《四时气》
Khí của bốn mùa và phép châm cứu theo thời
1
黄帝问于歧伯曰:夫四时之气,各不同形,百病之起,皆有所生,灸刺之道,何者为定?歧伯答曰:四时之气,各有所在,灸刺之道,得气穴为定。故春取经、血脉、分肉之间,甚者,深刺之,间者,浅刺之;夏取盛经孙络,取分间绝皮肤;秋取经俞。邪在府,取之合;冬取井荥,必深以留之。
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Phu tứ thời chi khí, các bất đồng hình, bách bệnh chi khởi, giai hữu sở sinh, cứu thích chi đạo, hà giả vi định? Kỳ Bá đáp viết: Tứ thời chi khí, các hữu sở tại, cứu thích chi đạo, đắc khí huyệt vi định. Cố xuân thủ kinh, huyết mạch, phân nhục chi gian, thậm giả, thâm thích chi, gian giả, thiển thích chi; hạ thủ thịnh kinh tôn lạc, thủ phân gian tuyệt bì phu; thu thủ kinh du. Tà tại phủ, thủ chi hợp; đông thủ tỉnh huỳnh, tất thâm dĩ lưu chi.
Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Khí của bốn mùa, mỗi mùa có hình thái khác nhau. Sự phát sinh của trăm bệnh đều có nơi sinh ra. Trong đạo cứu châm, lấy điều gì làm chuẩn?
Kỳ Bá đáp: Khí của bốn mùa, mỗi mùa có nơi ở riêng. Trong đạo cứu châm, lấy việc đắc khí ở huyệt làm chuẩn. Vì vậy, mùa xuân lấy ở kinh, huyết mạch và khoảng giữa phân nhục; bệnh nặng thì châm sâu, bệnh nhẹ thì châm nông. Mùa hạ lấy ở thịnh kinh và tôn lạc, lấy nơi khoảng phân nhục, sát phần da. Mùa thu lấy kinh du. Tà ở phủ thì lấy hợp huyệt. Mùa đông lấy tỉnh huyệt và huỳnh huyệt, tất phải châm sâu và lưu kim.
Giải thích từ ngữ
四时气, Tứ thời khí: khí của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; mỗi mùa khí tà và chính khí ở tầng nông sâu khác nhau.
灸刺, Cứu thích: cứu là dùng ngải cứu, thích là dùng kim châm.
得气穴, Đắc khí huyệt: châm đúng huyệt, đạt được cảm ứng khí; đây là chuẩn quan trọng của châm pháp.
经, Kinh: đường kinh chính, nơi khí huyết vận hành.
血脉, Huyết mạch: mạch huyết, nơi huyết vận hành.
分肉, Phân nhục: khoảng giữa các thớ cơ, khe giữa lớp cơ.
孙络, Tôn lạc: nhánh lạc nhỏ, nông hơn lạc mạch.
经俞, Kinh du: du huyệt của kinh, nơi kinh khí chuyển chú.
合, Hợp: hợp huyệt, nơi kinh khí đi vào sâu, thường dùng khi tà ở phủ.
井荥, Tỉnh huỳnh: tỉnh huyệt và huỳnh huyệt trong ngũ du huyệt; tỉnh ở đầu ngón, huỳnh là nơi khí mới chảy mạnh hơn.
深以留之, Thâm dĩ lưu chi: châm sâu và lưu kim, hợp với mùa đông khí tàng sâu.
2
温疟汗不出,为五十九痏,风㽷肤胀,为五十七痏。取皮肤之血者,尽取之。飧泄补三阴之上,补阴陵泉,皆久留之,热行乃止。
Ôn ngược hãn bất xuất, vi ngũ thập cửu ủy, phong thủy phu trướng, vi ngũ thập thất ủy. Thủ bì phu chi huyết giả, tận thủ chi. Tôn tiết bổ tam âm chi thượng, bổ Âm lăng tuyền, giai cửu lưu chi, nhiệt hành nãi chỉ.
