Quách Bốc Lạc
Mạng Sức khỏe Sinh lý CPO
http://www.zgxl.net
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ THỰC QUẢN?
Tỷ lệ mắc ung thư thực quản tại Trung Quốc có đặc điểm vùng miền rõ rệt: miền Bắc gặp nhiều hơn miền Nam, nam giới nhiều hơn nữ giới. Bệnh phần lớn xuất hiện ở người trên 40 tuổi; nhóm tuổi từ 50–69 chiếm hơn 60% tổng số trường hợp tử vong do ung thư thực quản.
Nguyên nhân ung thư thực quản khá phức tạp, phần nhiều do nhiều yếu tố phối hợp gây nên. Nhìn chung, bệnh được cho là có liên quan đến hút thuốc, uống rượu, thường xuyên ăn thức ăn quá nóng hoặc thô cứng, dùng lâu ngày rau muối và dưa chua, tiếp xúc với chất gây ung thư trong thức ăn, suy dinh dưỡng, vệ sinh khoang miệng kém, viêm thực quản mạn tính, yếu tố di truyền hoặc rối loạn chức năng miễn dịch.
Diễn biến tự nhiên của ung thư thực quản giai đoạn sớm trung bình khoảng ba năm hoặc lâu hơn. Phần lớn người bệnh ở giai đoạn sớm đều có các triệu chứng chủ quan với mức độ khác nhau. Khi xuất hiện những biểu hiện sau, cần đặc biệt chú ý.
Khi ăn, đặc biệt là ăn thức ăn tương đối khô, người bệnh cảm thấy thức ăn tạm thời dừng lại ở một vị trí nào đó trong thực quản.
Đôi khi có cảm giác trong thực quản vẫn còn thức ăn chưa nuốt hết, vì vậy người bệnh thường xuyên thực hiện động tác nuốt.
Cảm giác nghẹn có thể tự hết mà không cần điều trị, nhưng sau vài ngày hoặc vài tuần thường tái xuất hiện.
Người bệnh thường cảm thấy có vật gì đó bám vào thành thực quản, không thể nuốt xuống.
Cảm giác dị vật khác với cảm giác nghẹn. Cảm giác dị vật không nhất thiết liên quan đến ăn uống, trong khi cảm giác nghẹn thường xuất hiện lúc ăn.
Cơn đau thường ngắn, đôi khi chỉ kéo dài vài giây.
Khi ăn thức ăn thô, quá nóng hoặc có tính kích thích, cơn đau có thể nặng hơn hoặc kéo dài lâu hơn.
Triệu chứng này thường gặp khi khối u ở đoạn trên thực quản, đặc biệt dễ xuất hiện khi tổn thương lan đến tâm vị.
Tâm vị nằm ở chỗ tiếp giáp giữa thực quản và dạ dày.
Các triệu chứng sớm nêu trên có mức độ khác nhau ở từng người, khoảng thời gian giữa các lần xuất hiện cũng không giống nhau.
Triệu chứng thường tái diễn; trong thời gian tạm ngừng, người bệnh có thể hoàn toàn không khó chịu, nhưng về sau các biểu hiện sẽ dần nặng lên theo sự tiến triển của bệnh.
Nếu xuất hiện một hoặc nhiều triệu chứng trên với mức độ khác nhau, cần nâng cao cảnh giác và đến bệnh viện kiểm tra bằng nội soi thực quản, chụp X-quang thực quản có uống chất cản quang bari hoặc các phương pháp thích hợp khác.
CHẨN ĐOÁN UNG THƯ THỰC QUẢN NHƯ THẾ NÀO?
Vị trí phát bệnh
Ung thư thực quản thường gặp nhất ở đoạn giữa, chiếm khoảng 50–70%.
Đoạn dưới đứng thứ hai, chiếm khoảng 16–44%.
Đoạn trên ít gặp nhất, chiếm khoảng 5,3–14,3%.
Tỷ lệ giữa ung thư thực quản và ung thư tâm vị vào khoảng 4:1 đến 5:1.
Triệu chứng
Ở giai đoạn sớm, người mắc ung thư thực quản thường có những triệu chứng chủ quan với mức độ khác nhau, bao gồm:
Cảm giác nghẹn khi nuốt.
Đau khi nuốt.
Đau sau xương ức.
Họng khô, căng tức.
Cảm giác có dị vật trong thực quản.
Trướng tức sau xương ức.
