Phép đo xương để định độ dài kinh mạch
1
黄帝问于伯高曰:脉度言经脉之长短,何以立之?伯高曰:先度其骨节之大小、广狭、长短,而脉度定矣。
Hoàng Đế vấn ư Bá Cao viết: Mạch độ ngôn kinh mạch chi trường đoản, hà dĩ lập chi? Bá Cao viết: Tiên độ kỳ cốt tiết chi đại tiểu, quảng hiệp, trường đoản, nhi mạch độ định hĩ.
Hoàng Đế hỏi Bá Cao rằng: Thiên Mạch độ nói về dài ngắn của kinh mạch, vậy căn cứ vào đâu để xác lập? Bá Cao đáp: Trước hết phải đo lớn nhỏ, rộng hẹp, dài ngắn của xương khớp, rồi độ dài của mạch mới được xác định.
Giải thích từ ngữ
骨度: phép đo xương, dùng xương khớp làm chuẩn để định vị thân thể và kinh mạch.
脉度: độ dài của mạch, tức phép tính chiều dài đường kinh mạch.
骨节: xương và khớp, là mốc hình thể để định thốn pháp.
2
黄帝曰:愿闻众人之度。人长七尺五寸者,其骨节之大小长短各几何?伯高曰:头之大骨围,二尺六寸,胸围四尺五寸。腰围四尺二寸。发所覆者颅至项,尺二寸。发以下至颐,长一尺,君子终折。
Hoàng Đế viết: Nguyện văn chúng nhân chi độ. Nhân trường thất xích ngũ thốn giả, kỳ cốt tiết chi đại tiểu trường đoản các kỷ hà? Bá Cao viết: Đầu chi đại cốt vi, nhị xích lục thốn, hung vi tứ xích ngũ thốn. Yêu vi tứ xích nhị thốn. Phát sở phúc giả lô chí hạng, xích nhị thốn. Phát dĩ hạ chí di, trường nhất xích, quân tử chung chiết.
Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe phép đo của người bình thường. Người cao bảy thước năm tấc, xương khớp lớn nhỏ dài ngắn mỗi phần là bao nhiêu? Bá Cao đáp: Chu vi xương lớn của đầu là hai thước sáu tấc; vòng ngực là bốn thước năm tấc; vòng eo là bốn thước hai tấc. Phần tóc che phủ, từ sọ đến gáy là một thước hai tấc. Từ dưới chân tóc đến cằm dài một thước; đây là phép chia cố định của người quân tử.
Giải thích từ ngữ
众人之度: phép đo chuẩn của người bình thường, lấy thân hình trung bình làm mẫu.
七尺五寸: chiều cao tiêu chuẩn theo thước cổ.
头之大骨围: chu vi phần xương lớn của đầu.
颐: cằm.
君子终折: có thể hiểu là phép chia chuẩn, cố định, dùng làm mốc đo ở người trưởng thành.
3
结喉以下至缺盆中,长四寸。缺盆以下至𩩲𩨗,长九寸,过则肺大,不满则肺小。𩩲𩨗以下至天枢,长八寸,过则胃大,不及则胃小。天枢以下至横骨,长六寸半,过则回肠广长,不满则狭短。横骨,长六寸半。横骨上廉以下至内辅之上廉,长一尺八寸。内辅之上廉以下至下廉,长三寸半。内辅下廉,下至内踝,长一尺三寸。内踝以下至地,长三寸。膝膕以下至附属,长一尺六寸。附属以下至地,长三寸。故骨围大则太过,小则不及。
Kết hầu dĩ hạ chí Khuyết bồn trung, trường tứ thốn. Khuyết bồn dĩ hạ chí cưu vĩ, trường cửu thốn, quá tắc Phế đại, bất mãn tắc Phế tiểu. Cưu vĩ dĩ hạ chí Thiên khu, trường bát thốn, quá tắc Vị đại, bất cập tắc Vị tiểu. Thiên khu dĩ hạ chí Hoành cốt, trường lục thốn bán, quá tắc Hồi trường quảng trường, bất mãn tắc hiệp đoản. Hoành cốt, trường lục thốn bán. Hoành cốt thượng liêm dĩ hạ chí Nội phụ chi thượng liêm, trường nhất xích bát thốn. Nội phụ chi thượng liêm dĩ hạ chí hạ liêm, trường tam thốn bán. Nội phụ hạ liêm, hạ chí nội khoả, trường nhất xích tam thốn. Nội khoả dĩ hạ chí địa, trường tam thốn. Tất quắc dĩ hạ chí Phụ thuộc, trường nhất xích lục thốn. Phụ thuộc dĩ hạ chí địa, trường tam thốn. Cố cốt vi đại tắc thái quá, tiểu tắc bất cập.