Ôn ngược mà mồ hôi không ra thì dùng năm mươi chín chỗ châm cứu. Phong thủy làm da sưng trướng thì dùng năm mươi bảy chỗ châm cứu. Nếu lấy huyết ở phần da thì phải lấy cho hết. Chứng tôn tiết thì bổ phần trên của ba kinh âm, bổ Âm lăng tuyền, đều lưu kim lâu; khi nhiệt vận hành thì dừng.
Giải thích từ ngữ
温疟, Ôn ngược: chứng sốt rét có tính ôn nhiệt, nóng nhiều, mồ hôi khó ra.
汗不出, Hãn bất xuất: mồ hôi không ra, biểu khí bị bế.
痏, Ủy: vết châm hoặc nơi châm cứu; trong văn này chỉ số chỗ cần châm hoặc cứu.
风㽷, Phong thủy: phong tà kết với thủy thấp làm da phù trướng.
肤胀, Phu trướng: da thịt sưng căng.
皮肤之血, Bì phu chi huyết: huyết ứ hoặc huyết lạc ở phần nông ngoài da.
飧泄, Tôn tiết: đi ngoài phân sống, thức ăn chưa tiêu hóa hết đã tiết ra.
三阴, Tam âm: ba kinh âm ở chân hoặc tay tùy mạch bệnh; ở đây nghiêng về ba kinh âm phần dưới.
阴陵泉, Âm lăng tuyền: huyệt Âm lăng tuyền của Túc Thái âm Tỳ, thường dùng trị thấp, thủy, tiêu chảy, phù trướng.
热行乃止, Nhiệt hành nãi chỉ: khi cảm giác nhiệt vận hành, khí cơ đã thông thì dừng.
3
转筋于阳,治其阳;转筋于阴,治其阴。皆卒刺之。徒㽷先取环谷下三寸,以铍针针之,已刺而筒之,而内之,入而复之,以尽其㽷,必坚。来缓则烦悗,来急则安静,间日一刺之,㽷尽乃止。饮闭药,方刺之时徒饮之,方饮无食,方食无饮,无食他食,百三十五日。
Chuyển cân ư dương, trị kỳ dương; chuyển cân ư âm, trị kỳ âm. Giai tốt thích chi. Đồ thủy tiên thủ Hoàn cốc hạ tam thốn, dĩ phi châm châm chi, dĩ thích nhi đồng chi, nhi nội chi, nhập nhi phục chi, dĩ tận kỳ thủy, tất kiên. Lai hoãn tắc phiền muộn, lai cấp tắc an tĩnh, gián nhật nhất thích chi, thủy tận nãi chỉ. Ẩm bế dược, phương thích chi thời đồ ẩm chi, phương ẩm vô thực, phương thực vô ẩm, vô thực tha thực, bách tam thập ngũ nhật.
Chuyển cân ở phần dương thì trị phần dương; chuyển cân ở phần âm thì trị phần âm. Đều phải châm nhanh. Chứng chỉ có thủy trướng thì trước lấy chỗ dưới Hoàn cốc ba tấc, dùng phi châm châm vào; châm xong thì dùng ống dẫn, đưa vào, đưa vào rồi lại rút, để làm hết chứng trướng ấy, thao tác phải chắc.
Bệnh đến chậm thì phiền muộn; bệnh đến nhanh thì lại yên tĩnh. Cách ngày châm một lần, hết trướng thì dừng. Khi uống thuốc trị bế, trong lúc đang châm thì chỉ uống thuốc ấy; lúc uống thì không ăn, lúc ăn thì không uống, không ăn thức ăn khác, kéo dài một trăm ba mươi lăm ngày.
Giải thích từ ngữ
转筋, Chuyển cân: gân co rút, chuột rút, đau co thắt.
于阳, Ư dương: ở phần dương, thường là mặt ngoài, mặt trên, phần biểu.
于阴, Ư âm: ở phần âm, thường là mặt trong, phần lý, phần sâu.
卒刺, Tốt thích: châm nhanh, xử trí cấp.
徒㽷, Đồ thủy: thủy trướng đơn thuần, bụng trướng do thủy thấp mà không kèm nhiều chứng khác.
环谷, Hoàn cốc: tên mốc hoặc huyệt cổ, dưới đó ba tấc được dùng làm nơi châm trong phép này.
铍针, Phi châm: loại kim có lưỡi rộng, dùng để rạch, chích, thông mở.