Cảm giác thức ăn đi xuống chậm.
Cảm giác ma sát hoặc đình trệ khi thức ăn đi qua.
Đau dưới mũi ức hoặc vùng bụng trên.
Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn giữa và muộn, người bệnh xuất hiện khó nuốt tăng dần, tình trạng tắc nghẽn ngày càng nặng, có thể kèm thức ăn trào ngược và ợ hơi.
Vùng ngực trước hoặc lưng có thể thường xuyên nặng tức hoặc đau.
Một số người về sau không thể uống được nước, xuất hiện nôn; chất nôn có thể chứa nhiều dịch nhầy dạng bọt.
Nếu khối u chèn ép khí quản, người bệnh có thể ho, khó thở hoặc khàn tiếng.
Một số ít trường hợp có thể nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen.
Khi khối u xâm lấn mạch máu lớn, đặc biệt là động mạch chủ ngực, có thể gây xuất huyết nghiêm trọng dẫn đến tử vong.
Dấu hiệu thực thể
Ở giai đoạn sớm thường không có dấu hiệu thực thể rõ ràng.
Người bệnh giai đoạn giữa có thể hơi gầy và mất nước.
Ở giai đoạn muộn, phần nhiều biểu hiện gương mặt suy kiệt mạn tính, mất nước và gầy sút ngày càng nặng, cuối cùng có thể xuất hiện tình trạng suy mòn do ung thư.
Có thể sờ thấy hạch bạch huyết to ở hố thượng đòn và có cảm giác đau khi gõ vùng sau xương ức.
Nếu ung thư đã di căn đến gan, não hoặc phổi, có thể xuất hiện những dấu hiệu tương ứng.
Kiểm tra
Trong ba phương pháp trên, nếu một phương pháp cho kết quả dương tính rõ ràng thì có thể xác định chẩn đoán ung thư thực quản.
Tài liệu cũ ghi tỷ lệ phù hợp chẩn đoán của chụp X-quang uống bari trên 80%, phương pháp ít gây khó chịu cho người bệnh.
Nội soi sợi quang kết hợp sinh thiết có độ chính xác chẩn đoán rất cao.
Ngoài ra, siêu âm và chụp cắt lớp vi tính cũng có thể được sử dụng trong quá trình đánh giá ung thư thực quản.
Trích Phòng trị và phục hồi bệnh ung thư
UNG THƯ THỰC QUẢN
Ngày 15 tháng 2 năm 2001
KHÁI QUÁT VỀ BỆNH
Ung thư thực quản là một loại u ác tính tương đối thường gặp.
Theo số liệu được dẫn trong tài liệu vào thời điểm đó, mỗi năm trên thế giới có khoảng 200.000 người tử vong do ung thư thực quản.
Nam giới mắc nhiều hơn nữ giới và độ tuổi phát bệnh phần lớn trên 40.
DỊCH TỄ HỌC VÀ NGUYÊN NHÂN
Trung Quốc là một trong những khu vực có tỷ lệ ung thư thực quản cao trên thế giới.
Theo cuộc điều tra hồi cứu về tử vong do ung thư toàn quốc trong thập niên 1970, tỷ lệ tử vong do ung thư thực quản khoảng 16,70 trên 100.000 người, đứng thứ hai sau ung thư dạ dày.
Trên thế giới, các khu vực có tỷ lệ mắc cao gồm một số vùng Trung Á, châu Phi, miền Bắc nước Pháp, Trung Mỹ và Nam Mỹ.
Tại Trung Quốc, bệnh tập trung nhiều ở vùng Thái Hành Sơn, vùng Tần Lĩnh, khu vực giáp ranh Phúc Kiến – Quảng Đông và một số nơi thuộc Hồ Bắc, Sơn Đông, Giang Tô, Thiểm Tây, Cam Túc, Nội Mông và Tân Cương.
Trong tổng số người tử vong do u ác tính tại tỉnh Hà Nam vào thời điểm thống kê, ung thư thực quản đứng hàng đầu, chiếm 23,03%.
Khi quy đổi tỷ lệ tử vong thành tỷ lệ mắc, tỷ lệ mắc đã hiệu chỉnh ở nam giới từ 35–64 tuổi tại huyện Lâm, tỉnh Hà Nam là 478,87 trên 100.000 người, thuộc một trong những khu vực có tỷ lệ cao trên thế giới vào thời điểm đó.
