Sống lâu, chết yểu, cứng mềm của hình khí
1
黄帝问于少师曰:余闻人之生也,有刚有柔,有弱有强,有短有长,有阴有阳,愿闻其方。
Hoàng Đế vấn ư Thiếu Sư viết: Dư văn nhân chi sinh dã, hữu cương hữu nhu, hữu nhược hữu cường, hữu đoản hữu trường, hữu âm hữu dương, nguyện văn kỳ phương.
Hoàng Đế hỏi Thiếu Sư rằng: Ta nghe con người sinh ra, có người cứng mạnh, có người mềm yếu; có người yếu, có người khỏe; có người đoản thọ, có người trường thọ; có người thiên âm, có người thiên dương. Ta muốn nghe đạo lý trong đó.
Giải thích từ ngữ
寿夭: thọ là sống lâu, yểu là chết sớm.
刚柔: cương là cứng mạnh, nhu là mềm yếu; ở đây chỉ thể chất và khí chất khác nhau.
有阴有阳: mỗi người sinh ra có thiên lệch âm dương khác nhau.
2
少师答曰:阴中有阴,阳中有阳,审知阴阳,刺之有方。得病所始,刺之有理。谨度病端,与时相应。内合于五藏六府,外合于筋骨皮肤。是故内有阴阳,外亦有阴阳。在内者,五藏为阴,六府为阳,在外者,筋骨为阴,皮肤为阳。故曰,病在阴之阴者,刺阴之荥俞,病在阳之阳者,刺阳之合,病在阳之阴者,刺阴之经,病在阴之阳者,刺络脉。故曰,病在阳者名曰风,病在阴者名曰痹,阴阳俱病名曰风痹。病有形而不痛者,阳之类也;无形而痛者,阴之类也。无形而痛者,其阳完而阴伤之也。急治其阴,无攻其阳。有形而不痛者,其阴完而阳伤之也。急治其阳,无攻其阴。阴阳俱动,乍有形,乍无形,加以烦心,命曰阴胜其阳。此谓不表不里,其形不久。
Thiếu Sư đáp viết: Âm trung hữu âm, dương trung hữu dương, thẩm tri âm dương, thích chi hữu phương. Đắc bệnh sở thủy, thích chi hữu lý. Cẩn độ bệnh đoan, dữ thời tương ứng. Nội hợp ư ngũ tạng lục phủ, ngoại hợp ư cân cốt bì phu. Thị cố nội hữu âm dương, ngoại diệc hữu âm dương. Tại nội giả, ngũ tạng vi âm, lục phủ vi dương; tại ngoại giả, cân cốt vi âm, bì phu vi dương. Cố viết, bệnh tại âm chi âm giả, thích âm chi Huỳnh Du; bệnh tại dương chi dương giả, thích dương chi Hợp; bệnh tại dương chi âm giả, thích âm chi Kinh; bệnh tại âm chi dương giả, thích lạc mạch. Cố viết, bệnh tại dương giả danh viết phong, bệnh tại âm giả danh viết tý, âm dương câu bệnh danh viết phong tý. Bệnh hữu hình nhi bất thống giả, dương chi loại dã; vô hình nhi thống giả, âm chi loại dã. Vô hình nhi thống giả, kỳ dương hoàn nhi âm thương chi dã. Cấp trị kỳ âm, vô công kỳ dương. Hữu hình nhi bất thống giả, kỳ âm hoàn nhi dương thương chi dã. Cấp trị kỳ dương, vô công kỳ âm. Âm dương câu động, sạ hữu hình, sạ vô hình, gia dĩ phiền tâm, mệnh viết âm thắng kỳ dương. Thử vị bất biểu bất lý, kỳ hình bất cửu.
Thiếu Sư đáp: Trong âm lại có âm, trong dương lại có dương. Nếu xét rõ âm dương thì phép châm mới có phương hướng. Biết được nơi bệnh khởi đầu thì phép châm mới có lý. Cẩn thận đo lường đầu mối của bệnh, khiến phù hợp với thời khí. Bên trong hợp với ngũ tạng lục phủ, bên ngoài hợp với gân xương da thịt. Vì vậy, bên trong có âm dương, bên ngoài cũng có âm dương. Ở bên trong, ngũ tạng là âm, lục phủ là dương. Ở bên ngoài, gân xương là âm, da là dương.
