Bàn về yếu lĩnh chẩn đoán và chứng kinh mạch đến lúc tận
Câu 1
黄帝问曰:诊要何如。歧伯对曰:正月二月,天气始方,地气始发,人气在肝。三月四月,天气正方,地气定发,人气在脾。五月六月,天气盛,地气高,人气在头。七月八月,阴气始杀,人气在肺。九月十月,阴气始冰,地气始闭,人气在心。十一月十二月,冰复,地气合,人气在肾。
Hán Việt
Hoàng Đế vấn viết: Chẩn yếu hà như?
Kỳ Bá đối viết: Chính nguyệt nhị nguyệt, thiên khí thủy phương, địa khí thủy phát, nhân khí tại Can. Tam nguyệt tứ nguyệt, thiên khí chính phương, địa khí định phát, nhân khí tại Tỳ. Ngũ nguyệt lục nguyệt, thiên khí thịnh, địa khí cao, nhân khí tại đầu. Thất nguyệt bát nguyệt, âm khí thủy sát, nhân khí tại Phế. Cửu nguyệt thập nguyệt, âm khí thủy băng, địa khí thủy bế, nhân khí tại Tâm. Thập nhất nguyệt thập nhị nguyệt, băng phục, địa khí hợp, nhân khí tại Thận.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Yếu lĩnh của chẩn đoán là thế nào?
Kỳ Bá đáp:
Tháng giêng và tháng hai, thiên khí bắt đầu mở rộng, địa khí bắt đầu phát ra, nhân khí ở Can.
Tháng ba và tháng tư, thiên khí đã chính thức mở rộng, địa khí đã ổn định mà phát ra, nhân khí ở Tỳ.
Tháng năm và tháng sáu, thiên khí thịnh, địa khí bốc cao, nhân khí ở đầu.
Tháng bảy và tháng tám, âm khí bắt đầu có tính túc sát, nhân khí ở Phế.
Tháng chín và tháng mười, âm khí bắt đầu đóng băng, địa khí bắt đầu khép lại, nhân khí ở Tâm.
Tháng mười một và tháng mười hai, băng giá trở lại, địa khí hợp kín, nhân khí ở Thận.
Giải thích từ ngữ
Chẩn yếu (診要): yếu lĩnh của phép chẩn đoán, tức điều quan trọng nhất cần nắm khi xét bệnh.
Thiên khí thủy phương (天氣始方): thiên khí bắt đầu mở ra, phát triển, có tính sinh phát của đầu xuân.
Địa khí thủy phát (地氣始發): địa khí bắt đầu phát động, vạn vật trong đất bắt đầu sinh cơ.
Nhân khí tại Can (人氣在肝): khí của con người theo thời xuân mà ứng với Can, vì Can thuộc Mộc, chủ sinh phát.
Nhân khí tại Tỳ (人氣在脾): vào cuối xuân đầu hạ, khí hóa liên hệ Tỳ, trung thổ, vận hóa.
Nhân khí tại đầu (人氣在頭): tháng năm, tháng sáu dương khí thịnh, khí bốc lên trên, nên nhân khí ở đầu.
Âm khí thủy sát (陰氣始殺): âm khí bắt đầu thu lại, có khí túc sát của mùa thu.
Nhân khí tại Phế (人氣在肺): mùa thu ứng Phế, Phế chủ thu liễm, thanh túc.
Âm khí thủy băng (陰氣始冰): âm khí lạnh dần, bắt đầu có tượng đóng băng.
Địa khí thủy bế (地氣始閉): địa khí bắt đầu khép kín, vạn vật thu tàng.
Nhân khí tại Thận (人氣在腎): cuối đông, khí người quy về Thận, Thận chủ tàng tinh, ứng mùa đông.
Câu 2
故春刺散俞,及与分理,血出而止,甚者传气,闲者环也。夏刺络俞,见血而止,尽气闭环,痛病必下。秋刺皮肤,循理,上下同法,神变而止。冬刺俞窍于分理,甚者直下,闲者散下。春夏秋冬,各有所刺,法其所在。
Hán Việt
Cố xuân thích tán du, cập dữ phân lý, huyết xuất nhi chỉ, thậm giả truyền khí, nhàn giả hoàn dã. Hạ thích lạc du, kiến huyết nhi chỉ, tận khí bế hoàn, thống bệnh tất hạ. Thu thích bì phu, tuần lý, thượng hạ đồng pháp, thần biến nhi chỉ. Đông thích du khiếu vu phân lý, thậm giả trực hạ, nhàn giả tán hạ. Xuân hạ thu đông, các hữu sở thích, pháp kỳ sở tại.