Những cuộc khảo sát ở nhiều khu vực cho thấy yếu tố phát bệnh có thể khác nhau theo từng địa phương.
Trong cuộc điều tra hồi cứu trên khoảng 50 triệu dân ở ba tỉnh Hà Nam, Sơn Tây, Hà Bắc và thành phố Bắc Kinh thuộc khu vực Thái Hành Sơn, tỷ lệ mắc ở hai bên dãy núi đều cao; vùng núi cao hơn vùng đồi, vùng đồi cao hơn vùng đồng bằng.
Người dân sống dọc các con sông bắt nguồn từ hoặc chảy qua khu vực có tỷ lệ mắc cao cũng có tỷ lệ tử vong cao hơn.
Tài liệu ghi nhận hàm lượng molybden, mangan, sắt, fluor, brom, chlor, kẽm, natri, selen, phospho và iod trong nước uống, lương thực và rau ở một số vùng có tỷ lệ ung thư thực quản cao tương đối thấp.
Tỷ lệ phát hiện nitrosamin trong lương thực và tỷ lệ nhiễm nấm mốc cũng cao hơn vùng có tỷ lệ mắc thấp.
Thí nghiệm trên động vật cho thấy một số nitrosamin có thể gây ung thư thực quản; một số loại nấm có thể thúc đẩy sự hình thành nitrosamin và tiền chất của chúng.
Ngoài ra, các yếu tố được cho là có liên quan gồm:
Hút thuốc lá nặng.
Kích thích, viêm và tổn thương mạn tính của thực quản.
Ăn thức ăn quá cứng hoặc quá nóng.
Ăn quá nhanh.
Uống rượu mạnh trong thời gian dài.
Vệ sinh khoang miệng kém hoặc sâu răng.
Chế độ ăn thiếu vitamin A, vitamin B2 và vitamin C.
Ăn ít protein động vật, rau tươi và trái cây.
Yếu tố di truyền.
Nói tóm lại, nguyên nhân của ung thư thực quản tại thời điểm tài liệu được biên soạn vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn và cần tiếp tục nghiên cứu.
BỆNH NGUYÊN VÀ BỆNH LÝ
Về lâm sàng, thực quản được chia thành ba phần: phần cổ, phần ngực và phần bụng.
Thực quản đoạn ngực lại được chia thành ba đoạn trên, giữa và dưới.
Đoạn trên kéo dài từ cửa trên lồng ngực đến ngang mức cung động mạch chủ.
Đoạn giữa từ cung động mạch chủ đến ngang mức tĩnh mạch phổi dưới.
Đoạn dưới nằm dưới mức tĩnh mạch phổi dưới; thông thường phần bụng của thực quản cũng được xếp vào đoạn dưới.
Ung thư đoạn giữa thường gặp nhất, đoạn dưới đứng thứ hai, đoạn trên ít gặp hơn.
Phần lớn là ung thư biểu mô tế bào vảy.
Ung thư biểu mô tuyến vùng tâm vị cũng có thể phát triển lên trên và xâm lấn đoạn dưới thực quản.
Ở giai đoạn sớm, tổn thương ung thư thực quản rất nhỏ, giới hạn trong niêm mạc thực quản, còn gọi là ung thư tại chỗ.
Niêm mạc có thể đỏ, sưng, gồ lên, lõm xuống hoặc trợt, đôi khi hình thành mảng dạng hạt.
Khi khối u lớn dần, tổn thương có thể lan quanh toàn bộ chu vi thực quản, lồi vào lòng thực quản, xuyên qua thành thực quản và xâm lấn trung thất hoặc màng ngoài tim.
Căn cứ vào hình thái bệnh lý, ung thư thực quản được chia thành bốn thể:
Thành thực quản dày lên dạng ống, ung thư xâm lấn toàn bộ các lớp và toàn bộ chu vi thành thực quản.
Đây là thể có mức độ ác tính cao; mặt cắt màu trắng xám, giống tổ chức tủy não.
Khối u phát triển theo hình vòng quanh thực quản, gây hẹp lòng ống và thường sớm gây tắc nghẽn.
Khối u phát triển lồi vào trong lòng thực quản, bờ rõ, nhô lên giống hình cây nấm.
Khối u tạo thành ổ loét lõm, xâm nhập sâu vào lớp cơ, nhưng mức độ gây tắc nghẽn thường nhẹ hơn.
