Bàn về sáu tiết và tạng tượng
Câu 1
黄帝问曰:余闻天以六六之节,以成一岁,人以九九制会,计人亦有三百六十五节以为天地久矣,不知其所谓也。歧伯对曰:昭乎哉问也,请遂言之。夫六六之节,九九制会者,所以正天之度、气之数也。天度者,所以制日月之行也;气数者,所以纪化生之用也。
Hán Việt
Hoàng Đế vấn viết: Dư văn thiên dĩ lục lục chi tiết, dĩ thành nhất tuế, nhân dĩ cửu cửu chế hội, kế nhân diệc hữu tam bách lục thập ngũ tiết dĩ vi thiên địa cửu hĩ, bất tri kỳ sở vị dã.
Kỳ Bá đối viết: Chiêu hồ tai vấn dã, thỉnh toại ngôn chi. Phù lục lục chi tiết, cửu cửu chế hội giả, sở dĩ chính thiên chi độ, khí chi số dã. Thiên độ giả, sở dĩ chế nhật nguyệt chi hành dã; khí số giả, sở dĩ kỷ hóa sinh chi dụng dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Ta nghe trời dùng tiết lục lục để thành một năm; con người dùng phép cửu cửu để chế hội. Lại tính rằng con người cũng có ba trăm sáu mươi lăm tiết để ứng với trời đất, điều ấy đã nói từ lâu, nhưng ta chưa rõ ý nghĩa là gì.
Kỳ Bá đáp:
Câu hỏi thật sáng rõ thay. Xin cho phép được nói rõ.
Tiết lục lục và phép cửu cửu chế hội là để xác định độ số của trời và số vận của khí. Thiên độ là dùng để chế định sự vận hành của mặt trời, mặt trăng. Khí số là dùng để ghi nhận công dụng của sự hóa sinh.
Giải thích từ ngữ
Lục lục chi tiết (六六之節): sáu lần sáu thành ba mươi sáu, chỉ hệ thống tiết khí và vận hành theo chu kỳ của trời. Trong vận khí học, lục khí và sáu tiết có vai trò rất quan trọng.
Cửu cửu chế hội (九九制會): chín lần chín thành tám mươi mốt, chỉ phép lấy số chín làm quy chuẩn để hội thông khí hóa của con người với trời đất.
Tam bách lục thập ngũ tiết (三百六十五節): ba trăm sáu mươi lăm tiết, vừa ứng với số ngày trong năm, vừa tượng trưng các khớp, tiết, chỗ liên hệ trong thân người.
Thiên độ (天度): độ số của trời, dùng để đo sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, ngày tháng, năm.
Khí số (氣數): số của khí, dùng để ghi nhận sự thịnh suy, tiến thoái, hóa sinh của khí trong trời đất và thân người.
Hóa sinh (化生): biến hóa và sinh thành. Vạn vật nhờ khí hóa mà sinh, trưởng, thu, tàng.
Câu 2
天为阳,地为阴;日为阳,月为阴。行有分纪,周有道理,日行一度,月行十三度而有奇焉,故大小月三百六十五日而成岁积气馀而盈闰矣。立端于始,表正于中,推馀于终,而天度毕矣。
Hán Việt
Thiên vi dương, địa vi âm; nhật vi dương, nguyệt vi âm. Hành hữu phân kỷ, chu hữu đạo lý, nhật hành nhất độ, nguyệt hành thập tam độ nhi hữu kỳ yên. Cố đại tiểu nguyệt tam bách lục thập ngũ nhật nhi thành tuế, tích khí dư nhi doanh nhuận hĩ. Lập đoan vu thủy, biểu chính vu trung, suy dư vu chung, nhi thiên độ tất hĩ.
Dịch nghĩa
Trời là dương, đất là âm; mặt trời là dương, mặt trăng là âm. Sự vận hành của chúng có phân chia, có ghi chép; chu chuyển của chúng có đạo lý. Mặt trời mỗi ngày đi một độ, mặt trăng mỗi ngày đi mười ba độ lại có phần lẻ.
Vì vậy, tháng lớn tháng nhỏ hợp lại thành ba trăm sáu mươi lăm ngày để thành một năm; khí dư tích lại thì đầy thành tháng nhuận.
Đặt mối đầu ở lúc bắt đầu, nêu chuẩn chính ở khoảng giữa, suy tính phần dư ở cuối cùng, như vậy thiên độ mới hoàn tất.
Giải thích từ ngữ
Nhật vi dương, nguyệt vi âm (日為陽,月為陰): mặt trời sáng nóng, chủ ngày, nên thuộc dương; mặt trăng mát sáng, chủ đêm, nên thuộc âm.
Hành hữu phân kỷ (行有分紀): sự vận hành có phân độ, có kỷ luật để ghi nhận.
Chu hữu đạo lý (周有道理): một vòng chu chuyển có quy luật, không rối loạn.
