Hệ gân cơ của mười hai kinh
1
足太阳之筋,起于足小趾,上结于踝,邪上结于膝,其下循足外侧,结于踵,上循跟,结于膕;其别者,结于腨外,上膕中内廉,与膕中并上结于臀,上挟脊上项;其支者,别入结于舌本;其直者,结于枕骨,上头,下颜,结于鼻;其支者,为目上网,下结于頄;其支者,从腋后外廉结于肩髃;其支者,入腋下,上出缺盆,上结于完骨;其支者,出缺盆,邪上出于頄。其病小趾支跟肿痛,膕挛,脊反折,项筋急,肩不举,腋支缺盆中纽痛,不可左右摇。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰仲春痹也。
Túc Thái dương chi cân, khởi ư túc tiểu chỉ, thượng kết ư khoả, tà thượng kết ư tất, kỳ hạ tuần túc ngoại trắc, kết ư chủng, thượng tuần cân, kết ư quắc; kỳ biệt giả, kết ư thoán ngoại, thượng quắc trung nội liêm, dữ quắc trung tịnh thượng kết ư đồn, thượng hiệp tích thượng hạng; kỳ chi giả, biệt nhập kết ư thiệt bản; kỳ trực giả, kết ư chẩm cốt, thượng đầu, hạ nhan, kết ư tỵ; kỳ chi giả, vi mục thượng võng, hạ kết ư quyền; kỳ chi giả, tòng dịch hậu ngoại liêm kết ư Kiên ngung; kỳ chi giả, nhập dịch hạ, thượng xuất Khuyết bồn, thượng kết ư Hoàn cốt; kỳ chi giả, xuất Khuyết bồn, tà thượng xuất ư quyền. Kỳ bệnh tiểu chỉ chi cân thũng thống, quắc luyến, tích phản chiết, hạng cân cấp, kiên bất cử, dịch chi Khuyết bồn trung nữu thống, bất khả tả hữu dao. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, danh viết Trọng xuân tý dã.
Kinh cân của Túc Thái dương khởi ở ngón chân út, đi lên kết ở mắt cá, đi chếch lên kết ở gối. Phần dưới men theo phía ngoài bàn chân, kết ở gót, rồi đi lên theo gót chân, kết ở khoeo. Nhánh biệt kết ở ngoài bắp chân, đi lên bờ trong khoeo, cùng vùng khoeo đi lên kết ở mông, rồi đi lên kẹp hai bên cột sống lên gáy. Nhánh của nó tách vào trong, kết ở gốc lưỡi. Đường thẳng của nó kết ở xương chẩm, lên đầu, xuống mặt, kết ở mũi. Nhánh khác làm thành lưới phía trên mắt, đi xuống kết ở gò má. Nhánh khác từ bờ ngoài phía sau nách kết ở Kiên ngung. Nhánh khác vào dưới nách, đi lên ra Khuyết bồn, lên kết ở Hoàn cốt. Nhánh khác ra Khuyết bồn, đi chếch lên ra ở gò má.
Bệnh của kinh cân này là ngón chân út kéo căng, gót sưng đau, khoeo co rút, cột sống ưỡn ngược, gân gáy căng, vai không nâng được, vùng nách kéo đến Khuyết bồn đau xoắn, không thể lắc sang trái phải. Cách trị là dùng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết của bệnh làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Trọng xuân tý.
Giải thích từ ngữ
经筋: kinh cân, hệ gân cơ bám theo đường đi của kinh mạch, chủ yếu phản ánh co rút, đau, cứng, yếu ở cân cơ.
足太阳之筋: hệ gân cơ theo Túc Thái dương Bàng quang, chạy dọc sau thân, gáy, lưng, mông, khoeo, gót.
膕: khoeo chân.
腨: bắp chân.
反折: ưỡn ngược, co cứng ra sau.
燔针劫刺: dùng kim nung nóng hoặc phép châm nhanh mạnh để trừ hàn tý, giải co rút.
以痛为输: lấy chính điểm đau làm nơi châm, tức phép lấy a thị huyệt.
仲春痹: chứng tý ứng với giữa mùa xuân, theo phân loại thời lệnh của thiên này.