LAN RỘNG VÀ DI CĂN
Ung thư có thể lan trong lớp dưới niêm mạc theo chu vi thực quản, đồng thời lan lên trên và xuống dưới.
Khối u cũng xâm nhập vào lớp cơ và các tổ chức lân cận.
Ung thư thực quản chủ yếu di căn theo đường bạch huyết.
Ung thư đoạn trên có thể di căn đến hạch hố thượng đòn và hạch cổ.
Ung thư đoạn giữa và đoạn dưới thường di căn đến hạch cạnh thực quản, hạch ở chỗ phân đôi khí quản và hạch cạnh động mạch chủ bụng.
Khối u cũng có thể di căn ngược lên các hạch thượng đòn.
Di căn theo đường máu thường xuất hiện muộn hơn.
TIÊU CHUẨN PHÂN GIAI ĐOẠN BỆNH LÝ UNG THƯ THỰC QUẢN ĐƯỢC ĐỀ XUẤT TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC NĂM 1976
Giai đoạn sớm 0: Không quy định chiều dài; tổn thương giới hạn trong lớp niêm mạc; chưa di căn.
Giai đoạn I: Tổn thương dài dưới 3 cm; xâm nhập lớp niêm mạc; chưa di căn.
Giai đoạn giữa II: Tổn thương dài 3–5 cm; xâm nhập một phần lớp cơ; chưa di căn.
Giai đoạn III: Tổn thương dài trên 5 cm; xuyên qua lớp cơ hoặc xâm lấn ra ngoài; có di căn hạch bạch huyết khu vực.
Giai đoạn muộn IV: Tổn thương dài trên 5 cm; xâm lấn ra ngoài rõ rệt; có di căn hạch xa hoặc di căn cơ quan.
Chú ý: Đây là hệ thống phân giai đoạn cũ. Hiện nay, ung thư thực quản được phân giai đoạn chủ yếu theo hệ thống TNM, căn cứ vào độ sâu xâm lấn của khối u, tình trạng hạch và di căn xa.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Ở giai đoạn sớm, người bệnh có thể chưa khó nuốt nhưng đôi khi xuất hiện cảm giác nghẹn khi nuốt thức ăn, đau như kim châm hoặc nóng rát sau xương ức và cảm giác có dị vật trong thực quản.
Khi bệnh tiến triển, triệu chứng dần nặng lên.
Triệu chứng điển hình của ung thư thực quản là khó nuốt tăng dần.
Ban đầu, người bệnh khó nuốt thức ăn khô; sau đó khó nuốt thức ăn nửa lỏng; cuối cùng ngay cả nước và nước bọt cũng không thể nuốt xuống.
Người bệnh dần gầy sút và mất nước.
Khi co thắt, phù nề hoặc viêm quanh khối u giảm xuống, hoặc một phần khối u hoại tử bong ra, triệu chứng tắc nghẽn có thể tạm thời giảm nhẹ.
Đau ngực hoặc đau lưng liên tục thường cho thấy ung thư đã xâm lấn ra ngoài thực quản.
Nếu xâm lấn dây thần kinh thanh quản quặt ngược, người bệnh có thể khàn tiếng.
Nếu khối u xâm nhập động mạch chủ, có thể gây nôn ra rất nhiều máu.
Nếu khối u xâm lấn khí quản, hình thành rò thực quản – khí quản, hoặc do tắc nghẽn nghiêm trọng khiến thức ăn trào vào đường hô hấp, người bệnh có thể ho sặc khi ăn và mắc nhiễm khuẩn phổi.
KIỂM TRA
Khi khám thực thể, cần đặc biệt chú ý:
Có hạch di căn ở hố thượng đòn hay không.
Gan có khối bất thường hay không.
Có cổ trướng hoặc tràn dịch màng phổi hay không.
CHẨN ĐOÁN VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Đối với trường hợp nghi ngờ, cần tiến hành chụp X-quang thực quản có uống bari.
Biểu hiện X-quang của ung thư thực quản giai đoạn sớm gồm:
Ở giai đoạn muộn, X-quang thường cho thấy khuyết thuốc, lòng thực quản hẹp và tắc nghẽn.
Phương pháp xét nghiệm tế bào bong thực quản bằng bóng có lưới từng được sử dụng tại Trung Quốc, với tỷ lệ dương tính ở giai đoạn sớm được tài liệu ghi nhận có thể đạt khoảng 90%.
Đây được xem là một phương pháp tương đối đơn giản ở thời điểm đó.