筒之, Đồng chi: dùng ống dẫn hoặc dụng cụ ống để dẫn thoát.
饮闭药, Ẩm bế dược: uống thuốc trị bế tắc, làm thông thủy đạo.
方饮无食, Phương ẩm vô thực: lúc uống thuốc thì không ăn.
方食无饮, Phương thực vô ẩm: lúc ăn thì không uống.
百三十五日, Bách tam thập ngũ nhật: một trăm ba mươi lăm ngày; chỉ một liệu trình rất dài theo phép cổ.
4
著痹不去,久寒不已,卒取其三里。骨为干。肠中不便,取三里,盛写之,虚补之。疠风者,素刺其肿上。已刺,以锐针针其处,按出其恶气,肿尽乃止。常食方食,无食他食。
Trước tý bất khứ, cửu hàn bất dĩ, tốt thủ kỳ Tam lý. Cốt vi cán. Trường trung bất tiện, thủ Tam lý, thịnh tả chi, hư bổ chi. Lệ phong giả, tố thích kỳ thũng thượng. Dĩ thích, dĩ nhuệ châm châm kỳ xứ, án xuất kỳ ác khí, thũng tận nãi chỉ. Thường thực phương thực, vô thực tha thực.
Chứng trước tý không lui, hàn lâu ngày không dứt, thì nhanh chóng lấy Tam lý. Xương là cái khung của thân thể. Trong ruột không thông lợi thì lấy Tam lý; thịnh thì tả, hư thì bổ. Chứng lệ phong thì thường châm ở trên chỗ sưng. Châm xong, dùng kim nhọn châm vào chỗ ấy, ấn cho ác khí ra; sưng hết thì dừng. Trong thời gian ấy chỉ ăn thức ăn theo phương, không ăn thức ăn khác.
Giải thích từ ngữ
著痹, Trước tý: tý bám chặt, tà lưu trú lâu ngày, đau tê cố định khó khỏi.
久寒, Cửu hàn: hàn tà lâu ngày không hết.
三里, Tam lý: thường chỉ Túc Tam lý, huyệt trọng yếu của Túc Dương minh Vị, dùng điều trung, bổ hư, thông trệ.
骨为干, Cốt vi cán: xương là cái cán, cái khung nâng đỡ thân thể.
肠中不便, Trường trung bất tiện: trong ruột không thông lợi, đại tiện hoặc khí cơ đường ruột không thuận.
疠风, Lệ phong: bệnh phong độc nặng, trong cổ văn có thể chỉ bệnh da nặng, lở loét, sưng độc, có tính truyền nhiễm.
锐针, Nhuệ châm: kim nhọn, dùng để chích rạch.
恶气, Ác khí: tà khí, độc khí, khí xấu ứ lại trong vùng bệnh.
方食, Phương thực: thức ăn theo phép điều trị, có tính kiêng khem.
5
腹中常鸣,气上冲胸,喘不能久立。邪在大肠,刺肓之原,巨虚上廉、三里。小腹控睾,引腰脊,上冲心。邪在小肠者,连睾系,属于脊,贯肝肺,络心系。气盛则厥逆,上冲肠胃,熏肝,散于肓,结于脐,故取之肓原以散之,刺太阴以予之,取厥阴以下之,取巨虚下廉以去之,按其所过之经以调之。
Phúc trung thường minh, khí thượng xung hung, suyễn bất năng cửu lập. Tà tại Đại trường, thích hoang chi nguyên, Cự hư thượng liêm, Tam lý. Tiểu phúc khống cao, dẫn yêu tích, thượng xung Tâm. Tà tại Tiểu trường giả, liên cao hệ, thuộc ư tích, quán Can Phế, lạc Tâm hệ. Khí thịnh tắc quyết nghịch, thượng xung trường Vị, huân Can, tán ư hoang, kết ư tề, cố thủ chi Hoang nguyên dĩ tán chi, thích Thái âm dĩ dữ chi, thủ Quyết âm dĩ hạ chi, thủ Cự hư hạ liêm dĩ khứ chi, án kỳ sở quá chi kinh dĩ điều chi.