2
足少阳之筋,起于小指次指,上结外踝,上循胫外廉,结于膝外廉;其支者,别起外辅骨,上走髀,前者结于伏兔之上,后者,结于尻;其直者,上乘䏚季胁,上走腋前廉,系于膺乳,结于缺盆;直者,上出腋,贯缺盆,出太阳之前,循耳后,上额角,交巅上,下走颔,上结于頄;支者,结于目眦为外维。其病小指次指支转筋,引膝外转筋,膝不可屈伸,膕筋急,前引髀,后引尻,即上乘䏚季胁痛,上引缺盆、膺乳、颈维筋急。从左之右,右目不开,上过右角,并蹻脉而行,左络于右,故伤左角,右足不用,命曰维筋相交。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰孟春痹也。
Túc Thiếu dương chi cân, khởi ư tiểu chỉ thứ chỉ, thượng kết ngoại khoả, thượng tuần hành ngoại liêm, kết ư tất ngoại liêm; kỳ chi giả, biệt khởi ngoại phụ cốt, thượng tẩu bễ, tiền giả kết ư Phục thố chi thượng, hậu giả, kết ư cư; kỳ trực giả, thượng thừa sao quý hiếp, thượng tẩu dịch tiền liêm, hệ ư ưng nhũ, kết ư Khuyết bồn; trực giả, thượng xuất dịch, quán Khuyết bồn, xuất Thái dương chi tiền, tuần nhĩ hậu, thượng ngạch giác, giao điên thượng, hạ tẩu hạm, thượng kết ư quyền; chi giả, kết ư mục tý vi ngoại duy. Kỳ bệnh tiểu chỉ thứ chỉ chi chuyển cân, dẫn tất ngoại chuyển cân, tất bất khả khuất thân, quắc cân cấp, tiền dẫn bễ, hậu dẫn cư, tức thượng thừa sao quý hiếp thống, thượng dẫn Khuyết bồn, ưng nhũ, cảnh duy cân cấp. Tòng tả chi hữu, hữu mục bất khai, thượng quá hữu giác, tịnh Kiểu mạch nhi hành, tả lạc ư hữu, cố thương tả giác, hữu túc bất dụng, mệnh viết duy cân tương giao. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, danh viết Mạnh xuân tý dã.
Kinh cân của Túc Thiếu dương khởi ở ngón kế ngón út của chân, đi lên kết ở mắt cá ngoài, rồi men theo bờ ngoài cẳng chân, kết ở bờ ngoài gối. Nhánh của nó tách khởi từ xương phụ bên ngoài, đi lên đùi; nhánh phía trước kết ở phía trên Phục thố, nhánh phía sau kết ở vùng xương cùng cụt. Đường thẳng đi lên vùng hạ sườn, sườn cụt, đi lên bờ trước nách, liên hệ với vùng ngực vú, kết ở Khuyết bồn. Đường thẳng khác đi lên ra ở nách, xuyên qua Khuyết bồn, ra phía trước Thái dương, men sau tai, lên góc trán, giao ở đỉnh đầu, xuống hàm, rồi lên kết ở gò má. Nhánh của nó kết ở khóe mắt, làm thành ngoại duy.
Bệnh của kinh cân này là ngón kế ngón út co rút, kéo đến phía ngoài gối làm chuyển cân; gối không thể co duỗi, gân khoeo căng, phía trước kéo đến đùi, phía sau kéo đến xương cùng cụt; đi lên thì đau vùng hạ sườn, sườn cụt, kéo lên Khuyết bồn, ngực vú, gân vùng cổ căng. Bệnh từ trái sang phải thì mắt phải không mở được; đi lên qua góc trán phải, cùng đi với Kiểu mạch, bên trái lạc sang bên phải. Vì vậy, tổn thương góc trán trái mà chân phải không dùng được, gọi là duy cân tương giao. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Mạnh xuân tý.
Giải thích từ ngữ
足少阳之筋: kinh cân của Túc Thiếu dương Đởm, đi bên ngoài chân, hông sườn, đầu mặt, tai mắt.
小指次指: ngón chân thứ tư.
外辅骨: xương phụ bên ngoài, thường chỉ xương mác.
伏兔: vùng cơ đùi trước.
外维: phần gân duy trì bên ngoài quanh mắt.
维筋相交: các gân duy mạch giao chéo nhau, bên trái ảnh hưởng bên phải, bên phải ảnh hưởng bên trái.
孟春痹: chứng tý đầu mùa xuân.
3
足阳明之筋,起于中三指,结于跗上,邪外上加于辅骨,上结于膝外廉,直上结于髀枢,上循胁属脊;其直者,上循骭,结于膝;其支者,结于外辅骨,合少阳;其直者,上循伏兔,上结于髀,聚于阴器,上腹而布,至缺盆而结,上颈,上挟口,合于頄,下结于鼻,上合于太阳。太阳为目上网,阳明为目下网;其支者,从颊结于耳前。其病足中指支胫转筋,脚跳坚,伏兔转筋,髀前踵,㿉疝,腹筋急,引缺盆及颊,卒口僻;急者,目不合,热则筋纵,目不开,颊筋有寒,则急,引颊移口,有热则筋弛纵,缓不胜收,故僻。治之以马膏,膏其急者;以白酒和桂,以涂其缓者,以桑钩钩之,即以生桑炭置之坎中,高下以坐等。以膏熨急颊,且饮美酒,敢美炙肉,不饮酒者,自强也,为之三拊而已。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰季春痹也。
Túc Dương minh chi cân, khởi ư trung tam chỉ, kết ư phu thượng, tà ngoại thượng gia ư phụ cốt, thượng kết ư tất ngoại liêm, trực thượng kết ư bễ khu, thượng tuần hiếp thuộc tích; kỳ trực giả, thượng tuần hạn, kết ư tất; kỳ chi giả, kết ư ngoại phụ cốt, hợp Thiếu dương; kỳ trực giả, thượng tuần Phục thố, thượng kết ư bễ, tụ ư âm khí, thượng phúc nhi bố, chí Khuyết bồn nhi kết, thượng cảnh, thượng hiệp khẩu, hợp ư quyền, hạ kết ư tỵ, thượng hợp ư Thái dương. Thái dương vi mục thượng võng, Dương minh vi mục hạ võng; kỳ chi giả, tòng giáp kết ư nhĩ tiền. Kỳ bệnh túc trung chỉ chi hành chuyển cân, cước khiêu kiên, Phục thố chuyển cân, bễ tiền chủng, hội sán, phúc cân cấp, dẫn Khuyết bồn cập giáp, tốt khẩu tích; cấp giả, mục bất hợp, nhiệt tắc cân túng, mục bất khai, giáp cân hữu hàn, tắc cấp, dẫn giáp di khẩu, hữu nhiệt tắc cân trì túng, hoãn bất thắng thu, cố tích. Trị chi dĩ mã cao, cao kỳ cấp giả; dĩ bạch tửu hòa quế, dĩ đồ kỳ hoãn giả, dĩ tang câu câu chi, tức dĩ sinh tang thán trí chi khảm trung, cao hạ dĩ tọa đẳng. Dĩ cao uất cấp giáp, thả ẩm mỹ tửu, cảm mỹ chích nhục, bất ẩm tửu giả, tự cường dã, vi chi tam phủ nhi dĩ. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, danh viết Quý xuân tý dã.