Đối với trường hợp lâm sàng rất nghi ngờ nhưng chưa thể xác định, cần sớm nội soi thực quản và lấy mô làm sinh thiết.
Nếu hạch cổ to, có thể lấy hạch để xét nghiệm bệnh lý nhằm xác định có di căn hay không.
Tài liệu cũ còn đề cập kiểm tra bằng đồng vị phóng xạ phospho-32 vì mô ung thư hấp thu nhiều phospho-32 hơn.
Ngày nay, phương pháp này không còn là phương pháp chẩn đoán thông thường.
Chụp cắt lớp vi tính giúp đánh giá khối u lan ra ngoài lòng thực quản, tình trạng trung thất, các tạng trong ổ bụng và hạch bạch huyết, đồng thời hỗ trợ quyết định khả năng phẫu thuật.
Chẩn đoán phân biệt khi chưa có khó nuốt
Có thể gây đau như kim châm hoặc đau nóng rát giống ung thư thực quản giai đoạn sớm.
Chụp X-quang không thấy nếp niêm mạc rối loạn hoặc đứt đoạn đặc trưng.
Nếu khó phân biệt, cần làm xét nghiệm tế bào bong hoặc nội soi thực quản.
Có thể gây tức ngực và nóng rát sau xương ức.
Chụp X-quang có thể xác định chẩn đoán.
Người bệnh thường có những dấu hiệu khác của tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
X-quang cho thấy niêm mạc thực quản có hình dạng giống chuỗi hạt, nhưng nhu động thực quản vẫn còn tốt.
Chẩn đoán phân biệt khi đã có khó nuốt
Người bệnh thường trẻ hơn, quá trình bệnh kéo dài, triệu chứng lúc nhẹ lúc nặng.
X-quang cho thấy đoạn dưới thực quản hẹp nhẵn, có hình mỏ chim.
Phần nhiều có tiền sử bỏng thực quản do hóa chất.
X-quang cho thấy đoạn hẹp dài, nhỏ như sợi chỉ và không đều.
Thường là u cơ trơn, bệnh sử tương đối dài.
Chụp X-quang bari cho thấy thực quản bị chèn ép từ ngoài hoặc có khối dưới niêm mạc, nhưng bề mặt niêm mạc thường nhẵn và nguyên vẹn.
BIẾN CHỨNG VÀ TIÊN LƯỢNG
Nguyên văn không trình bày nội dung cụ thể trong mục này.
ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA
ĐIỀU TRỊ
Ung thư thực quản cần được phát hiện sớm, chẩn đoán sớm và điều trị sớm.
Các phương pháp điều trị gồm phẫu thuật, xạ trị, điều trị bằng thuốc và điều trị phối hợp.
Theo tài liệu, phẫu thuật là phương pháp điều trị được ưu tiên đối với những trường hợp còn khả năng cắt bỏ.
Việc lựa chọn phẫu thuật phải căn cứ vào kích thước, vị trí, loại bệnh lý của khối u và tình trạng toàn thân.
Chỉ định phẫu thuật được tài liệu cũ nêu gồm:
Chống chỉ định phẫu thuật theo tài liệu gồm:
Phương pháp phẫu thuật được lựa chọn căn cứ vào vị trí tổn thương và tình trạng cụ thể của người bệnh.
Về nguyên tắc, cần cắt bỏ một phần lớn thực quản.
Ung thư giai đoạn giữa và muộn thường lan trong lớp dưới niêm mạc, vì vậy phạm vi cắt thực quản cần cách khối u khoảng 5–8 cm theo quan điểm phẫu thuật trong tài liệu.
Đối với ung thư đoạn dưới, vị trí nối với cơ quan thay thế thực quản thường nằm phía trên cung động mạch chủ.
Đối với ung thư đoạn giữa hoặc trên, chỗ nối thường được thực hiện ở vùng cổ.
Dạ dày là cơ quan thường được dùng để thay thế thực quản; đôi khi có thể dùng đại tràng hoặc hỗng tràng.
Đường mổ thường sử dụng là mở ngực trái. Một số trường hợp ung thư đoạn giữa được mổ qua ngực phải.
Phẫu thuật bóc thực quản qua khe thực quản có thể áp dụng cho người có chức năng tim phổi kém, không chịu được phẫu thuật mở ngực.