Dịch nghĩa
Cho nên, mùa xuân nên châm các tán du và vùng phân lý, thấy máu ra thì dừng. Bệnh nặng thì làm cho khí truyền đi, bệnh nhẹ thì làm cho khí vận hành vòng lại.
Mùa hạ nên châm lạc du, thấy máu thì dừng. Làm cho khí hết bế, vòng khí khép lại, bệnh đau tất sẽ đi xuống.
Mùa thu nên châm ở da, theo thớ lý mà châm, trên dưới cùng một phép, khi thần khí biến chuyển thì dừng.
Mùa đông nên châm du khiếu ở phân lý. Bệnh nặng thì châm thẳng xuống; bệnh nhẹ thì làm cho tà tán xuống.
Xuân, hạ, thu, đông, mỗi mùa đều có nơi nên châm, phải theo nơi khí đang ở mà đặt phép.
Giải thích từ ngữ
Tán du (散俞): các huyệt hoặc nơi kinh khí phân tán ở phần nông, phù hợp với khí xuân còn đang phát tán.
Phân lý (分理): khe thớ giữa da thịt, cơ nhục, nơi vệ khí và kinh khí phân bố.
Huyết xuất nhi chỉ (血出而止): thấy máu ra thì dừng, ý nói châm tiết tà vừa đủ, không làm tổn thương chính khí.
Truyền khí (傳氣): làm cho khí truyền đi, thông đạt qua kinh lạc.
Nhàn giả hoàn dã (閒者環也): bệnh nhẹ thì làm cho khí vận hành vòng lại, không cần công mạnh.
Lạc du (絡俞): huyệt hoặc chỗ thuộc lạc mạch. Mùa hạ khí huyết thịnh ở biểu lạc nên châm lạc.
Tận khí bế hoàn (盡氣閉環): làm hết khí bế, khiến vòng vận hành của khí được đóng mở đúng mức.
Thần biến nhi chỉ (神變而止): khi thần sắc, cảm giác, khí cơ có biến chuyển thì dừng châm; không châm quá mức.
Du khiếu (俞竅): nơi kinh khí ra vào, các khe huyệt sâu hơn dùng trong mùa đông khi khí thu tàng.
Pháp kỳ sở tại (法其所在): theo nơi khí của mùa và khí bệnh đang ở mà dùng phép, không dùng một cách cố định cho mọi mùa.
Câu 3
春刺夏分,脉乱气微,入淫骨髓,病不能愈,令人不嗜食,又且少气。春刺秋分,筋挛,逆气环,为咳嗽,病不愈,令人时惊,又且哭。春刺冬分,邪气著藏,令人胀,病不愈,又且欲言语。夏刺春分,病不愈,令人解墯。夏刺秋分,病不愈,令人心中欲无言,惕惕如人将补之。夏刺冬分,病不愈,令人少气,时欲怒。秋刺春分,病不已,令人惕然欲有所为,起而忘之。秋刺夏分,病不已,令人益嗜卧,又且善㝱。秋刺冬分,病不已,令人洒洒时寒。冬刺春分,病不已,令人欲卧不能眠,眠而有见。冬刺夏分,病不愈,气上,发为诸痹。冬刺秋分,病不已,令人善渴。
Hán Việt
Xuân thích hạ phân, mạch loạn khí vi, nhập dâm cốt tủy, bệnh bất năng dũ, linh nhân bất thị thực, hựu thả thiểu khí.
Xuân thích thu phân, cân luyến, nghịch khí hoàn, vi khái thấu, bệnh bất dũ, linh nhân thời kinh, hựu thả khốc.
Xuân thích đông phân, tà khí trước tạng, linh nhân trướng, bệnh bất dũ, hựu thả dục ngôn ngữ.
Hạ thích xuân phân, bệnh bất dũ, linh nhân giải đọa.
Hạ thích thu phân, bệnh bất dũ, linh nhân tâm trung dục vô ngôn, dịch dịch như nhân tương bổ chi.
Hạ thích đông phân, bệnh bất dũ, linh nhân thiểu khí, thời dục nộ.
Thu thích xuân phân, bệnh bất dĩ, linh nhân dịch nhiên dục hữu sở vi, khởi nhi vong chi.