Nhật hành nhất độ (日行一度): mặt trời đi một độ mỗi ngày, là cách nói theo thiên văn cổ.
Nguyệt hành thập tam độ nhi hữu kỳ (月行十三度而有奇): mặt trăng mỗi ngày đi hơn mười ba độ, có phần dư lẻ.
Doanh nhuận (盈閏): phần dư tích lại thành tháng nhuận. Đây là cách điều chỉnh lịch để năm tháng hợp với vận hành thực tế của trời đất.
Thiên độ tất hĩ (天度畢矣): độ số của trời được hoàn chỉnh, tức việc tính năm tháng, tiết khí, nhuận dư đã đầy đủ.
Câu 3
帝曰:余已闻天度矣,愿闻气数何以合之。歧伯曰:天以六六为节,地以九九制会,天有十日,日六竟而周甲,甲六复而终岁,三百六十日法也。夫自古通天者,生之本,本于阴阳。其气九州九窍,皆通乎天气。故其生五,其气三,三而成天,三而成地,三而成人,三而三之,合则为九,九分为九野,九野为九藏,故形藏四,神藏五,合为九藏以应之也。
Hán Việt
Đế viết: Dư dĩ văn thiên độ hĩ, nguyện văn khí số hà dĩ hợp chi.
Kỳ Bá viết: Thiên dĩ lục lục vi tiết, địa dĩ cửu cửu chế hội. Thiên hữu thập nhật, nhật lục cánh nhi chu Giáp, Giáp lục phục nhi chung tuế, tam bách lục thập nhật pháp dã. Phù tự cổ thông thiên giả, sinh chi bản, bản vu âm dương. Kỳ khí cửu châu cửu khiếu, giai thông hồ thiên khí. Cố kỳ sinh ngũ, kỳ khí tam. Tam nhi thành thiên, tam nhi thành địa, tam nhi thành nhân; tam nhi tam chi, hợp tắc vi cửu. Cửu phân vi cửu dã, cửu dã vi cửu tạng. Cố hình tạng tứ, thần tạng ngũ, hợp vi cửu tạng dĩ ứng chi dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta đã nghe về thiên độ rồi, xin được nghe khí số lấy gì để hợp với thiên độ ấy.
Kỳ Bá nói:
Trời lấy lục lục làm tiết, đất lấy cửu cửu để chế hội. Trời có mười ngày can; mỗi ngày trải sáu lần thì hết một vòng Giáp, sáu vòng Giáp lại kết thúc một năm, đó là phép ba trăm sáu mươi ngày.
Từ xưa, điều thông với trời là gốc của sự sống, gốc ấy ở âm dương. Khí của chín châu, chín khiếu đều thông với thiên khí.
Cho nên sự sinh của nó là năm, khí của nó là ba. Ba mà thành trời, ba mà thành đất, ba mà thành người. Ba nhân với ba, hợp lại thành chín. Chín phân ra thành chín dã, chín dã ứng với chín tạng.
Vì vậy, hình tạng có bốn, thần tạng có năm, hợp lại thành chín tạng để ứng với trời đất.
Giải thích từ ngữ
Thập nhật (十日): mười thiên can, gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Chu Giáp (周甲): một vòng Giáp, tức một chu kỳ can chi.
Tam bách lục thập nhật pháp (三百六十日法): phép lấy ba trăm sáu mươi ngày làm một năm theo quy chuẩn cổ, rồi dùng phần dư để lập nhuận.
Thông thiên giả sinh chi bản (通天者,生之本): sự sống của con người thông với thiên khí; đây là tư tưởng xuyên suốt Nội Kinh.
Cửu châu (九州): chín châu, chỉ đất đai trong thiên hạ; cũng tượng trưng sự phân khu của đất.
Cửu khiếu (九竅): hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, tiền âm, hậu âm.
Kỳ sinh ngũ, kỳ khí tam (其生五,其氣三): sinh hóa có năm, ứng ngũ hành; khí có ba, ứng thiên, địa, nhân hoặc tam tài.
Tam tài (三才): trời, đất, người. Trong tư tưởng cổ, con người đứng giữa trời đất, thông với cả thiên khí và địa khí.
Cửu dã (九野): chín vùng, chín khu vực của trời đất.
Hình tạng tứ, thần tạng ngũ (形藏四,神藏五): các đời chú giải có cách hiểu khác nhau. Có thể hiểu hình tạng là phần tạng thuộc hình chất, thần tạng là phần tạng tàng thần khí. Văn ý nhằm nói thân người có hệ thống tạng tượng ứng với số chín của trời đất.