Cho nên nói: bệnh ở âm trong âm thì châm Huỳnh Du của kinh âm. Bệnh ở dương trong dương thì châm Hợp của kinh dương. Bệnh ở âm trong dương thì châm Kinh của kinh âm. Bệnh ở dương trong âm thì châm lạc mạch. Vì vậy nói: bệnh ở dương gọi là phong, bệnh ở âm gọi là tý, âm dương đều bệnh gọi là phong tý.
Bệnh có hình mà không đau thuộc loại dương. Bệnh không có hình mà đau thuộc loại âm. Không có hình mà đau là dương còn nguyên mà âm bị thương, cần gấp trị âm, không nên công dương. Có hình mà không đau là âm còn nguyên mà dương bị thương, cần gấp trị dương, không nên công âm. Nếu âm dương đều động, lúc có hình, lúc không có hình, lại thêm phiền tâm, gọi là âm thắng dương. Đây gọi là không ở biểu, không ở lý, hình bệnh ấy không kéo dài lâu.
Giải thích từ ngữ
阴中有阴,阳中有阳: trong mỗi mặt âm dương lại phân âm dương nhỏ hơn, không thể nhìn đơn giản một chiều.
五藏为阴,六府为阳: tạng chủ tàng tinh khí nên thuộc âm, phủ chủ truyền hóa nên thuộc dương.
筋骨为阴,皮肤为阳: gân xương ở sâu nên thuộc âm, da ở ngoài nên thuộc dương.
荥俞: Huỳnh và Du huyệt, nơi kinh khí chảy và rót vào.
合: Hợp huyệt, nơi kinh khí đi vào sâu.
风: phong, bệnh ở phần dương, biến động, dễ di chuyển.
痹: tý, bệnh ở phần âm, bế tắc, đau nặng, khó thông.
有形无痛: có khối, có sưng, có hình trạng nhưng không đau, thiên về dương bị thương.
无形而痛: không thấy hình trạng rõ mà đau, thiên về âm bị thương.
不表不里: không rõ ở biểu, không rõ ở lý, bệnh cơ giao xen.
3
黄帝问于伯高曰:余闻形气之病先后,外内之应奈何?伯高答曰:风寒伤形,忧恐忿怒伤气;气伤藏,乃病藏,寒伤形,乃应形;风伤筋脉,筋脉乃应。此形气外内之相应也。
Hoàng Đế vấn ư Bá Cao viết: Dư văn hình khí chi bệnh tiên hậu, ngoại nội chi ứng nại hà? Bá Cao đáp viết: Phong hàn thương hình, ưu khủng phẫn nộ thương khí; khí thương tạng, nãi bệnh tạng, hàn thương hình, nãi ứng hình; phong thương cân mạch, cân mạch nãi ứng. Thử hình khí ngoại nội chi tương ứng dã.
Hoàng Đế hỏi Bá Cao rằng: Ta nghe nói bệnh của hình và khí có trước sau, sự ứng hiện ở ngoài và trong là thế nào? Bá Cao đáp: Phong hàn làm tổn thương hình thể; lo buồn, sợ hãi, phẫn nộ làm tổn thương khí. Khí bị thương thì tạng bị bệnh. Hàn làm thương hình thể thì biểu hiện ở hình thể. Phong làm thương gân mạch thì gân mạch ứng theo. Đó là sự tương ứng ngoài trong của hình và khí.
Giải thích từ ngữ
形: hình thể, gồm da thịt, gân xương, thân thể hữu hình.
气: khí, gồm khí cơ, công năng, hoạt động bên trong.
风寒伤形: phong hàn từ ngoài vào, trước làm thương thân thể và kinh lạc.
忧恐忿怒伤气: tình chí quá mức làm khí cơ rối loạn, ảnh hưởng tạng phủ.