Thu thích hạ phân, bệnh bất dĩ, linh nhân ích thị ngọa, hựu thả thiện mộng.
Thu thích đông phân, bệnh bất dĩ, linh nhân sái sái thời hàn.
Đông thích xuân phân, bệnh bất dĩ, linh nhân dục ngọa bất năng miên, miên nhi hữu kiến.
Đông thích hạ phân, bệnh bất dũ, khí thượng, phát vi chư tý.
Đông thích thu phân, bệnh bất dĩ, linh nhân thiện khát.
Dịch nghĩa
Mùa xuân mà châm theo phần của mùa hạ, thì mạch loạn, khí suy yếu, tà khí thấm sâu vào xương tủy, bệnh không thể khỏi, khiến người không muốn ăn, lại thêm thiếu khí.
Mùa xuân mà châm theo phần của mùa thu, thì gân co rút, khí nghịch vòng lại, thành ho khan, bệnh không khỏi, khiến người thỉnh thoảng kinh sợ, lại hay khóc.
Mùa xuân mà châm theo phần của mùa đông, thì tà khí bám vào tạng, khiến người trướng đầy, bệnh không khỏi, lại muốn nói nhiều.
Mùa hạ mà châm theo phần của mùa xuân, bệnh không khỏi, khiến người rã rời, mệt mỏi.
Mùa hạ mà châm theo phần của mùa thu, bệnh không khỏi, khiến trong Tâm muốn im lặng không nói, lòng lo sợ bất an như sắp bị người ta bắt giữ.
Mùa hạ mà châm theo phần của mùa đông, bệnh không khỏi, khiến người thiếu khí, thỉnh thoảng muốn giận.
Mùa thu mà châm theo phần của mùa xuân, bệnh không dứt, khiến người bồn chồn muốn làm điều gì, nhưng vừa đứng dậy lại quên mất.
Mùa thu mà châm theo phần của mùa hạ, bệnh không dứt, khiến người càng thích nằm, lại hay mộng mị.
Mùa thu mà châm theo phần của mùa đông, bệnh không dứt, khiến người rờn rợn, thỉnh thoảng thấy lạnh.
Mùa đông mà châm theo phần của mùa xuân, bệnh không dứt, khiến người muốn nằm mà không ngủ được, khi ngủ thì có điều thấy trong mộng.
Mùa đông mà châm theo phần của mùa hạ, bệnh không khỏi, khí nghịch lên trên, phát thành các chứng tý.
Mùa đông mà châm theo phần của mùa thu, bệnh không dứt, khiến người hay khát.
Giải thích từ ngữ
Xuân thích hạ phân (春刺夏分): mùa xuân mà dùng phép châm của mùa hạ, tức châm sai thời khí.
Hạ phân, thu phân, đông phân (夏分,秋分,冬分): phần khí, tầng bệnh, vị trí châm và phép châm tương ứng với mùa hạ, thu, đông.
Mạch loạn khí vi (脈亂氣微): mạch rối loạn, khí suy yếu, do châm không hợp mùa làm tổn khí cơ.
Nhập dâm cốt tủy (入淫骨髓): tà khí thấm sâu vào xương tủy, bệnh trở nên sâu nặng.
Bất thị thực (不嗜食): không muốn ăn, Tỳ Vị bị tổn.
Cân luyến (筋攣): gân co rút.
Nghịch khí hoàn (逆氣環): khí nghịch mà quẩn vòng, không thông đạt.
Thời kinh (時驚): thỉnh thoảng kinh sợ, thần khí không yên.
Giải đọa (解墯): rã rời, mệt mỏi, thân thể buông xuôi không có sức.
Dịch dịch (惕惕): lo sợ, bất an, kinh động trong lòng.
Sái sái thời hàn (洒洒時寒): cảm giác rờn rợn, ớn lạnh từng lúc.
Miên nhi hữu kiến (眠而有見): ngủ mà thấy cảnh tượng, mộng nhiều hoặc có cảm giác như thấy vật.
Chư tý (諸痹): các chứng tý, gồm đau, tê, nặng, co rút, vận động khó do khí huyết bế trở.
Thiện khát (善渴): hay khát, thường liên quan tân dịch bị tổn hoặc khí hóa không điều.