Kinh cân của Túc Dương minh khởi ở ba ngón giữa của chân, kết ở trên mu bàn chân, đi chếch ra ngoài lên bám vào xương phụ, rồi lên kết ở bờ ngoài gối. Đường thẳng đi lên kết ở khớp háng, men lên sườn và thuộc về cột sống. Đường thẳng khác đi lên theo cẳng chân, kết ở gối. Nhánh của nó kết ở xương phụ bên ngoài, hợp với Thiếu dương. Đường thẳng đi lên theo Phục thố, kết ở đùi, tụ ở âm khí, đi lên bụng mà phân bố, đến Khuyết bồn thì kết lại, đi lên cổ, kẹp bên miệng, hợp ở gò má, xuống kết ở mũi, lên hợp với Thái dương. Thái dương làm lưới trên mắt, Dương minh làm lưới dưới mắt. Nhánh của nó từ má kết ở trước tai.
Bệnh của kinh cân này là ngón giữa chân kéo căng, cẳng chân chuyển cân, bàn chân co giật và cứng, vùng Phục thố chuyển cân, phía trước đùi căng đau, hội sán, gân bụng co gấp, kéo lên Khuyết bồn và má, đột nhiên miệng méo. Nếu gân co gấp thì mắt không khép được. Nếu có nhiệt thì gân buông lỏng, mắt không mở được. Nếu gân má bị hàn thì co gấp, kéo má làm miệng lệch. Nếu có nhiệt thì gân mềm nhão, buông lỏng không thu lại được, nên thành miệng méo.
Cách trị: dùng mỡ ngựa bôi vào nơi co gấp; dùng rượu trắng hòa với quế bôi vào nơi buông lỏng. Dùng móc bằng cành dâu kéo giữ, rồi lấy than cây dâu tươi đặt trong hố, điều chỉnh cao thấp theo tư thế ngồi của người bệnh. Dùng thuốc mỡ chườm vùng má co gấp, đồng thời cho uống rượu ngon, ăn thịt nướng ngon. Người không uống rượu thì cũng nên cố uống một chút. Làm ba lần vỗ xoa là đủ. Cũng trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Quý xuân tý.
Giải thích từ ngữ
足阳明之筋: kinh cân của Túc Dương minh Vị, đi mặt trước chân, bụng, ngực, mặt.
中三指: ba ngón giữa của chân.
目上网、目下网: lưới gân trên mắt và dưới mắt, liên hệ vận động mi mắt.
口僻: miệng méo, lệch mặt.
筋急: gân co gấp, thường do hàn.
筋弛纵: gân mềm nhão, buông lỏng, thường do nhiệt làm mất khả năng thu giữ.
马膏: mỡ ngựa, dùng bôi ngoài trong phương pháp cổ.
白酒和桂: rượu trắng hòa quế, lấy tính ôn thông để trị gân buông lỏng do khí huyết không điều.
季春痹: chứng tý cuối mùa xuân.
4
足太阴之筋,起于大指之端内侧,上结于内踝;其直者,络于膝内辅骨,上循阴股,结于髀,聚于阴器,上腹结于脐,循腹里,结于肋,散于胸中;其内者,著于脊。其病足大指支内踝痛,转筋痛,膝内辅骨痛,阴股引髀而痛,阴器纽痛,上引脐两胁痛,引膺中脊内痛。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,命曰孟秋痹也。
Túc Thái âm chi cân, khởi ư đại chỉ chi đoan nội trắc, thượng kết ư nội khoả; kỳ trực giả, lạc ư tất nội phụ cốt, thượng tuần âm cổ, kết ư bễ, tụ ư âm khí, thượng phúc kết ư tề, tuần phúc lý, kết ư lặc, tán ư hung trung; kỳ nội giả, trước ư tích. Kỳ bệnh túc đại chỉ chi nội khoả thống, chuyển cân thống, tất nội phụ cốt thống, âm cổ dẫn bễ nhi thống, âm khí nữu thống, thượng dẫn tề lưỡng hiếp thống, dẫn ưng trung tích nội thống. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, mệnh viết Mạnh thu tý dã.