4
黄帝曰:刺之奈何?伯高答曰:病九日者,三刺而已;病一月者,十刺而已;多少远近,以此衰之。久痹不去身者,视其血络,尽出其血。
Hoàng Đế viết: Thích chi nại hà? Bá Cao đáp viết: Bệnh cửu nhật giả, tam thích nhi dĩ; bệnh nhất nguyệt giả, thập thích nhi dĩ; đa thiểu viễn cận, dĩ thử suy chi. Cửu tý bất khứ thân giả, thị kỳ huyết lạc, tận xuất kỳ huyết.
Hoàng Đế hỏi: Châm trị như thế nào? Bá Cao đáp: Bệnh chín ngày thì châm ba lần là đủ. Bệnh một tháng thì châm mười lần là đủ. Nhiều ít, xa gần, cứ theo đó mà suy ra. Chứng tý lâu ngày không rời khỏi thân thể thì xem huyết lạc của nó, cho ra hết huyết ứ.
Giải thích từ ngữ
病九日者,三刺: bệnh mới chín ngày, trị ít lần.
病一月者,十刺: bệnh một tháng, cần số lần châm nhiều hơn.
久痹: chứng tý lâu ngày, tà khí bế tắc lâu trong kinh lạc.
血络: lạc mạch có huyết ứ.
尽出其血: cho huyết ứ thoát ra, ý nói phép thích lạc xuất huyết trong chứng ứ lâu.
5
黄帝曰:外内之病,难易之治奈何?伯高答曰:形先病而未入藏者,刺之半其日。藏先病而形乃应者,刺之倍其日。此月内难易之应也。
Hoàng Đế viết: Ngoại nội chi bệnh, nan dị chi trị nại hà? Bá Cao đáp viết: Hình tiên bệnh nhi vị nhập tạng giả, thích chi bán kỳ nhật. Tạng tiên bệnh nhi hình nãi ứng giả, thích chi bội kỳ nhật. Thử nguyệt nội nan dị chi ứng dã.
Hoàng Đế hỏi: Bệnh ở ngoài và bệnh ở trong, khó dễ khi trị như thế nào? Bá Cao đáp: Hình thể bệnh trước mà chưa vào tạng, thì số ngày châm bằng một nửa số ngày mắc bệnh. Tạng bệnh trước rồi hình thể mới ứng hiện ra, thì số ngày châm gấp đôi số ngày mắc bệnh. Đó là sự ứng với khó dễ trong vòng một tháng.
Giải thích từ ngữ
形先病: bệnh khởi ở ngoài, hình thể, kinh lạc, da thịt trước.
未入藏: chưa vào sâu đến tạng.
藏先病: bệnh khởi ở tạng bên trong trước.
刺之半其日: trị nhẹ hơn, thời gian ngắn hơn.
刺之倍其日: trị khó hơn, thời gian dài hơn.
6
黄帝问于伯高曰:余闻形有缓急,气有盛衰,骨有大小,肉有坚脆,皮有厚薄,其以立寿夭奈何?伯高答曰:形与气相任则寿,不相任则夭。皮与肉相果则寿,不相果则夭,血气经络胜形则寿,不胜形则夭。
Hoàng Đế vấn ư Bá Cao viết: Dư văn hình hữu hoãn cấp, khí hữu thịnh suy, cốt hữu đại tiểu, nhục hữu kiên thúy, bì hữu hậu bạc, kỳ dĩ lập thọ yểu nại hà? Bá Cao đáp viết: Hình dữ khí tương nhiệm tắc thọ, bất tương nhiệm tắc yểu. Bì dữ nhục tương quả tắc thọ, bất tương quả tắc yểu, huyết khí kinh lạc thắng hình tắc thọ, bất thắng hình tắc yểu.
Hoàng Đế hỏi Bá Cao rằng: Ta nghe hình thể có hoãn có cấp, khí có thịnh có suy, xương có lớn có nhỏ, thịt có chắc có mềm yếu, da có dày có mỏng. Những điều ấy dùng để xác định thọ yểu như thế nào? Bá Cao đáp: Hình và khí nâng đỡ được nhau thì sống lâu, không nâng đỡ được nhau thì chết yểu. Da và thịt gắn kết bền chắc với nhau thì sống lâu, không gắn kết bền chắc thì chết yểu. Huyết khí kinh lạc thắng được hình thể thì sống lâu, không thắng được hình thể thì chết yểu.