Câu 4
凡刺胸腹者,必避五藏。中心者,环死;中脾者,五日死;中肾者,七日死;中肺者,五日死;中鬲者,皆为伤中,其病虽愈,不过一岁必死。刺避五藏者,知逆从也。所谓从者,鬲与脾肾之处,不知者反之。刺胸腹者,必以布憿著之,乃从单布上刺,刺之不愈,复刺。刺针必肃,刺肿摇针,经刺勿摇,此刺之道也。
Hán Việt
Phàm thích hung phúc giả, tất tị ngũ tạng. Trung Tâm giả, hoàn tử; trung Tỳ giả, ngũ nhật tử; trung Thận giả, thất nhật tử; trung Phế giả, ngũ nhật tử; trung cách giả, giai vi thương trung, kỳ bệnh tuy dũ, bất quá nhất tuế tất tử.
Thích tị ngũ tạng giả, tri nghịch tòng dã. Sở vị tòng giả, cách dữ Tỳ Thận chi xứ, bất tri giả phản chi.
Thích hung phúc giả, tất dĩ bố khiếu trước chi, nãi tòng đơn bố thượng thích. Thích chi bất dũ, phục thích.
Thích châm tất túc. Thích thũng dao châm, kinh thích vật dao, thử thích chi đạo dã.
Dịch nghĩa
Phàm châm vùng ngực bụng, nhất định phải tránh năm tạng. Châm trúng Tâm thì chết rất nhanh; châm trúng Tỳ thì năm ngày chết; châm trúng Thận thì bảy ngày chết; châm trúng Phế thì năm ngày chết; châm trúng hoành cách đều là làm thương bên trong, bệnh tuy có thể tạm khỏi nhưng không quá một năm tất chết.
Châm mà biết tránh năm tạng là biết lẽ nghịch thuận. Điều gọi là thuận là phải biết vị trí của hoành cách cùng nơi của Tỳ, Thận. Người không biết thì làm trái lại.
Châm vùng ngực bụng, nhất định phải đặt vải lên, rồi châm qua một lớp vải mỏng. Nếu châm mà bệnh chưa khỏi thì lại châm tiếp.
Khi châm kim, tất phải nghiêm cẩn. Châm chỗ sưng thì có thể lay kim. Châm kinh mạch thì không được lay kim. Đó là đạo của phép châm.
Giải thích từ ngữ
Thích hung phúc (刺胸腹): châm vùng ngực và bụng, nơi gần các tạng phủ quan trọng nên phải đặc biệt thận trọng.
Tị ngũ tạng (避五藏): tránh làm tổn thương năm tạng. Đây là nguyên tắc an toàn rất quan trọng trong châm pháp.
Trung Tâm, trung Tỳ, trung Thận, trung Phế (中心,中脾,中腎,中肺): châm trúng các tạng này. Văn cổ dùng lời rất nghiêm khắc để cảnh báo nguy hiểm.
Trung cách (中鬲): châm trúng hoành cách, gây thương tổn bên trong.
Thương trung (傷中): tổn thương bên trong, tổn thương tạng phủ hoặc chính khí sâu.
Tri nghịch tòng (知逆從): biết thế nào là thuận, thế nào là nghịch; biết hướng châm, độ sâu, vị trí cần tránh.
Bố khiếu (布憿): vải đệm hoặc vải phủ. Văn ý nói châm vùng nguy hiểm phải có cách bảo hộ, không được tùy tiện.
Thích châm tất túc (刺針必肅): khi châm phải nghiêm túc, cẩn trọng, không hấp tấp, không coi thường.
Thích thũng dao châm (刺腫搖針): châm chỗ sưng có thể lay kim để thông tán kết tụ.
Kinh thích vật dao (經刺勿搖): châm vào kinh mạch thì không lay kim, để tránh làm tổn thương kinh khí.
Câu 5
帝曰:愿闻十二经脉之终,奈何。歧伯曰:太阳之脉,其终也戴眼反折瘈瘲,其色白,绝汗乃出,出则死矣。少阳终者,耳聋百节皆纵,目𦊷绝系,绝系一日半死,其死也,色先青白,乃死矣。阳明终者,口目动作,善惊妄言,色黄,其上下经盛,不仁,则终矣。少阴终者,面黑齿长而垢,腹胀闭,上下不通而终矣。太阴终者,腹胀闭不得息,善噫善呕,呕则逆,逆则面赤,不逆则上下不通,不通则面黑皮毛焦而终矣。厥阴终者,中热嗌乾,善溺心烦,甚则舌卷卵上缩而终矣。此十二经之所败也。
Hán Việt
Đế viết: Nguyện văn thập nhị kinh mạch chi chung, nại hà?