Kinh cân của Túc Thái âm khởi ở mặt trong đầu ngón chân cái, đi lên kết ở mắt cá trong. Đường thẳng lạc ở xương phụ bên trong gối, đi lên theo mặt trong đùi, kết ở khớp háng, tụ ở âm khí, đi lên bụng kết ở rốn, men theo trong bụng, kết ở xương sườn, tản ra trong ngực. Nhánh bên trong bám vào cột sống.
Bệnh của kinh cân này là ngón chân cái kéo căng, mắt cá trong đau, chuyển cân đau, xương phụ bên trong gối đau, mặt trong đùi kéo lên khớp háng mà đau, âm khí đau xoắn, đau kéo lên rốn và hai bên sườn, kéo đến trong ngực và trong cột sống mà đau. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Mạnh thu tý.
Giải thích từ ngữ
足太阴之筋: kinh cân của Túc Thái âm Tỳ, đi mặt trong chân, bụng, ngực.
阴股: mặt trong đùi.
阴器: bộ phận sinh dục.
纽痛: đau xoắn vặn.
膺中: vùng ngực trước.
孟秋痹: chứng tý đầu mùa thu.
5
足少阴之筋,起于小指之下,并足太阴之筋,邪走内踝之下,结于踵,与太阳之筋合,而上结于内辅之下,并太阴之筋,而上循阴股,结于阴器,循脊内挟膂上至项,结于枕骨,与足太阳之筋合。其病足下转筋,及所过而结者皆痛及转筋。病在此者,主癎瘈及痉,在外者不能挽,在内者不能仰。故阳病者,腰反折不能俛,阴病者,不能仰。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输。在内者熨引饮药,此筋折纽,纽发数甚者死不治,名曰仲秋痹也。
Túc Thiếu âm chi cân, khởi ư tiểu chỉ chi hạ, tịnh Túc Thái âm chi cân, tà tẩu nội khoả chi hạ, kết ư chủng, dữ Thái dương chi cân hợp, nhi thượng kết ư nội phụ chi hạ, tịnh Thái âm chi cân, nhi thượng tuần âm cổ, kết ư âm khí, tuần tích nội hiệp lữ thượng chí hạng, kết ư chẩm cốt, dữ Túc Thái dương chi cân hợp. Kỳ bệnh túc hạ chuyển cân, cập sở quá nhi kết giả giai thống cập chuyển cân. Bệnh tại thử giả, chủ giản khiết cập kinh, tại ngoại giả bất năng vãn, tại nội giả bất năng ngưỡng. Cố dương bệnh giả, yêu phản chiết bất năng phủ, âm bệnh giả, bất năng ngưỡng. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du. Tại nội giả uất dẫn ẩm dược, thử cân chiết nữu, nữu phát sác thậm giả tử bất trị, danh viết Trọng thu tý dã.
Kinh cân của Túc Thiếu âm khởi ở dưới ngón chân út, đi cùng kinh cân Túc Thái âm, đi chếch xuống dưới mắt cá trong, kết ở gót, hợp với kinh cân Thái dương, rồi đi lên kết ở dưới xương phụ bên trong gối, đi cùng kinh cân Thái âm, lên theo mặt trong đùi, kết ở âm khí, men trong cột sống, kẹp cơ dọc sống lưng lên đến gáy, kết ở xương chẩm, hợp với kinh cân Túc Thái dương.
Bệnh của kinh cân này là dưới bàn chân chuyển cân; những nơi đường đi qua mà kết lại đều đau và co rút. Bệnh ở đây chủ về chứng giản, khiết và kinh. Bệnh ở ngoài thì không thể kéo ngửa; bệnh ở trong thì không thể ngửa lên. Vì vậy, bệnh thuộc dương thì lưng eo ưỡn ngược, không thể cúi; bệnh thuộc âm thì không thể ngửa. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Nếu bệnh ở bên trong thì dùng phép chườm nóng, kéo dẫn và uống thuốc. Nếu gân đã gãy xoắn, cơn xoắn phát nhiều lần và rất nặng thì chết, không trị được. Bệnh này gọi là Trọng thu tý.
Giải thích từ ngữ
足少阴之筋: kinh cân của Túc Thiếu âm Thận, từ chân trong lên âm khí, cột sống, gáy.
癎瘈: giản và khiết, chỉ co giật, động kinh, gân co duỗi bất thường.
痉: kinh, co cứng, cứng gáy, cứng lưng.
反折: ưỡn ngược ra sau.
俛: cúi xuống.
熨引饮药: chườm nóng, kéo dẫn và uống thuốc, phối hợp trị chứng ở sâu bên trong.
仲秋痹: chứng tý giữa mùa thu.