Giải thích từ ngữ
形与气相任: hình thể và khí lực tương xứng, nâng đỡ nhau.
皮与肉相果: da và thịt chắc bền, tương hợp.
血气经络胜形: huyết khí kinh lạc đủ nuôi dưỡng và điều khiển hình thể.
不胜形: khí huyết không đủ gánh hình thể, thân lớn mà khí yếu.
7
黄帝曰:何谓形之缓急?伯高答曰:形充而皮肤缓者则寿,形充而皮肤急者则夭,形充而脉坚大者顺也,形充而脉小以弱者气衰,衰则危矣。若形充而颧不起者骨小,骨小则夭矣。形充而大肉胭坚而有分者肉坚,肉坚则寿矣;形充而大肉无分理不坚者肉脆,肉脆则夭矣。此天之生命,所以立形定气而视寿夭者,必明乎此立形定气,而后以临病人,决生死。
Hoàng Đế viết: Hà vị hình chi hoãn cấp? Bá Cao đáp viết: Hình sung nhi bì phu hoãn giả tắc thọ, hình sung nhi bì phu cấp giả tắc yểu, hình sung nhi mạch kiên đại giả thuận dã, hình sung nhi mạch tiểu dĩ nhược giả khí suy, suy tắc nguy hĩ. Nhược hình sung nhi quyền bất khởi giả cốt tiểu, cốt tiểu tắc yểu hĩ. Hình sung nhi đại nhục yên kiên nhi hữu phân giả nhục kiên, nhục kiên tắc thọ hĩ; hình sung nhi đại nhục vô phân lý bất kiên giả nhục thúy, nhục thúy tắc yểu hĩ. Thử thiên chi sinh mệnh, sở dĩ lập hình định khí nhi thị thọ yểu giả, tất minh hồ thử lập hình định khí, nhi hậu dĩ lâm bệnh nhân, quyết sinh tử.
Hoàng Đế hỏi: Thế nào là hoãn cấp của hình thể? Bá Cao đáp: Hình thể đầy đủ mà da thư hoãn thì sống lâu. Hình thể đầy đủ mà da căng gấp thì chết yểu. Hình thể đầy đủ mà mạch chắc lớn là thuận. Hình thể đầy đủ mà mạch nhỏ yếu là khí suy; khí đã suy thì nguy. Nếu hình thể đầy đủ mà xương gò má không nổi, đó là xương nhỏ; xương nhỏ thì dễ chết yểu. Hình thể đầy đủ, phần thịt lớn ở mông đùi chắc và có thớ rõ, đó là thịt chắc; thịt chắc thì sống lâu. Hình thể đầy đủ mà phần thịt lớn không có thớ rõ, không chắc, đó là thịt mềm yếu; thịt mềm yếu thì chết yểu. Đây là phép trời sinh ra sinh mệnh, dùng để lập hình, định khí mà xét thọ yểu. Tất phải hiểu rõ cách lập hình định khí ấy, rồi sau mới đến trước người bệnh mà quyết đoán sống chết.
Giải thích từ ngữ
形充: hình thể đầy đủ, thân thể phát triển sung mãn.
皮肤缓: da thư nhuận, không căng gấp quá mức.
脉坚大: mạch chắc và lớn, khí huyết đầy đủ.
脉小以弱: mạch nhỏ yếu, khí suy.
颧不起: xương gò má không nổi rõ, biểu hiện cốt khí yếu.
大肉: phần cơ nhục lớn, thường chỉ mông đùi.
分理: thớ thịt, đường phân chia cơ nhục.
立形定气: xét hình thể để định khí lực, dùng làm căn cứ tiên lượng.