Kỳ Bá viết: Thái dương chi mạch, kỳ chung dã, đái nhãn phản chiết, khiết túng, kỳ sắc bạch, tuyệt hãn nãi xuất, xuất tắc tử hĩ.
Thiếu dương chung giả, nhĩ lung, bách tiết giai túng, mục hoang tuyệt hệ, tuyệt hệ nhất nhật bán tử. Kỳ tử dã, sắc tiên thanh bạch, nãi tử hĩ.
Dương minh chung giả, khẩu mục động tác, thiện kinh vọng ngôn, sắc hoàng, kỳ thượng hạ kinh thịnh, bất nhân, tắc chung hĩ.
Thiếu âm chung giả, diện hắc, xỉ trường nhi cấu, phúc trướng bế, thượng hạ bất thông nhi chung hĩ.
Thái âm chung giả, phúc trướng bế bất đắc tức, thiện ế thiện ẩu. Ẩu tắc nghịch, nghịch tắc diện xích; bất nghịch tắc thượng hạ bất thông; bất thông tắc diện hắc, bì mao tiêu nhi chung hĩ.
Quyết âm chung giả, trung nhiệt, ách can, thiện nịch, Tâm phiền, thậm tắc thiệt quyển, noãn thượng súc nhi chung hĩ. Thử thập nhị kinh chi sở bại dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe về lúc mười hai kinh mạch đi đến tận cùng thì thế nào?
Kỳ Bá đáp:
Mạch Thái dương đến lúc tận thì mắt trợn ngược, thân ưỡn cong ra sau, co giật, sắc mặt trắng, tuyệt hãn bèn ra; mồ hôi ấy đã ra thì chết.
Thiếu dương đến lúc tận thì tai điếc, trăm khớp đều buông lỏng, mắt mất sự ràng buộc. Khi hệ ràng buộc đã tuyệt thì một ngày rưỡi sẽ chết. Lúc sắp chết, sắc trước tiên xanh trắng, rồi chết.
Dương minh đến lúc tận thì miệng và mắt động giật, hay kinh sợ, nói sảng, sắc vàng. Khi kinh trên dưới đều thịnh mà thân thể bất nhân, thì là tận.
Thiếu âm đến lúc tận thì mặt đen, răng như dài ra và bẩn, bụng trướng bế, trên dưới không thông mà tận.
Thái âm đến lúc tận thì bụng trướng bế, không thở được, hay ợ, hay nôn. Nôn thì khí nghịch; khí nghịch thì mặt đỏ. Nếu không nghịch thì trên dưới không thông; không thông thì mặt đen, da lông khô cháy mà tận.
Quyết âm đến lúc tận thì bên trong nóng, họng khô, hay tiểu tiện, Tâm phiền. Nặng thì lưỡi cuộn, tinh hoàn co rút lên trên mà tận.
Đó là những biểu hiện bại tuyệt của mười hai kinh.
Giải thích từ ngữ
Kinh chung (經終): kinh khí đi đến tận cùng, tức chính khí của kinh mạch bại tuyệt, bệnh thế rất nguy.
Thái dương chi mạch (太陽之脈): hệ kinh Thái dương, chủ phần biểu, lưng gáy, mắt, kinh cân. Khi bại có thể thấy mắt trợn, lưng ưỡn, co giật.
Đái nhãn (戴眼): mắt trợn ngược lên trên.
Phản chiết (反折): thân ưỡn cong ra sau, lưng gáy cứng ngược.
Khiết túng (瘈瘲): co giật, lúc co lúc duỗi, gân mạch mất điều hòa.
Tuyệt hãn (絕汗): mồ hôi tuyệt, mồ hôi lúc chính khí sắp thoát, là dấu nguy.
Thiếu dương chung (少陽終): Thiếu dương chủ trục xoay, liên hệ tai, hông sườn, khớp. Khi bại có tai điếc, khớp lỏng, mắt mất thần.
Bách tiết giai túng (百節皆縱): các khớp đều buông lỏng, gân mạch không còn giữ được.
Tuyệt hệ (絕系): hệ ràng buộc bị đứt, có thể chỉ gân mạch, thần khí, hệ nâng giữ của mắt và khớp.