Từ dưới kết hầu đến giữa Khuyết bồn dài bốn tấc. Từ dưới Khuyết bồn đến Cưu vĩ dài chín tấc; nếu vượt quá thì Phế lớn, không đủ thì Phế nhỏ. Từ dưới Cưu vĩ đến Thiên khu dài tám tấc; nếu vượt quá thì Vị lớn, không tới thì Vị nhỏ. Từ Thiên khu xuống Hoành cốt dài sáu tấc rưỡi; nếu vượt quá thì hồi trường rộng và dài, không đủ thì hẹp và ngắn. Hoành cốt dài sáu tấc rưỡi.
Từ bờ trên Hoành cốt xuống bờ trên Nội phụ dài một thước tám tấc. Từ bờ trên Nội phụ xuống bờ dưới Nội phụ dài ba tấc rưỡi. Từ bờ dưới Nội phụ xuống mắt cá trong dài một thước ba tấc. Từ dưới mắt cá trong xuống đất dài ba tấc. Từ dưới khoeo gối xuống Phụ thuộc dài một thước sáu tấc. Từ dưới Phụ thuộc xuống đất dài ba tấc. Vì vậy, chu vi xương lớn thì là thái quá, nhỏ thì là bất cập.
Giải thích từ ngữ
结喉: yết hầu, trái cổ.
缺盆: hõm trên xương đòn.
𩩲𩨗: thường hiểu là Cưu vĩ, vùng mũi ức.
天枢: Thiên khu, vùng ngang rốn, hai bên rốn.
横骨: Hoành cốt, vùng xương mu.
内辅: vùng xương phụ bên trong, mốc ở mặt trong chân.
内踝: mắt cá trong.
膝膕: vùng gối và khoeo.
附属: mốc ở vùng mắt cá ngoài hoặc phần phụ thuộc ở đoạn dưới chân, dùng làm chuẩn đo trong cổ văn.
太过、不及: quá mức và không đủ, chỉ sự sai biệt lớn nhỏ so với chuẩn hình thể.
4
角以下至柱骨,长一尺。行腋中不见者,长四寸。腋以下至季胁,长一尺二寸。季胁以下至髀枢,长六寸,髀枢以下至膝中,长一尺九寸。膝以下至外踝,长一尺六寸。外踝以下至京骨,长三寸。京骨以下至地,长一寸。
Giác dĩ hạ chí trụ cốt, trường nhất xích. Hành dịch trung bất kiến giả, trường tứ thốn. Dịch dĩ hạ chí quý hiếp, trường nhất xích nhị thốn. Quý hiếp dĩ hạ chí bễ khu, trường lục thốn, bễ khu dĩ hạ chí tất trung, trường nhất xích cửu thốn. Tất dĩ hạ chí ngoại khoả, trường nhất xích lục thốn. Ngoại khoả dĩ hạ chí Kinh cốt, trường tam thốn. Kinh cốt dĩ hạ chí địa, trường nhất thốn.
Từ dưới góc đầu đến trụ cốt dài một thước. Đoạn đi trong nách không thấy được dài bốn tấc. Từ dưới nách đến sườn cụt dài một thước hai tấc. Từ dưới sườn cụt đến Bễ khu dài sáu tấc. Từ Bễ khu xuống giữa gối dài một thước chín tấc. Từ dưới gối xuống mắt cá ngoài dài một thước sáu tấc. Từ dưới mắt cá ngoài đến Kinh cốt dài ba tấc. Từ dưới Kinh cốt xuống đất dài một tấc.
Giải thích từ ngữ
角: góc đầu hoặc vùng góc bên đầu, dùng làm mốc đo.
柱骨: xương trụ vùng cổ vai, thường liên hệ khu vực xương đòn và cột cổ.
季胁: sườn cụt, vùng hạ sườn.
髀枢: Bễ khu, khớp háng.
外踝: mắt cá ngoài.
京骨: Kinh cốt, mốc xương ở bờ ngoài bàn chân.
5
耳后当完骨者,广九寸。耳前当耳门者,广一尺三寸。两颧之间,相去七寸。两乳之间,广九寸半。两髀之间,广六寸半。
Nhĩ hậu đương Hoàn cốt giả, quảng cửu thốn. Nhĩ tiền đương Nhĩ môn giả, quảng nhất xích tam thốn. Lưỡng quyền chi gian, tương khứ thất thốn. Lưỡng nhũ chi gian, quảng cửu thốn bán. Lưỡng bễ chi gian, quảng lục thốn bán.
Phía sau tai, ngang Hoàn cốt, rộng chín tấc. Phía trước tai, ngang Nhĩ môn, rộng một thước ba tấc. Khoảng cách giữa hai gò má là bảy tấc. Khoảng cách giữa hai vú là chín tấc rưỡi. Khoảng cách giữa hai khớp háng là sáu tấc rưỡi.
Giải thích từ ngữ
完骨: Hoàn cốt, vùng xương chũm sau tai.
耳门: Nhĩ môn, vùng trước tai.
两颧: hai gò má.
两乳: hai đầu vú, mốc quan trọng để đo vùng ngực.
两髀: hai bên khớp háng hoặc vùng đùi trên.