Câu 4
帝曰:余已闻六六九九之会也,夫子言积气盈闰,愿闻何谓气。请夫子发蒙解惑焉。歧伯曰:此上帝所秘,先师传之也。帝曰:请遂闻之。歧伯曰:五日谓之候,三候谓之气,六气谓之时,四时谓之岁,而各从其主治焉。五运相袭,而皆治之,终朞之日,周而复始,时立气布,如环无端,候亦同法。故曰:不知年之所加,气之盛衰,虚实之所起,不可以为工矣。
Hán Việt
Đế viết: Dư dĩ văn lục lục cửu cửu chi hội dã, phu tử ngôn tích khí doanh nhuận, nguyện văn hà vị khí. Thỉnh phu tử phát mông giải hoặc yên.
Kỳ Bá viết: Thử Thượng Đế sở bí, tiên sư truyền chi dã.
Đế viết: Thỉnh toại văn chi.
Kỳ Bá viết: Ngũ nhật vị chi hậu, tam hậu vị chi khí, lục khí vị chi thời, tứ thời vị chi tuế, nhi các tòng kỳ chủ trị yên. Ngũ vận tương tập, nhi giai trị chi. Chung kỳ chi nhật, chu nhi phục thủy, thời lập khí bố, như hoàn vô đoan, hậu diệc đồng pháp. Cố viết: Bất tri niên chi sở gia, khí chi thịnh suy, hư thực chi sở khởi, bất khả dĩ vi công hĩ.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta đã nghe về sự hội hợp của lục lục và cửu cửu. Phu tử nói khí tích lại thì đầy thành nhuận, nay ta muốn nghe thế nào gọi là khí. Xin phu tử mở chỗ tối tăm, giải điều nghi hoặc cho ta.
Kỳ Bá nói:
Đây là điều bí mật của Thượng Đế, do tiên sư truyền lại.
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe tiếp.
Kỳ Bá nói:
Năm ngày gọi là một hậu. Ba hậu gọi là một khí. Sáu khí gọi là một thời. Bốn thời gọi là một năm. Mỗi thời đều theo khí chủ trị của nó.
Năm vận nối tiếp nhau, đều lần lượt chủ trị. Đến ngày cuối của một chu kỳ thì lại tròn vòng mà bắt đầu trở lại. Thời được lập, khí được phân bố, như vòng tròn không có đầu mối; hậu cũng theo phép ấy.
Cho nên nói: không biết năm ấy khí nào gia lâm, không biết sự thịnh suy của khí, không biết hư thực từ đâu phát khởi, thì không thể làm thầy thuốc giỏi được.
Giải thích từ ngữ
Ngũ nhật vị chi hậu (五日謂之候): năm ngày là một hậu. Hậu là đơn vị nhỏ để quan sát khí hậu, vật hậu, biến hóa tự nhiên.
Tam hậu vị chi khí (三候謂之氣): ba hậu, tức mười lăm ngày, là một khí. Đây gần với một tiết khí trong lịch pháp cổ.
Lục khí vị chi thời (六氣謂之時): sáu khí thành một mùa. Một mùa gồm sáu khí nhỏ, biểu thị sự biến hóa khí hậu trong mùa ấy.
Tứ thời vị chi tuế (四時謂之歲): bốn mùa hợp lại thành một năm.
Ngũ vận (五運): năm vận Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, chỉ sự vận hành lớn của ngũ hành trong năm.
Tương tập (相襲): nối tiếp nhau, kế thừa nhau mà vận hành.
Chu nhi phục thủy (周而復始): hết một vòng lại bắt đầu, như vòng tròn không có đầu cuối.
Niên chi sở gia (年之所加): khí vận của năm ấy gia lâm, tức khí nào chủ năm, vận nào chủ thời.
Khí chi thịnh suy (氣之盛衰): sự mạnh yếu, đầy vơi của khí theo thời vận.
Hư thực chi sở khởi (虛實之所起): nguồn gốc phát sinh hư chứng, thực chứng. Muốn biết hư thực phải biết thời khí và thể chất.
Câu 5
帝曰:五运之始,如环无端,其太过不及何如。歧伯曰:五气更立,各有所胜,盛虚之变,此其常也。帝曰:平气何如?歧伯曰:无过者也。帝曰:太过不及奈何。歧伯曰:在经有也。帝曰:何谓所胜。歧伯曰:春胜长夏,长夏胜冬,冬胜夏,夏胜秋,秋胜春,所谓得五行时之胜,各以气命其藏。帝曰:何以知其胜。歧伯曰:求其至也,皆归始春,未至而至,此谓太过,则薄所不胜,而乘所胜也,命曰气淫。不分邪僻内生,工不能禁。至而不至,此谓不及,则所胜妄行,而所生受病,所不胜薄之也,命曰气迫。所谓求其至者,气至之时也。谨候其时,气可与期,失时反候,五治不分,邪僻内生,工不能禁也。帝曰:有不袭乎。歧伯曰:苍天之气,不得无常也。气之不袭,是谓非常,非常则变矣。帝曰:非常而变柰何。歧伯曰:变至则病所,胜则微,所不胜则甚,因而重感于邪,则死矣。故非其时则微,当其时则甚也。
Hán Việt
Đế viết: Ngũ vận chi thủy, như hoàn vô đoan, kỳ thái quá bất cập hà như?