6
足厥阴之筋,起于大指之上,上结于内踝之前,上循胫,上结内辅之下,上循阴股,结于阴器,络诸筋。其病足大指支内踝之前痛,内辅痛,阴股痛转筋,阴器不用,伤于内则不起,伤于寒则阴缩入,伤于热则纵挺不收,治在行水清阴气;其病转筋者,治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,命曰季秋痹也。
Túc Quyết âm chi cân, khởi ư đại chỉ chi thượng, thượng kết ư nội khoả chi tiền, thượng tuần hành, thượng kết nội phụ chi hạ, thượng tuần âm cổ, kết ư âm khí, lạc chư cân. Kỳ bệnh túc đại chỉ chi nội khoả chi tiền thống, nội phụ thống, âm cổ thống chuyển cân, âm khí bất dụng, thương ư nội tắc bất khởi, thương ư hàn tắc âm súc nhập, thương ư nhiệt tắc túng đĩnh bất thu, trị tại hành thủy thanh âm khí; kỳ bệnh chuyển cân giả, trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, mệnh viết Quý thu tý dã.
Kinh cân của Túc Quyết âm khởi ở phía trên ngón chân cái, đi lên kết ở phía trước mắt cá trong, lên theo cẳng chân, kết ở dưới xương phụ bên trong gối, lên theo mặt trong đùi, kết ở âm khí, rồi liên lạc với các gân.
Bệnh của kinh cân này là ngón chân cái kéo căng, phía trước mắt cá trong đau, xương phụ bên trong gối đau, mặt trong đùi đau và chuyển cân, âm khí không dùng được. Nếu tổn thương bên trong thì không cương khởi. Nếu bị hàn làm thương thì âm khí co rút vào trong. Nếu bị nhiệt làm thương thì buông dài ra, cương mà không thu lại được. Phép trị là hành thủy, thanh âm khí. Nếu bệnh chuyển cân thì trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Quý thu tý.
Giải thích từ ngữ
足厥阴之筋: kinh cân của Túc Quyết âm Can, liên hệ mặt trong chân, âm khí, gân co rút.
阴器不用: bộ phận sinh dục mất chức năng.
阴缩入: âm khí co rút vào trong, thường do hàn.
纵挺不收: buông dài, cương lên mà không thu lại, thường do nhiệt.
行水清阴气: làm thông thủy đạo, thanh phần âm khí bị uất nhiệt.
季秋痹: chứng tý cuối mùa thu.
7
手太阳之筋,起于小指之上,结于腕,上循臂内廉,结于肘内锐骨之后,弹之应小指之上,入结于腋下;其支者,后走腋后廉,上绕肩胛,循颈出走太阳之前,结于耳后完骨;其支者,入耳中;直者,出耳上,下结于颔,上属目外眦。其病小指支肘内锐骨后廉痛,循臂阴,入腋下,腋下痛,腋后廉痛,绕肩胛引颈而痛,应耳中鸣痛引颔,目瞑良久乃得视,颈筋急,则为筋瘻颈肿,寒热在颈者。治在燔针劫刺之,以知为数,以痛为输。其为肿者,复而锐之。本支者,上曲牙,循耳前属目外眦,上颔结于角,其痛当所过者支转筋。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰仲夏痹也。
Thủ Thái dương chi cân, khởi ư tiểu chỉ chi thượng, kết ư uyển, thượng tuần tý nội liêm, kết ư trửu nội nhuệ cốt chi hậu, đàn chi ứng tiểu chỉ chi thượng, nhập kết ư dịch hạ; kỳ chi giả, hậu tẩu dịch hậu liêm, thượng nhiễu kiên giáp, tuần cảnh xuất tẩu Thái dương chi tiền, kết ư nhĩ hậu Hoàn cốt; kỳ chi giả, nhập nhĩ trung; trực giả, xuất nhĩ thượng, hạ kết ư hạm, thượng thuộc mục ngoại tý. Kỳ bệnh tiểu chỉ chi trửu nội nhuệ cốt hậu liêm thống, tuần tý âm, nhập dịch hạ, dịch hạ thống, dịch hậu liêm thống, nhiễu kiên giáp dẫn cảnh nhi thống, ứng nhĩ trung minh thống dẫn hạm, mục minh lương cửu nãi đắc thị, cảnh cân cấp, tắc vi cân lũ cảnh thũng, hàn nhiệt tại cảnh giả. Trị tại phiền châm kiếp thích chi, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du. Kỳ vi thũng giả, phục nhi nhuệ chi. Bản chi giả, thượng khúc nha, tuần nhĩ tiền thuộc mục ngoại tý, thượng hạm kết ư giác, kỳ thống đương sở quá giả chi chuyển cân. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, danh viết Trọng hạ tý dã.
Kinh cân của Thủ Thái dương khởi ở trên ngón tay út, kết ở cổ tay, đi lên theo bờ trong cánh tay, kết ở phía sau xương nhọn trong khuỷu; gõ vào đó thì ứng lên ngón tay út, rồi vào kết ở dưới nách. Nhánh của nó đi ra sau theo bờ sau nách, lên vòng quanh xương bả vai, men theo cổ, ra đi phía trước Thái dương, kết ở Hoàn cốt sau tai. Nhánh khác vào trong tai. Đường thẳng ra phía trên tai, xuống kết ở hàm, lên thuộc khóe mắt ngoài.