8
黄帝曰:余闻寿夭,无以度之。伯高答曰:墙基卑,高不及其地者,不满三十而死。其有因加疾者,不及二十而死也。
Hoàng Đế viết: Dư văn thọ yểu, vô dĩ độ chi. Bá Cao đáp viết: Tường cơ ty, cao bất cập kỳ địa giả, bất mãn tam thập nhi tử. Kỳ hữu nhân gia tật giả, bất cập nhị thập nhi tử dã.
Hoàng Đế nói: Ta nghe nói về thọ yểu, nhưng chưa biết lấy gì để đo lường. Bá Cao đáp: Nền tường thấp, chiều cao không vượt nổi thế đất, thì chưa đầy ba mươi đã chết. Nếu lại nhân đó mắc thêm bệnh nặng, thì chưa đến hai mươi đã chết.
Giải thích từ ngữ
墙基卑: nền tường thấp, ví với căn bản sinh mệnh yếu.
高不及其地: hình thể không đủ nâng đỡ, khí lực không tương xứng với thân thể.
不满三十而死: lời cổ văn dùng để nói tiên thiên quá yếu, khó thọ.
因加疾: trên nền yếu lại mắc thêm bệnh.
9
黄帝曰:形气之相胜,以立寿夭奈何?伯高答曰:平人而气胜形者寿;病而形肉脱,气胜形者死,形胜气者危矣。
Hoàng Đế viết: Hình khí chi tương thắng, dĩ lập thọ yểu nại hà? Bá Cao đáp viết: Bình nhân nhi khí thắng hình giả thọ; bệnh nhi hình nhục thoát, khí thắng hình giả tử, hình thắng khí giả nguy hĩ.
Hoàng Đế hỏi: Hình và khí bên nào thắng bên nào, dùng để xác định thọ yểu như thế nào? Bá Cao đáp: Người bình thường mà khí thắng hình thì sống lâu. Người bệnh mà hình nhục đã hao thoát, khí lại thắng hình thì chết. Nếu hình thắng khí thì nguy.
Giải thích từ ngữ
气胜形: khí lực mạnh hơn hình thể. Với người bình thường là tốt, vì khí đủ vận hành thân thể.
形肉脱: hình thể, cơ nhục hao gầy, thoát mất.
病而气胜形者死: trong bệnh nặng, khí bốc nổi không còn dựa vào hình, là dấu ly tán.
形胜气: thân hình nặng nề mà khí yếu, cũng là dấu nguy.
10
黄帝曰:余闻刺有三变,何谓三变?伯高答曰:有刺营者,有刺卫者,有刺寒痹之留经者。
Hoàng Đế viết: Dư văn thích hữu tam biến, hà vị tam biến? Bá Cao đáp viết: Hữu thích doanh giả, hữu thích vệ giả, hữu thích hàn tý chi lưu kinh giả.
Hoàng Đế hỏi: Ta nghe phép châm có ba biến, thế nào là ba biến? Bá Cao đáp: Có phép châm vào doanh, có phép châm vào vệ, có phép châm chứng hàn tý lưu lại ở kinh.
Giải thích từ ngữ
三变: ba phép biến hóa trong châm trị.
营: doanh khí, đi trong mạch, liên hệ huyết.
卫: vệ khí, đi ngoài mạch, bảo vệ biểu phần.
寒痹留经: hàn tý lưu lại trong kinh mạch, gây đau, tê, bế tắc.
11
黄帝曰:刺三变者奈何?伯高答曰:刺营者出血,刺卫者出气,刺寒痹者内热。
Hoàng Đế viết: Thích tam biến giả nại hà? Bá Cao đáp viết: Thích doanh giả xuất huyết, thích vệ giả xuất khí, thích hàn tý giả nội nhiệt.
Hoàng Đế hỏi: Châm theo ba biến ấy như thế nào? Bá Cao đáp: Châm doanh thì cho huyết ra. Châm vệ thì cho khí ra. Châm hàn tý thì làm cho bên trong ấm lên.
Giải thích từ ngữ
刺营出血: doanh thuộc huyết, nên khi tà ở doanh có thể dùng phép xuất huyết.