Kỳ Bá viết: Ngũ khí canh lập, các hữu sở thắng, thịnh hư chi biến, thử kỳ thường dã.
Đế viết: Bình khí hà như?
Kỳ Bá viết: Vô quá giả dã.
Đế viết: Thái quá bất cập nại hà?
Kỳ Bá viết: Tại kinh hữu dã.
Đế viết: Hà vị sở thắng?
Kỳ Bá viết: Xuân thắng trưởng hạ, trưởng hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân, sở vị đắc ngũ hành thời chi thắng, các dĩ khí mệnh kỳ tạng.
Đế viết: Hà dĩ tri kỳ thắng?
Kỳ Bá viết: Cầu kỳ chí dã, giai quy thủy xuân. Vị chí nhi chí, thử vị thái quá, tắc bạc sở bất thắng, nhi thừa sở thắng dã, mệnh viết khí dâm. Bất phân tà tích nội sinh, công bất năng cấm. Chí nhi bất chí, thử vị bất cập, tắc sở thắng vọng hành, nhi sở sinh thụ bệnh, sở bất thắng bạc chi dã, mệnh viết khí bách. Sở vị cầu kỳ chí giả, khí chí chi thời dã. Cẩn hậu kỳ thời, khí khả dữ kỳ. Thất thời phản hậu, ngũ trị bất phân, tà tích nội sinh, công bất năng cấm dã.
Đế viết: Hữu bất tập hồ?
Kỳ Bá viết: Thương thiên chi khí, bất đắc vô thường dã. Khí chi bất tập, thị vị phi thường; phi thường tắc biến hĩ.
Đế viết: Phi thường nhi biến nại hà?
Kỳ Bá viết: Biến chí tắc bệnh sở, thắng tắc vi, sở bất thắng tắc thậm. Nhân nhi trọng cảm vu tà, tắc tử hĩ. Cố phi kỳ thời tắc vi, đương kỳ thời tắc thậm dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Sự khởi đầu của ngũ vận như vòng tròn không có đầu mối. Vậy khi thái quá hoặc bất cập thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Năm khí lần lượt thay nhau đứng lên, mỗi khí đều có cái mà nó thắng. Sự biến đổi thịnh và hư là lẽ thường của nó.
Hoàng Đế hỏi:
Bình khí là thế nào?
Kỳ Bá đáp:
Là không thái quá.
Hoàng Đế hỏi:
Thái quá và bất cập thì thế nào?
Kỳ Bá đáp:
Trong kinh đã có nói.
Hoàng Đế hỏi:
Thế nào gọi là cái bị thắng?
Kỳ Bá đáp:
Mùa xuân thắng trưởng hạ, trưởng hạ thắng mùa đông, mùa đông thắng mùa hạ, mùa hạ thắng mùa thu, mùa thu thắng mùa xuân. Đó gọi là sự chế thắng theo thời của ngũ hành. Mỗi khí theo đó mà gọi tên tạng tương ứng.
Hoàng Đế hỏi:
Làm sao biết khí nào thắng?
Kỳ Bá đáp:
Phải tìm lúc khí ấy đến, đều quy về đầu mùa xuân. Chưa đến thời mà khí đã đến, đó gọi là thái quá. Khi ấy nó bức ép cái mà nó không thắng, và thừa lấn cái mà nó thắng, gọi là khí dâm. Nếu không phân biệt được, tà lệch sinh ở bên trong, thầy thuốc cũng không thể ngăn được.
Đến thời mà khí chưa đến, đó gọi là bất cập. Khi ấy cái đáng bị nó thắng lại vọng hành, cái do nó sinh ra thì chịu bệnh, cái mà nó không thắng lại đến bức ép nó, gọi là khí bách.
Điều gọi là tìm lúc khí đến, tức là xét thời điểm khí đáng đến. Cẩn thận chờ đúng thời, thì khí có thể dự kỳ mà biết. Nếu mất thời, xét trái với hậu, năm phép trị không phân biệt, tà lệch sinh ở bên trong, thầy thuốc không thể ngăn được.
Hoàng Đế hỏi:
Có trường hợp không nối tiếp theo thường lệ chăng?
Kỳ Bá nói:
Khí của trời xanh không thể không có thường quy. Nếu khí không nối tiếp theo thường, đó gọi là phi thường. Phi thường thì có biến.
Hoàng Đế hỏi:
Phi thường mà biến thì thế nào?
Kỳ Bá đáp:
Biến đến thì bệnh sinh ở chỗ tương ứng. Nếu bệnh ở cái mà nó thắng thì nhẹ; nếu bệnh ở cái mà nó không thắng thì nặng. Nếu lại nhân đó cảm thêm tà khí lần nữa thì có thể chết. Vì vậy, bệnh không đúng thời của nó thì nhẹ; đúng ngay thời của nó thì nặng.