Bệnh của kinh cân này là ngón tay út kéo căng, bờ sau xương nhọn trong khuỷu đau, đau theo mặt âm của cánh tay vào dưới nách; dưới nách đau, bờ sau nách đau, vòng quanh xương bả vai kéo lên cổ mà đau; ứng vào trong tai gây ù tai, đau tai, đau kéo đến hàm; mắt nhắm lâu mới nhìn lại được. Nếu gân cổ co gấp thì thành cân lũ, cổ sưng, hàn nhiệt ở cổ. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Nếu có sưng thì châm lại bằng phép sắc nhanh.
Nhánh gốc đi lên vùng răng hàm, men trước tai, thuộc khóe mắt ngoài, lên hàm rồi kết ở góc trán. Đau ở nơi đường đi qua thì kéo căng và chuyển cân. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Trọng hạ tý.
Giải thích từ ngữ
手太阳之筋: kinh cân của Thủ Thái dương Tiểu trường, đi từ ngón út lên tay, vai, cổ, tai, mắt.
锐骨: xương nhọn ở vùng cổ tay hoặc khuỷu, tùy đoạn văn.
完骨: xương chũm sau tai.
筋瘻: bệnh gân mạn tính, gân co cứng hoặc sưng kết.
复而锐之: châm lại bằng kim sắc hoặc phép châm nhanh sắc để giải sưng kết.
仲夏痹: chứng tý giữa mùa hạ.
8
手少阳之筋,起于小指次指之端,结于腕,中循臂,结于肘,上绕臑外廉、上肩、走颈,合手太阳;其支者,当曲颊入系舌本;其支者,上曲牙,循耳前,属目外眦,上乘颔,结于角。其病当所过者,即支转筋,舌卷。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰季夏痹也。
Thủ Thiếu dương chi cân, khởi ư tiểu chỉ thứ chỉ chi đoan, kết ư uyển, trung tuần tý, kết ư trửu, thượng nhiễu nhu ngoại liêm, thượng kiên, tẩu cảnh, hợp Thủ Thái dương; kỳ chi giả, đương khúc giáp nhập hệ thiệt bản; kỳ chi giả, thượng khúc nha, tuần nhĩ tiền, thuộc mục ngoại tý, thượng thừa hạm, kết ư giác. Kỳ bệnh đương sở quá giả, tức chi chuyển cân, thiệt quyển. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, danh viết Quý hạ tý dã.
Kinh cân của Thủ Thiếu dương khởi ở đầu ngón kế ngón út của tay, kết ở cổ tay, đi giữa cánh tay, kết ở khuỷu, đi lên vòng bờ ngoài cánh tay trên, lên vai, đi đến cổ, hợp với Thủ Thái dương. Nhánh của nó ở vùng má cong đi vào liên hệ với gốc lưỡi. Nhánh khác đi lên vùng răng hàm, men trước tai, thuộc khóe mắt ngoài, đi lên hàm và kết ở góc trán.
Bệnh của kinh cân này là nơi đường đi qua đều kéo căng và chuyển cân, lưỡi cuộn lại. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Quý hạ tý.
Giải thích từ ngữ
手少阳之筋: kinh cân của Thủ Thiếu dương Tam tiêu, đi mặt ngoài tay, vai cổ, tai mắt.
小指次指: ngón áp út.
舌卷: lưỡi cuộn lại, thường là dấu gân co rút liên hệ đường kinh.
季夏痹: chứng tý cuối mùa hạ.
9
手阳明之筋,起于大指次指之端,结于腕,上循臂,上结于肘外,上臑,结于髃;其支者,绕肩胛,挟脊;直者,从肩髃上颈;其支者,上颊,结于頄;直者,上出手太阳之前,上左角,络头,下右颔。其病当所过者,支痛及转筋,肩不举,颈不可左右视。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰孟夏痹也。
Thủ Dương minh chi cân, khởi ư đại chỉ thứ chỉ chi đoan, kết ư uyển, thượng tuần tý, thượng kết ư trửu ngoại, thượng nhu, kết ư ngung; kỳ chi giả, nhiễu kiên giáp, hiệp tích; trực giả, tòng Kiên ngung thượng cảnh; kỳ chi giả, thượng giáp, kết ư quyền; trực giả, thượng xuất Thủ Thái dương chi tiền, thượng tả giác, lạc đầu, hạ hữu hạm. Kỳ bệnh đương sở quá giả, chi thống cập chuyển cân, kiên bất cử, cảnh bất khả tả hữu thị. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, danh viết Mạnh hạ tý dã.
Kinh cân của Thủ Dương minh khởi ở đầu ngón trỏ, kết ở cổ tay, đi lên theo cánh tay, kết ở phía ngoài khuỷu, lên cánh tay trên, kết ở vùng vai. Nhánh của nó vòng quanh xương bả vai, kẹp cột sống. Đường thẳng từ Kiên ngung đi lên cổ. Nhánh của nó lên má, kết ở gò má. Đường thẳng đi lên, ra phía trước Thủ Thái dương, lên góc trán trái, lạc với đầu, rồi xuống hàm phải.