Phương pháp này có nguy cơ gây liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược và xuất huyết nhiều tại giường thực quản, vì vậy cần lựa chọn chỉ định chặt chẽ.
Đối với ung thư thực quản hoặc tâm vị giai đoạn muộn, không còn khả năng điều trị triệt căn hoặc xạ trị, đồng thời khó ăn uống, có thể thực hiện các phẫu thuật giảm nhẹ như:
Đặt ống trong lòng thực quản.
Mở thông dạ dày.
Phẫu thuật nối tắt thực quản – dạ dày.
Phẫu thuật nối tắt thực quản – đại tràng.
Những phẫu thuật giảm nhẹ này có khả năng kéo dài sự sống hạn chế và cũng có thể gây biến chứng, vì vậy cần cân nhắc chỉ định nghiêm ngặt.
Theo số liệu cũ trong tài liệu, tỷ lệ cắt bỏ bằng phẫu thuật tại Trung Quốc từ 56,3–92,9%, tỷ lệ sống sau năm năm từ 18,1–40,8%; ung thư thực quản giai đoạn sớm có tỷ lệ sống sau năm năm khoảng 90%.
Biến chứng chính sau phẫu thuật là rò miệng nối, được ghi nhận khoảng 5–10%.
Những số liệu này thuộc giai đoạn trước đây và không phản ánh trực tiếp kết quả điều trị hiện nay.
Phối hợp với phẫu thuật
Xạ trị trước mổ có thể làm khối u và hạch di căn nhỏ lại, làm tắc các mạch máu nhỏ và mạch bạch huyết quanh khối u, từ đó tăng khả năng cắt bỏ và giảm sự phát tán tế bào ung thư trong mổ.
Nếu tổn thương không được cắt hết trong phẫu thuật, có thể đánh dấu vị trí bằng kẹp kim loại và tiếp tục xạ trị sau mổ.
Xạ trị đơn thuần
Có thể dùng cho người không thể phẫu thuật, khối u còn khu trú, chưa khó nuốt nghiêm trọng và tình trạng toàn thân còn tương đối tốt.
Ung thư đoạn trên thực quản
Do phẫu thuật ung thư đoạn trên có nhiều biến chứng và kết quả từng không lý tưởng, tài liệu cho rằng xạ trị thường được sử dụng nhiều hơn.
Thuốc chống ung thư có thể giúp giảm triệu chứng ở người bệnh giai đoạn muộn.
Điều trị bằng thuốc thường được phối hợp với những phương pháp khác để nâng cao hiệu quả.
Trong quá trình dùng thuốc cần định kỳ kiểm tra tế bào máu và theo dõi phản ứng bất lợi.
Tài liệu cũng đề cập một số trường hợp sử dụng Trung y dược để hỗ trợ giảm triệu chứng.
PHÒNG NGỪA
Tại những khu vực có tỷ lệ mắc cao, việc tuyên truyền, khám sàng lọc và phòng bệnh trong cộng đồng từng đạt được một số kết quả.
Các biện pháp được nêu gồm:
Kiểm soát và giảm nitrosamin cùng tình trạng nhiễm nấm trong nước uống và thức ăn.
Cải thiện thói quen ăn uống không thích hợp.
Nâng cao dinh dưỡng, tăng lượng vitamin trong chế độ ăn và hạn chế sự hình thành các chất nitrosamin có khả năng gây ung thư.
Tích cực điều trị tăng sinh biểu mô thực quản và những tổn thương có nguy cơ, như viêm thực quản, bạch sản, polyp, túi thừa, hẹp do sẹo, co thắt tâm vị do không giãn cơ thắt dưới thực quản và thoát vị khe thực quản.
Tăng cường thể chất, duy trì dinh dưỡng hợp lý và hạn chế thuốc lá, rượu.
Hoàn thiện hệ thống phòng chống ung thư, tăng cường công tác tuyên truyền, khám sàng lọc và theo dõi tại cộng đồng.
Chú ý: Hiện nay, khó nuốt tăng dần, nuốt đau, sụt cân không rõ nguyên nhân, nôn ra máu, đại tiện phân đen, khàn tiếng kéo dài hoặc thường xuyên nghẹn thức ăn đều là những dấu hiệu cần khám chuyên khoa tiêu hóa sớm. Nội soi thực quản – dạ dày kèm sinh thiết là phương pháp quan trọng để xác định chẩn đoán; không nên chỉ dựa vào triệu chứng hoặc chụp X-quang.