Giải thích từ ngữ
Ngũ vận (五運): năm vận Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, thay nhau chủ thời, tạo thành khí hóa trong năm.
Thái quá (太過): khí đến quá mạnh, quá sớm, vượt mức bình thường.
Bất cập (不及): khí đến không đủ, đến muộn, yếu hơn mức bình thường.
Bình khí (平氣): khí bình hòa, không thái quá, không bất cập.
Sở thắng (所勝): cái bị mình thắng, theo quan hệ ngũ hành tương khắc.
Xuân thắng trưởng hạ (春勝長夏): xuân thuộc Mộc, trưởng hạ thuộc Thổ, Mộc khắc Thổ nên nói xuân thắng trưởng hạ.
Khí dâm (氣淫): khí thái quá, lấn tràn, vượt mức, gây bệnh.
Khí bách (氣迫): khí bất cập, bị khí khác bức ép, không giữ được chức năng chủ thời.
Cầu kỳ chí (求其至): tìm thời điểm khí đáng đến, để biết khí đến đúng thời, đến sớm hay đến muộn.
Thất thời phản hậu (失時反候): mất thời, xét sai hậu, tức không biết khí hậu thực tế và thời vận.
Phi thường tắc biến (非常則變): khí không theo thường quy thì sinh biến hóa bất thường.
Phi kỳ thời tắc vi, đương kỳ thời tắc thậm (非其時則微,當其時則甚): bệnh xảy ra không đúng mùa của tạng khí ấy thì thường nhẹ; xảy ra đúng mùa tương ứng thì thường nặng, vì khí thời trợ cho bệnh.
Câu 6
帝曰:善。余闻气合而有形,因变以正名。天地之运,阴阳之化,其于万物,孰少孰多,可得闻乎。歧伯曰:悉哉问也,天至广不可度,地至大不可量,大神灵问,请陈其方。草生五色,五色之变,不可胜视;草生五味,五味之美,不可胜极,嗜欲不同,各有所通。天食人以五气,地食人以五味。五气入鼻,藏于心肺,上使五色修明,音声能彰。五味入口,藏于肠胃,味有所藏,以养五气,气和而生津液相成,神乃自生。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Dư văn khí hợp nhi hữu hình, nhân biến dĩ chính danh. Thiên địa chi vận, âm dương chi hóa, kỳ vu vạn vật, thục thiểu thục đa, khả đắc văn hồ?
Kỳ Bá viết: Tất tai vấn dã. Thiên chí quảng bất khả độ, địa chí đại bất khả lượng, đại thần linh vấn, thỉnh trần kỳ phương. Thảo sinh ngũ sắc, ngũ sắc chi biến, bất khả thắng thị; thảo sinh ngũ vị, ngũ vị chi mỹ, bất khả thắng cực. Thị dục bất đồng, các hữu sở thông. Thiên thực nhân dĩ ngũ khí, địa thực nhân dĩ ngũ vị. Ngũ khí nhập tỵ, tàng vu Tâm Phế, thượng sử ngũ sắc tu minh, âm thanh năng chương. Ngũ vị nhập khẩu, tàng vu Trường Vị, vị hữu sở tàng, dĩ dưỡng ngũ khí. Khí hòa nhi sinh, tân dịch tương thành, thần nãi tự sinh.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Ta nghe khí hợp lại thì có hình, nhân sự biến hóa mà định tên. Sự vận hành của trời đất, sự hóa sinh của âm dương đối với muôn vật, cái nào ít, cái nào nhiều, có thể nghe được chăng?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi thật đầy đủ thay. Trời rộng đến mức không thể đo, đất lớn đến mức không thể lường. Nay bậc Đại thần linh hỏi, xin trình bày phương pháp của nó.
Cỏ cây sinh ra năm sắc, sự biến hóa của năm sắc không thể nhìn hết. Cỏ cây sinh ra năm vị, vẻ đẹp phong phú của năm vị không thể cùng tận. Sở thích ham muốn của con người không giống nhau, mỗi thứ đều có chỗ thông riêng.
Trời nuôi người bằng năm khí, đất nuôi người bằng năm vị. Năm khí đi vào mũi, tàng ở Tâm Phế, ở trên khiến năm sắc được tươi sáng, âm thanh có thể rõ ràng. Năm vị đi vào miệng, tàng ở Trường Vị. Vị có nơi tàng chứa để nuôi năm khí. Khí hòa thì sinh, tân dịch cùng thành, thần bèn tự sinh.
Giải thích từ ngữ
Khí hợp nhi hữu hình (氣合而有形): khí tụ hợp thì thành hình thể. Hình không rời khí, khí không rời hình.
Nhân biến dĩ chính danh (因變以正名): dựa vào sự biến hóa mà đặt tên cho sự vật, bệnh chứng, khí vận.
Ngũ sắc (五色): xanh, đỏ, vàng, trắng, đen; ứng với ngũ hành và ngũ tạng.