Bệnh của kinh cân này là nơi đường đi qua đều kéo đau và chuyển cân, vai không nâng được, cổ không thể quay nhìn trái phải. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Mạnh hạ tý.
Giải thích từ ngữ
手阳明之筋: kinh cân của Thủ Dương minh Đại trường, đi ngón trỏ, tay, vai, cổ, mặt.
肩髃: vùng Kiên ngung ở vai.
颈不可左右视: cổ cứng, không xoay trái phải được.
孟夏痹: chứng tý đầu mùa hạ.
10
手太阴之筋,起于大指之上,循指上行,结于鱼后,行寸口外侧,上循臂,结肘中,上臑内廉,入腋下,出缺盆,结肩前髃,上结缺盆,下结胸里,散贯贲,合贲下抵季胁。其病当所过者,支转筋,痛甚成息贲,胁急吐血。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输。名曰仲冬痹也。
Thủ Thái âm chi cân, khởi ư đại chỉ chi thượng, tuần chỉ thượng hành, kết ư ngư hậu, hành thốn khẩu ngoại trắc, thượng tuần tý, kết trửu trung, thượng nhu nội liêm, nhập dịch hạ, xuất Khuyết bồn, kết kiên tiền ngung, thượng kết Khuyết bồn, hạ kết hung lý, tán quán bí, hợp bí hạ để quý hiếp. Kỳ bệnh đương sở quá giả, chi chuyển cân, thống thậm thành tức bôn, hiếp cấp thổ huyết. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du. Danh viết Trọng đông tý dã.
Kinh cân của Thủ Thái âm khởi ở phía trên ngón tay cái, men theo ngón đi lên, kết ở phía sau vùng ngư tế, đi ở phía ngoài thốn khẩu, lên theo cánh tay, kết ở giữa khuỷu, lên bờ trong cánh tay trên, vào dưới nách, ra Khuyết bồn, kết ở vùng trước vai, lên kết ở Khuyết bồn, xuống kết trong ngực, tản ra xuyên qua vùng bí, hợp dưới bí rồi đến sườn cụt.
Bệnh của kinh cân này là nơi đường đi qua bị kéo căng, chuyển cân; đau nặng thì thành tức bôn, sườn co gấp, nôn ra máu. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Trọng đông tý.
Giải thích từ ngữ
手太阴之筋: kinh cân của Thủ Thái âm Phế, đi ngón cái, cánh tay trong, nách, ngực sườn.
鱼后: phía sau vùng ngư tế ở bàn tay.
寸口: vùng mạch cổ tay.
息贲: tức bôn, khí bôn lên gây tức ngực, khó thở.
胁急: sườn co gấp, căng đau.
仲冬痹: chứng tý giữa mùa đông.
11
手心主之筋,起于中指,与太阴之筋并行,结于肘内廉,上臂阴,结腋下,下散前后挟胁;其支者,入腋,散胸中,结于臂。其病当所过者,支转筋前及胸痛息贲。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰孟冬痹也。
Thủ Tâm chủ chi cân, khởi ư trung chỉ, dữ Thái âm chi cân tịnh hành, kết ư trửu nội liêm, thượng tý âm, kết dịch hạ, hạ tán tiền hậu hiệp hiếp; kỳ chi giả, nhập dịch, tán hung trung, kết ư tý. Kỳ bệnh đương sở quá giả, chi chuyển cân tiền cập hung thống tức bôn. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du, danh viết Mạnh đông tý dã.
Kinh cân của Thủ Tâm chủ khởi ở ngón giữa, cùng đi với kinh cân Thái âm, kết ở bờ trong khuỷu, lên mặt âm của cánh tay, kết ở dưới nách, đi xuống tản ra trước sau, kẹp hai bên sườn. Nhánh của nó vào nách, tản trong ngực, kết ở cánh tay.
Bệnh của kinh cân này là nơi đường đi qua đều bị kéo căng, chuyển cân ở phía trước, cùng với đau ngực, tức bôn. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Bệnh này gọi là Mạnh đông tý.
Giải thích từ ngữ
手心主之筋: kinh cân của Thủ Tâm chủ, tức Tâm bào.
中指: ngón giữa, nơi khởi của đường cân này.
臂阴: mặt trong cánh tay.
胸痛息贲: đau ngực, khí nghịch tức bôn.
孟冬痹: chứng tý đầu mùa đông.