Dương minh chung (陽明終): Dương minh nhiều khí nhiều huyết, liên hệ miệng, mặt, mắt, Vị Trường. Khi bại có miệng mắt động, nói sảng, sắc vàng, bất nhân.
Bất nhân (不仁): tê dại, mất cảm giác, không biết đau ngứa.
Thiếu âm chung (少陰終): Thiếu âm liên hệ Tâm Thận, thủy hỏa, căn bản sinh mệnh. Khi bại có mặt đen, răng bẩn, bụng trướng bế, trên dưới không thông.
Xỉ trường nhi cấu (齒長而垢): răng trông như dài ra và bám bẩn, do lợi thịt suy rút, tân dịch kiệt, Thận khí suy.
Thái âm chung (太陰終): Thái âm liên hệ Tỳ Phế, vận hóa và khí. Khi bại có bụng trướng, không thở được, ợ nôn, da lông khô.
Thiện ế thiện ẩu (善噫善嘔): hay ợ hơi, hay nôn, khí cơ trung tiêu nghịch loạn.
Bì mao tiêu (皮毛焦): da lông khô cháy, Phế Tỳ khí tân suy kiệt.
Quyết âm chung (厥陰終): Quyết âm liên hệ Can và Tâm bào, nơi âm tận dương sinh. Khi bại có nội nhiệt, họng khô, Tâm phiền, lưỡi cuộn, tinh hoàn co rút.
Ách can (嗌乾): họng khô.
Thiệt quyển (舌卷): lưỡi cuộn lại, thường là dấu Can kinh, Quyết âm nguy.
Noãn thượng súc (卵上縮): tinh hoàn co rút lên trên, dấu Quyết âm hàn nhiệt nghịch loạn, bệnh rất nặng.
Nhận xét chung
Thiên Chẩn yếu kinh chung luận nêu hai phần rất quan trọng: một là phép chẩn và phép châm phải thuận theo thời khí; hai là dấu hiệu kinh mạch đến lúc bại tuyệt.
Phần đầu nói rõ nhân khí theo tháng mà ở các bộ phận khác nhau: đầu xuân ở Can, cuối xuân ở Tỳ, giữa hạ lên đầu, thu ở Phế, đầu đông ở Tâm, cuối đông ở Thận. Điều này nhắc rằng chẩn bệnh và châm trị không thể rời thời tiết. Cùng một bệnh nhưng gặp mùa khác, khí ở nơi khác, phép châm cũng phải khác.
Đoạn về châm theo bốn mùa rất nghiêm. Mùa xuân, hạ, thu, đông đều có nơi nên châm và tầng sâu nông khác nhau. Nếu mùa này mà dùng phép của mùa kia, khí cơ sẽ rối, bệnh không khỏi, thậm chí sinh thêm chứng mới như thiếu khí, kinh sợ, ho, trướng, mộng nhiều, khát, tý chứng. Đây là lời nhắc người học châm cứu phải kính trọng thời khí, không chỉ dựa vào huyệt vị một cách máy móc.
Phần châm vùng ngực bụng đặc biệt nhấn mạnh sự an toàn. Châm vùng gần tạng phủ phải tránh năm tạng, phải biết nghịch thuận, phải nghiêm cẩn. Văn cổ nói châm trúng tạng thì chết trong mấy ngày hoặc trong một năm, lời rất nặng, mục đích là cảnh tỉnh người hành châm không được tùy tiện.
Phần cuối nói về kinh chung là các dấu hiệu rất nguy khi kinh khí của tam dương tam âm bại tuyệt. Những mô tả như mắt trợn, thân ưỡn, tuyệt hãn, tai điếc, khớp buông, nói sảng, mặt đen, bụng trướng bế, da lông khô, lưỡi cuộn, tinh hoàn co lên đều là dấu chính khí đại suy, âm dương không còn giao thông. Ta nên hiểu đây là ngôn ngữ tiên lượng cổ, dùng để nhận biết bệnh cực kỳ nguy nặng, không nên xem nhẹ.
Tóm lại, thiên này dạy người học y phải nắm yếu lĩnh chẩn đoán, biết thời khí, biết nơi nhân khí đang ở, biết phép châm đúng mùa, biết tránh nơi nguy hiểm, và biết dấu hiệu kinh khí bại tuyệt. Đó là thái độ vừa tinh tế vừa khiêm cẩn trước sinh mệnh con người.