Ngũ vị (五味): chua, đắng, ngọt, cay, mặn; vào miệng, nuôi thân, nhưng cũng có thể thiên lệch gây bệnh.
Thiên thực nhân dĩ ngũ khí (天食人以五氣): trời nuôi người bằng khí, tức khí trong sạch qua hô hấp, thời khí, thiên khí.
Địa thực nhân dĩ ngũ vị (地食人以五味): đất nuôi người bằng vị, tức thức ăn, ngũ cốc, rau cỏ, vị chất.
Ngũ khí nhập tỵ (五氣入鼻): khí trời đi vào qua mũi, liên hệ hô hấp, Phế khí.
Tàng vu Tâm Phế (藏於心肺): khí vào thân có liên hệ Tâm chủ huyết mạch, Phế chủ khí.
Ngũ sắc tu minh (五色修明): sắc diện sáng nhuận, biểu hiện khí huyết điều hòa.
Âm thanh năng chương (音聲能彰): tiếng nói rõ ràng, nhờ Phế khí đủ và Tâm thần sáng.
Tân dịch tương thành (津液相成): tân dịch được sinh hóa và thành tựu nhờ khí vị điều hòa.
Thần nãi tự sinh (神乃自生): khi khí vị điều hòa, tân dịch đầy đủ, khí huyết sinh hóa thì thần tự nhiên sáng.
Câu 7
帝曰:藏象何如。歧伯曰:心者,生之本,神之变也,其华在面,其充在血脉,为阳中之太阳,通于夏气。肺者,气之本,魄之处也,其华在毛,其充在皮,为阳中之太阴,通于秋气。肾者,主蛰封藏之本,精之处也,其华在发,其充在骨,为阴中之少阴,通于冬气。肝者,罢极之本,魂之居也,其华在爪,其充在筋,以生血气,其味酸,其色苍,此为阳中之少阳,通于春气。脾胃大肠小肠三焦膀胱者,仓廪之本,营之居也,名曰器,能化糟粕,转味而入出者也,其华在唇四白,其充在肌,其味甘,其色黄,此至阴之类通于土气。凡十一藏取决于胆也。
Hán Việt
Đế viết: Tạng tượng hà như?
Kỳ Bá viết: Tâm giả, sinh chi bản, thần chi biến dã, kỳ hoa tại diện, kỳ sung tại huyết mạch, vi dương trung chi Thái dương, thông vu hạ khí.
Phế giả, khí chi bản, phách chi xứ dã, kỳ hoa tại mao, kỳ sung tại bì, vi dương trung chi Thái âm, thông vu thu khí.
Thận giả, chủ trập phong tàng chi bản, tinh chi xứ dã, kỳ hoa tại phát, kỳ sung tại cốt, vi âm trung chi Thiếu âm, thông vu đông khí.
Can giả, bãi cực chi bản, hồn chi cư dã, kỳ hoa tại trảo, kỳ sung tại cân, dĩ sinh huyết khí, kỳ vị toan, kỳ sắc thương, thử vi dương trung chi Thiếu dương, thông vu xuân khí.
Tỳ Vị Đại trường Tiểu trường Tam tiêu Bàng quang giả, thương lẫm chi bản, dinh chi cư dã, danh viết khí, năng hóa tao phách, chuyển vị nhi nhập xuất giả dã, kỳ hoa tại thần tứ bạch, kỳ sung tại cơ, kỳ vị cam, kỳ sắc hoàng, thử chí âm chi loại thông vu thổ khí.
Phàm thập nhất tạng thủ quyết vu Đởm dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Tạng tượng là như thế nào?
Kỳ Bá đáp:
Tâm là gốc của sự sống, là nơi thần biến hóa. Hoa của Tâm hiện ở mặt, sự đầy đủ của Tâm ở huyết mạch. Tâm là Thái dương trong dương, thông với khí mùa hạ.
Phế là gốc của khí, là nơi ở của phách. Hoa của Phế hiện ở lông, sự đầy đủ của Phế ở da. Phế là Thái âm trong dương, thông với khí mùa thu.
Thận là gốc của sự ẩn náu, phong tàng, là nơi ở của tinh. Hoa của Thận hiện ở tóc, sự đầy đủ của Thận ở xương. Thận là Thiếu âm trong âm, thông với khí mùa đông.
Can là gốc của sự chịu đựng mệt mỏi đến cùng, là nơi ở của hồn. Hoa của Can hiện ở móng, sự đầy đủ của Can ở gân, dùng để sinh huyết khí. Vị của Can là chua, sắc của Can là xanh. Đây là Thiếu dương trong dương, thông với khí mùa xuân.
Tỳ, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang là gốc của kho lẫm, là nơi ở của dinh khí, gọi là khí cụ. Chúng có thể hóa cặn bã, chuyển vị, đưa vào và đưa ra. Hoa của chúng hiện ở môi và bốn vùng trắng quanh miệng, sự đầy đủ của chúng ở cơ nhục. Vị của chúng là ngọt, sắc của chúng là vàng. Đây thuộc loại chí âm, thông với khí Thổ.
