời thường là biết điều hòa bốn mùa, ít giận, ít dục, thân không quá nhọc, tâm không quá lo. Nhìn theo đời sống hằng ngày, chỉ cần giữ được ăn uống điều độ, ngủ nghỉ có giờ, bớt ham muốn, bớt nóng giận, tránh hao tổn tinh thần, thì đã là bước đầu đi vào tinh thần của thiên này.