6
足长一尺二寸,广四寸半。肩至肘,长一尺七寸;肘至腕,长一尺二寸半。腕至中指本节,长四寸。本节至其末,长四寸半。
Túc trường nhất xích nhị thốn, quảng tứ thốn bán. Kiên chí trửu, trường nhất xích thất thốn; trửu chí uyển, trường nhất xích nhị thốn bán. Uyển chí trung chỉ bản tiết, trường tứ thốn. Bản tiết chí kỳ mạt, trường tứ thốn bán.
Bàn chân dài một thước hai tấc, rộng bốn tấc rưỡi. Từ vai đến khuỷu dài một thước bảy tấc. Từ khuỷu đến cổ tay dài một thước hai tấc rưỡi. Từ cổ tay đến đốt gốc của ngón giữa dài bốn tấc. Từ đốt gốc ấy đến đầu ngón giữa dài bốn tấc rưỡi.
Giải thích từ ngữ
肩至肘: đoạn từ vai đến khuỷu.
肘至腕: đoạn từ khuỷu đến cổ tay.
中指本节: đốt gốc của ngón giữa.
其末: đầu tận cùng của ngón giữa.
7
项发以下至背骨,长二寸半,膂骨以下至尾骶,二十一节,长三尺,上节长一寸四分分之一,奇分在下,故上七节至于膂骨,九寸八分分之七。此众人骨之度也,所以立经脉之长短也。是故视其经脉之
Hạng phát dĩ hạ chí bối cốt, trường nhị thốn bán, lữ cốt dĩ hạ chí vĩ để, nhị thập nhất tiết, trường tam xích, thượng tiết trường nhất thốn tứ phân phân chi nhất, kỳ phân tại hạ, cố thượng thất tiết chí ư lữ cốt, cửu thốn bát phân phân chi thất. Thử chúng nhân cốt chi độ dã, sở dĩ lập kinh mạch chi trường đoản dã. Thị cố thị kỳ kinh mạch chi…
Từ dưới chân tóc gáy đến xương lưng dài hai tấc rưỡi. Từ lữ cốt xuống đến xương cùng cụt, có hai mươi mốt đốt, dài ba thước. Đốt trên dài một tấc bốn phân và một phần của phân; phần lẻ dồn xuống dưới. Vì vậy, bảy đốt trên đến lữ cốt là chín tấc tám phân và bảy phần của phân. Đây là phép đo xương của người bình thường, dùng để xác lập dài ngắn của kinh mạch. Vì vậy khi xem kinh mạch của người ấy…
Giải thích từ ngữ
项发: chân tóc vùng gáy.
背骨: xương lưng.
膂骨: lữ cốt, có thể hiểu là cột sống hoặc mốc xương sống lưng.
尾骶: xương cùng cụt.
二十一节: hai mươi mốt đốt, chỉ các đốt xương sống theo cách đếm cổ.
奇分在下: phần lẻ dồn xuống dưới, tức số đo không chia đều hoàn toàn mà có phần thừa ở dưới.
8
在于身也,其见浮而坚,其见明而大者,多血,细而沉者,多气也。
Tại ư thân dã, kỳ kiến phù nhi kiên, kỳ kiến minh nhi đại giả, đa huyết, tế nhi trầm giả, đa khí dã.
Ở trên thân thể, kinh mạch nào hiện ra nổi mà chắc, hiện rõ mà lớn, là nhiều huyết; kinh mạch nào nhỏ mà chìm, là nhiều khí.
Giải thích từ ngữ
浮而坚: nổi mà chắc, biểu hiện huyết ở mạch tương đối đầy.
明而大: hiện rõ và lớn.
多血: huyết nhiều, mạch dễ thấy, có hình rõ.
细而沉: nhỏ và chìm, mạch không nổi rõ.
多气: khí nhiều hơn huyết, vận hành ở sâu, khó thấy bằng mắt.
Tiểu kết
Thiên Cốt độ《骨度》 lấy phép đo xương làm nền tảng để xác định độ dài kinh mạch. Ý chính là: muốn biết kinh mạch dài ngắn, nông sâu, vị trí thế nào, trước hết phải biết hình thể con người, nhất là lớn nhỏ, rộng hẹp, dài ngắn của xương khớp. Cổ nhân lấy người trưởng thành cao bảy thước năm tấc làm chuẩn, rồi định các mốc như đầu, ngực, eo, cổ, Khuyết bồn, Cưu vĩ, Thiên khu, Hoành cốt, khớp háng, gối, mắt cá, bàn chân, vai, khuỷu, cổ tay, ngón tay, cột sống. Tuy nhiên, thiên này cũng ngầm nhắc rằng phép đo chỉ là chuẩn trung bình; khi ứng dụng phải xét người cao thấp, béo gầy, xương lớn nhỏ, khí huyết thịnh suy. Kinh mạch hiện nổi rõ, lớn và chắc thường là nhiều huyết; nhỏ và chìm thường là nhiều khí. Như vậy, “cốt độ” không chỉ là đo thân thể, mà còn là nền tảng để hiểu kinh mạch và định phép châm cho phù hợp.