刺卫出气: vệ thuộc khí, nên chú trọng thông khí, tán tà ở biểu.
刺寒痹内热: hàn tý cần ôn thông, làm nhiệt vào trong để đuổi hàn.
12
黄帝曰:营卫寒痹之为病奈何?伯高答曰:营之生病也,寒热少气,血上下行。卫之生病也,气痛时来时去,怫忾贲响,风寒客于肠胃之中。寒痹之为病也,留而不去,时痛而皮不仁。
Hoàng Đế viết: Doanh vệ hàn tý chi vi bệnh nại hà? Bá Cao đáp viết: Doanh chi sinh bệnh dã, hàn nhiệt thiểu khí, huyết thượng hạ hành. Vệ chi sinh bệnh dã, khí thống thời lai thời khứ, phất khái bôn hưởng, phong hàn khách ư trường vị chi trung. Hàn tý chi vi bệnh dã, lưu nhi bất khứ, thời thống nhi bì bất nhân.
Hoàng Đế hỏi: Doanh, vệ và hàn tý gây bệnh như thế nào? Bá Cao đáp: Doanh sinh bệnh thì có hàn nhiệt, thiếu khí, huyết đi lên xuống bất thường. Vệ sinh bệnh thì khí đau, lúc đến lúc đi; trong ngực bụng bức bối, khí bôn động có tiếng vang, do phong hàn khách ở trong trường vị. Hàn tý gây bệnh thì lưu lại không đi, thỉnh thoảng đau, da mất cảm giác.
Giải thích từ ngữ
寒热少气: lúc lạnh lúc nóng, khí lực suy thiếu.
血上下行: huyết vận hành trên dưới không điều hòa.
气痛时来时去: đau do khí, lúc phát lúc lui.
怫忾: bức bối, khí uất đầy.
贲响: khí bôn động có tiếng vang trong bụng ngực.
皮不仁: da tê bì, mất cảm giác.
13
黄帝曰:刺寒痹内热奈何?伯高答曰:刺布衣者,以火焠之;刺大人者,以药熨之。
Hoàng Đế viết: Thích hàn tý nội nhiệt nại hà? Bá Cao đáp viết: Thích bố y giả, dĩ hỏa thối chi; thích đại nhân giả, dĩ dược uất chi.
Hoàng Đế hỏi: Châm hàn tý để làm ấm bên trong thì làm thế nào? Bá Cao đáp: Châm người dân thường thì dùng lửa để nung ấm. Châm bậc đại nhân thì dùng thuốc để chườm ấm.
Giải thích từ ngữ
火焠: dùng lửa làm nóng, có ý gần với ôn châm, hỏa châm hoặc cứu nhiệt.
药熨: dùng thuốc nóng để chườm, xông ấm vào nơi bệnh.
布衣: dân thường.
大人: người quyền quý, thể chất mềm yếu hơn, không chịu được phép quá mạnh.
14
黄帝曰:药熨奈何?伯高答曰:用淳酒二十斤,蜀椒一斤,干姜一斤,桂心一斤,凡四种,皆嚼咀,渍酒中,用绵絮一斤,细白布四丈,并内酒中,置酒马矢熅中,封涂封,勿使泄。五日五夜,出布绵絮曝乾之,干复溃,以尽其汁。每渍必晬其日,乃出乾。乾,并用滓与绵絮,复布为复巾,长六七尺,为六七巾,则用之生桑炭炙巾,以熨寒痹所刺之处,令热入至于病所,寒复炙巾以熨之,三十遍而止。汗出以巾拭身,亦三十遍而止。起步内中,无见风。每刺必熨,如此病已矣。此所谓内热也。
Hoàng Đế viết: Dược uất nại hà? Bá Cao đáp viết: Dụng thuần tửu nhị thập cân, Thục tiêu nhất cân, can khương nhất cân, quế tâm nhất cân, phàm tứ chủng, giai tước trớ, tí tửu trung, dụng miên nhứ nhất cân, tế bạch bố tứ trượng, tịnh nạp tửu trung, trí tửu mã thỉ uân trung, phong đồ phong, vật sử tiết. Ngũ nhật ngũ dạ, xuất bố miên nhứ bộc can chi, can phục hội, dĩ tận kỳ trấp. Mỗi tí tất tối kỳ nhật, nãi xuất can. Can, tịnh dụng chỉ dữ miên nhứ, phục bố vi phục cân, trường lục thất xích, vi lục thất cân, tắc dụng chi sinh tang thán chích cân, dĩ uất hàn tý sở thích chi xứ, linh nhiệt nhập chí ư bệnh sở, hàn phục chích cân dĩ uất chi, tam thập biến nhi chỉ. Hãn xuất dĩ cân thức thân, diệc tam thập biến nhi chỉ. Khởi bộ nội trung, vô kiến phong. Mỗi thích tất uất, như thử bệnh dĩ hĩ. Thử sở vị nội nhiệt dã.