Phàm mười một tạng đều lấy sự quyết đoán ở Đởm.
Giải thích từ ngữ
Tạng tượng (藏象): tạng là tạng phủ bên trong, tượng là biểu hiện ra bên ngoài. Tạng tượng học là nhìn biểu hiện bên ngoài để biết chức năng bên trong.
Tâm giả sinh chi bản (心者,生之本): Tâm là gốc của sự sống vì Tâm chủ huyết mạch, chủ thần minh.
Thần chi biến (神之變): thần minh biến hóa, hoạt động tinh thần, ý thức, nhận biết đều quy về Tâm.
Kỳ hoa tại diện (其華在面): vẻ tươi nhuận của Tâm hiện ở mặt; mặt hồng nhuận thường là huyết mạch đầy đủ.
Kỳ sung tại huyết mạch (其充在血脈): sự sung mãn của Tâm biểu hiện ở huyết mạch.
Phế giả khí chi bản (肺者,氣之本): Phế chủ khí, chủ hô hấp, là gốc của khí trong thân.
Phách chi xứ (魄之處): Phế tàng phách. Phách liên hệ bản năng thân thể, cảm giác, hô hấp, phản ứng sinh lý.
Kỳ hoa tại mao, kỳ sung tại bì (其華在毛,其充在皮): Phế chủ bì mao; lông da nhuận hay khô phản ánh Phế khí.
Chủ trập phong tàng chi bản (主蟄封藏之本): Thận chủ ẩn tàng, phong tàng tinh khí, giống vạn vật ẩn náu mùa đông.
Tinh chi xứ (精之處): Thận tàng tinh, chủ sinh trưởng, phát dục, sinh sản, xương tủy.
Kỳ hoa tại phát, kỳ sung tại cốt (其華在髮,其充在骨): tóc là phần hoa của Thận, xương được Thận tinh nuôi dưỡng.
Bãi cực chi bản (罷極之本): Can là gốc của sự chịu đựng mệt nhọc, vì Can chủ cân, tàng huyết, điều tiết sức vận động.
Hồn chi cư (魂之居): Can tàng hồn. Hồn liên hệ ý hướng, mộng, hoạt động tinh thần có tính phát động.
Kỳ hoa tại trảo, kỳ sung tại cân (其華在爪,其充在筋): móng là phần dư của gân; Can huyết đủ thì gân mạnh, móng nhuận.
Thương lẫm chi bản (倉廩之本): Tỳ Vị và các phủ tiêu hóa như kho lẫm, tiếp nhận và chuyển hóa thủy cốc.
Dinh chi cư (營之居): nơi sinh hóa và chứa dinh khí, tức phần tinh vi nuôi dưỡng trong mạch.
Tao phách (糟粕): cặn bã sau khi thức ăn đã được tiêu hóa, phân biệt thanh trọc.
Thần tứ bạch (唇四白): môi và vùng quanh miệng; Tỳ khí đầy đủ thì môi nhuận, sắc tốt.
Chí âm chi loại (至陰之類): loại chí âm, chỉ Thổ ở trung ương, nuôi dưỡng, bao dung, làm nền cho các tạng phủ.
Thập nhất tạng thủ quyết vu Đởm (十一藏取決於膽): mười một tạng phủ đều nhờ Đởm quyết đoán. Đởm chủ quyết đoán, giúp khí cơ các tạng phủ có sự dứt khoát, thông đạt.
Câu 8
故人迎一盛病在少阳,二盛病在太阳,三盛病在阳明,四盛已上为格阳。寸口一盛,病在厥阴,二盛病在少阴,三盛病在太阴,四盛已上为关阴。人迎与寸口俱盛四倍已上为关格,关格之脉赢,不能极于天地之精气,则死矣。
Hán Việt
Cố Nhân nghênh nhất thịnh bệnh tại Thiếu dương, nhị thịnh bệnh tại Thái dương, tam thịnh bệnh tại Dương minh, tứ thịnh dĩ thượng vi cách dương. Thốn khẩu nhất thịnh, bệnh tại Quyết âm, nhị thịnh bệnh tại Thiếu âm, tam thịnh bệnh tại Thái âm, tứ thịnh dĩ thượng vi quan âm. Nhân nghênh dữ Thốn khẩu câu thịnh tứ bội dĩ thượng vi quan cách. Quan cách chi mạch doanh, bất năng cực vu thiên địa chi tinh khí, tắc tử hĩ.
Dịch nghĩa
Cho nên, mạch Nhân nghênh thịnh một lần thì bệnh ở Thiếu dương; thịnh hai lần thì bệnh ở Thái dương; thịnh ba lần thì bệnh ở Dương minh; thịnh từ bốn lần trở lên gọi là cách dương.