12
手少阴之筋,起于小指之内侧,结于锐骨,上结肘内廉,上入腋,交太阴,挟乳里,结于胸中,循臂下系于脐。其病内急心承伏梁,下为肘网。其病当所过者,支转筋,筋痛。治在燔针劫刺,以知为数,以痛为输。其成伏梁唾血脓者,死不治。经筋之病,寒则反折筋急,热则筋弛纵不收,阴痿不用。阳急则反折,阴急则俛不伸。焠刺者,刺寒急也,热则筋纵不收,无用燔针,名曰季冬痹也。
Thủ Thiếu âm chi cân, khởi ư tiểu chỉ chi nội trắc, kết ư nhuệ cốt, thượng kết trửu nội liêm, thượng nhập dịch, giao Thái âm, hiệp nhũ lý, kết ư hung trung, tuần tý hạ hệ ư tề. Kỳ bệnh nội cấp Tâm thừa phục lương, hạ vi trửu võng. Kỳ bệnh đương sở quá giả, chi chuyển cân, cân thống. Trị tại phiền châm kiếp thích, dĩ tri vi số, dĩ thống vi du. Kỳ thành phục lương thóa huyết nùng giả, tử bất trị. Kinh cân chi bệnh, hàn tắc phản chiết cân cấp, nhiệt tắc cân trì túng bất thu, âm nuy bất dụng. Dương cấp tắc phản chiết, âm cấp tắc phủ bất thân. Thối thích giả, thích hàn cấp dã, nhiệt tắc cân túng bất thu, vô dụng phiền châm, danh viết Quý đông tý dã.
Kinh cân của Thủ Thiếu âm khởi ở mặt trong ngón tay út, kết ở xương nhọn, đi lên kết ở bờ trong khuỷu, lên vào nách, giao với Thái âm, kẹp trong vùng vú, kết ở trong ngực, theo cánh tay đi xuống liên hệ với rốn.
Bệnh của kinh cân này là bên trong co gấp, vùng Tâm như bị phục lương đè giữ, xuống dưới thành lưới ở khuỷu. Nơi đường đi qua đều bị kéo căng, chuyển cân, gân đau. Trị bằng phiền châm, kiếp thích; lấy mức độ cảm biết làm số lần, lấy chỗ đau làm du huyệt. Nếu thành phục lương, khạc ra máu mủ thì chết, không trị được.
Bệnh của kinh cân, gặp hàn thì ưỡn ngược, gân co gấp; gặp nhiệt thì gân mềm nhão, buông lỏng không thu lại, âm nuy không dùng được. Dương cấp thì ưỡn ngược; âm cấp thì cúi xuống không duỗi được. Thối thích là để châm chứng hàn làm co gấp. Nếu do nhiệt khiến gân buông lỏng không thu, thì không dùng phiền châm. Bệnh này gọi là Quý đông tý.
Giải thích từ ngữ
手少阴之筋: kinh cân của Thủ Thiếu âm Tâm.
锐骨: xương nhọn, thường chỉ vùng xương lồi ở cổ tay hoặc khuỷu.
伏梁: khối tích hoặc cảm giác cứng đầy dưới vùng tim.
肘网: vùng gân lưới ở khuỷu.
寒则反折筋急: hàn làm gân co cứng, thân ưỡn ngược.
热则筋弛纵不收: nhiệt làm gân mềm nhão, không thu giữ được.
阴痿不用: phần âm mềm yếu, mất chức năng.
焠刺: thối thích, dùng kim nung nóng, thích hợp với hàn cấp.
季冬痹: chứng tý cuối mùa đông.
13
足之阳明,手之太阳,筋急则口目为僻,眦急不能卒视,治皆如右方也。
Túc chi Dương minh, Thủ chi Thái dương, cân cấp tắc khẩu mục vi tích, tý cấp bất năng tốt thị, trị giai như hữu phương dã.
Kinh cân Túc Dương minh và Thủ Thái dương, nếu gân co gấp thì miệng mắt bị lệch; khóe mắt co gấp thì không thể nhìn ngay được. Cách trị đều theo phương pháp đã nói ở trên.
Giải thích từ ngữ
口目为僻: miệng và mắt lệch, thường chỉ liệt mặt, co kéo mặt trong cách hiểu lâm sàng.
眦急: khóe mắt co gấp.
不能卒视: không thể lập tức nhìn rõ hoặc mở mắt nhìn bình thường.
如右方: theo các phép trị đã nêu ở trên, chủ yếu lấy chỗ đau làm du huyệt, tùy hàn nhiệt mà dùng phiền châm hoặc không dùng.
Kết luận
Thiên Kinh cân《经筋》 nói về hệ gân cơ đi theo mười hai kinh, khác với kinh mạch ở chỗ kinh cân chủ yếu biểu hiện ở co rút, đau, căng, mềm nhão, tê yếu, lệch miệng mắt, cứng cổ gáy, đau vai lưng, đau sườn, đau háng, đau gối, chuyển cân và các rối loạn vận động. Đường đi của kinh cân phần nhiều bắt đầu ở đầu ngón tay chân, kết ở cổ tay cổ chân, khuỷu gối, vai háng, rồi liên hệ lên thân mình, cổ gáy, đầu mặt, mắt tai miệng lưỡi. Trị pháp trọng yếu là “lấy đau làm du”, tức lấy chính nơi đau, nơi co rút, nơi kết tụ làm điểm trị; nếu do hàn làm gân co gấp thì có thể dùng phiền châm, thối thích, ôn thông; nếu do nhiệt làm gân mềm nhão, buông lỏng thì không nên dùng phép nung nóng quá mức. Thiên này giúp thấy rất rõ tư tưởng cổ nhân: kinh lạc không chỉ là đường khí huyết bên trong, mà còn có hệ gân cơ bên ngoài nâng đỡ vận động, tư thế và sự linh hoạt của toàn thân.