Hoàng Đế hỏi: Dược uất làm như thế nào? Bá Cao đáp: Dùng rượu thuần hai mươi cân, Thục tiêu một cân, Can khương một cân, Quế tâm một cân, tất cả bốn thứ đều giã nhai cho vụn, ngâm trong rượu. Dùng bông tơ một cân, vải trắng mịn bốn trượng, cùng cho vào trong rượu. Đặt rượu ấy trong đống phân ngựa ấm, trát kín, đừng để hơi thoát ra. Sau năm ngày năm đêm, lấy vải và bông tơ ra phơi khô. Khô rồi lại ngâm, để hút hết nước thuốc. Mỗi lần ngâm phải đủ trọn một ngày, rồi mới lấy ra phơi khô. Sau khi khô, dùng cả bã thuốc và bông tơ, lấy vải bọc lại làm khăn chườm nhiều lớp, dài sáu bảy thước, làm sáu bảy khăn.
Khi dùng, lấy than cây dâu tươi hơ nóng khăn, rồi chườm vào nơi đã châm trị hàn tý, khiến hơi nóng vào đến chỗ bệnh. Nếu lạnh thì lại hơ khăn mà chườm, làm ba mươi lượt thì dừng. Khi mồ hôi ra, dùng khăn lau thân, cũng làm ba mươi lượt rồi dừng. Sau đó đứng dậy đi lại trong nhà, không để gặp gió. Mỗi lần châm đều phải chườm thuốc như vậy, bệnh sẽ khỏi. Đó gọi là làm ấm bên trong.
Giải thích từ ngữ
淳酒: rượu thuần, rượu mạnh và tinh khiết.
蜀椒: Thục tiêu, vị cay nóng, ôn trung, tán hàn.
干姜: Can khương, gừng khô, ôn trung tán hàn.
桂心: Quế tâm, phần quế có tính ôn thông mạnh.
药熨: phép dùng thuốc và nhiệt để chườm ngoài, làm khí huyết ấm thông.
马矢熅: dùng hơi ấm của phân ngựa ủ để làm thuốc thấm và lên nhiệt; đây là phương pháp cổ.
生桑炭: than gỗ dâu tươi, dùng để hơ nóng khăn thuốc.
无见风: sau khi phát hãn và chườm ấm, phải tránh gió, để tà không thừa hư vào lại.
Tiểu kết
Thiên Thọ yểu cương nhu《寿夭刚柔》 bàn về sự khác nhau của con người về âm dương, cương nhu, mạnh yếu, thọ yểu, đồng thời nói cách châm phải tùy theo hình khí, doanh vệ, hàn tý và thể chất sang hèn, thô nhu khác nhau. Điểm quan trọng là hình và khí phải tương xứng; da thịt, xương mạch, huyết khí, kinh lạc phải nâng đỡ được nhau thì dễ thọ. Khi trị bệnh, phải biết bệnh ở âm hay dương, ở hình hay khí, ở doanh hay vệ, mới quyết định nên châm sâu hay nông, nhanh hay chậm, xuất huyết hay thông khí, dùng nhiệt hay dùng dược uất. Nếu không xét kỹ mà công phạt sai âm dương, không những bệnh không khỏi, mà còn có thể làm tổn thương chính khí.