Mạch Thốn khẩu thịnh một lần thì bệnh ở Quyết âm; thịnh hai lần thì bệnh ở Thiếu âm; thịnh ba lần thì bệnh ở Thái âm; thịnh từ bốn lần trở lên gọi là quan âm.
Nhân nghênh và Thốn khẩu đều thịnh từ bốn lần trở lên thì gọi là quan cách. Mạch quan cách mà suy yếu, không thể tiếp nhận đến cùng tinh khí của trời đất, thì chết.
Giải thích từ ngữ
Nhân nghênh (人迎): vị trí mạch ở cổ, gần động mạch cảnh. Trong Nội Kinh thường dùng Nhân nghênh để xét dương, ngoại, phủ, biểu.
Thốn khẩu (寸口): vị trí mạch ở cổ tay. Trong Nội Kinh thường dùng Thốn khẩu để xét âm, nội, tạng, lý.
Nhất thịnh, nhị thịnh, tam thịnh (一盛,二盛,三盛): mức độ thịnh của mạch, dùng để phân biệt bệnh ở kinh nào và mức độ nặng nhẹ.
Thiếu dương, Thái dương, Dương minh (少陽,太陽,陽明): ba dương kinh. Nhân nghênh thịnh chủ bệnh ở dương phận.
Quyết âm, Thiếu âm, Thái âm (厥陰,少陰,太陰): ba âm kinh. Thốn khẩu thịnh chủ bệnh ở âm phận.
Cách dương (格陽): dương bị cách trở, không giao thông với âm, thường là chứng nặng.
Quan âm (關陰): âm bị đóng ngăn, không thông với dương, cũng là chứng nặng.
Quan cách (關格): âm dương đều bị ngăn cách, trên dưới không thông, trong ngoài không giao; là tình trạng rất nguy.
Bất năng cực vu thiên địa chi tinh khí (不能極於天地之精氣): không thể tiếp nhận, vận dụng trọn vẹn tinh khí của trời đất; ý nói chính khí đã tuyệt, âm dương không còn giao thông.
Nhận xét chung
Thiên Lục tiết tạng tượng luận nối liền ba tầng lớn: thiên độ, khí số và tạng tượng. Trời đất có vận hành của mặt trời, mặt trăng, ngày tháng, năm nhuận; khí có hậu, khí, thời, tuế; con người có tạng phủ, kinh mạch, cửu khiếu, tiết khớp để ứng theo. Đây là cách Nội Kinh nhìn con người như một tiểu thiên địa.
Điểm quan trọng đầu tiên là người thầy thuốc phải biết thời khí. Không biết năm ấy khí nào gia lâm, không biết khí thịnh hay suy, không biết hư thực phát sinh từ đâu thì không thể gọi là thầy thuốc giỏi. Điều này cho thấy Nội Kinh không chỉ trị bệnh theo triệu chứng, mà còn xét mùa, năm, vận, khí, hoàn cảnh trời đất.
Phần nói về thái quá và bất cập rất có giá trị. Khí đến sớm, đến quá mạnh là thái quá, gọi là khí dâm; khí đáng đến mà không đến là bất cập, gọi là khí bách. Một khí thái quá hay bất cập đều có thể làm rối loạn quan hệ ngũ hành, khiến tà sinh ở trong. Vì vậy, phép trị phải biết khí nào đang thắng, khí nào bị khắc, khí nào bị bức ép.
Phần tạng tượng là cốt lõi lâm sàng. Tâm là gốc của sự sống, hoa ở mặt, đầy ở huyết mạch; Phế là gốc của khí, hoa ở lông, đầy ở da; Thận là gốc của phong tàng, hoa ở tóc, đầy ở xương; Can là gốc của bãi cực, hoa ở móng, đầy ở gân; Tỳ Vị cùng các phủ tiêu hóa là gốc của kho lẫm, hoa ở môi, đầy ở cơ nhục. Nhìn bên ngoài để biết bên trong, đó chính là ý nghĩa của hai chữ tạng tượng.
Câu “mười một tạng đều lấy quyết đoán ở Đởm” rất đặc biệt. Đởm không chỉ là một phủ chứa mật, mà còn tượng trưng cho sự quyết đoán, cho khí cơ dứt khoát, thông đạt. Khi Đởm khí sáng rõ, các tạng phủ dễ vận hành có trật tự; khi do dự, uất kết, quyết đoán không ra, khí cơ cũng dễ bế tắc.
Phần cuối về Nhân nghênh và Thốn khẩu cho thấy phép phân biệt âm dương qua mạch. Nhân nghênh chủ dương, Thốn khẩu chủ âm. Một bên thịnh quá thì biết bệnh ở tam dương hoặc tam âm; cả hai đều thịnh quá thì thành quan cách, âm dương không giao, là chứng rất nguy. Vì vậy, học tạng tượng không thể rời mạch tượng, học mạch tượng cũng không thể rời âm dương, vận khí và tạng phủ.