Trong bụng thường sôi, khí xông lên ngực, thở suyễn, không thể đứng lâu. Đó là tà ở Đại trường, nên châm Hoang nguyên, Cự hư thượng liêm và Tam lý.
Nếu bụng dưới co kéo tinh hoàn, kéo lên eo và cột sống, rồi xông lên Tâm, đó là tà ở Tiểu trường. Tà ấy liên hệ với dây tinh hoàn, thuộc về cột sống, xuyên qua Can và Phế, lạc với Tâm hệ. Khi khí thịnh thì quyết nghịch, xông lên ruột và Vị, hun bốc Can, tản ở vùng hoang, kết ở rốn. Vì vậy, lấy Hoang nguyên để tán nó; châm Thái âm để cho thêm chính khí; lấy Quyết âm để đưa xuống; lấy Cự hư hạ liêm để trừ đi; lại ấn theo kinh mà tà đi qua để điều hòa.
Giải thích từ ngữ
腹中常鸣, Phúc trung thường minh: trong bụng thường sôi réo.
气上冲胸, Khí thượng xung hung: khí nghịch xông lên ngực.
喘不能久立, Suyễn bất năng cửu lập: thở suyễn, không đứng lâu được.
邪在大肠, Tà tại Đại trường: tà ở phủ Đại trường.
肓之原, Hoang chi nguyên: nguyên huyệt hoặc vùng nguyên của “hoang”, chỉ vùng sâu trong bụng, liên hệ khí kết ở hoang mạc.
巨虚上廉, Cự hư thượng liêm: Thượng Cự hư, huyệt hạ hợp của Đại trường.
三里, Tam lý: Túc Tam lý, huyệt quan trọng của Vị kinh.
小腹控睾, Tiểu phúc khống cao: bụng dưới co kéo tinh hoàn.
睾系, Cao hệ: dây tinh hoàn.
心系, Tâm hệ: hệ liên thuộc với Tâm, vùng mạch lạc nối với Tâm.
厥逆, Quyết nghịch: khí nghịch, tay chân lạnh hoặc khí cơ nghịch loạn.
熏肝, Huân Can: khí tà bốc lên hun Can, làm Can khí rối loạn.
结于脐, Kết ư tề: kết lại ở vùng rốn.
巨虚下廉, Cự hư hạ liêm: Hạ Cự hư, huyệt hạ hợp của Tiểu trường.
6
善呕,呕有苦,长太息,心中憺憺,恐人将捕之;邪在胆,逆在胃,胆液泄,则口苦,胃气逆,则呕苦,故曰呕胆。取三里以下。胃气逆,则刺少阳血络,以闭胆逆,却调其虚实,以去其邪。
Thiện ẩu, ẩu hữu khổ, trường thái tức, tâm trung đạm đạm, khủng nhân tương bộ chi; tà tại Đởm, nghịch tại Vị, Đởm dịch tiết, tắc khẩu khổ, Vị khí nghịch, tắc ẩu khổ, cố viết ẩu Đởm. Thủ Tam lý dĩ hạ. Vị khí nghịch, tắc thích Thiếu dương huyết lạc, dĩ bế Đởm nghịch, khước điều kỳ hư thực, dĩ khứ kỳ tà.
Hay nôn, khi nôn có vị đắng, thường thở dài, trong Tâm hồi hộp bất an, sợ như có người sắp bắt mình. Đó là tà ở Đởm, khí nghịch ở Vị. Đởm dịch tiết ra thì miệng đắng; Vị khí nghịch thì nôn ra đắng, cho nên gọi là nôn Đởm. Lấy các huyệt từ Tam lý trở xuống. Nếu Vị khí nghịch thì châm huyết lạc của Thiếu dương để ngăn Đởm nghịch, rồi điều hư thực của nó để trừ tà.
Giải thích từ ngữ
善呕, Thiện ẩu: hay nôn.
呕有苦, Ẩu hữu khổ: nôn ra vị đắng.
长太息, Trường thái tức: thường thở dài, liên hệ Thiếu dương, Can Đởm khí uất.
心中憺憺, Tâm trung đạm đạm: trong tâm hồi hộp, trống rỗng, bất an.
恐人将捕之, Khủng nhân tương bộ chi: sợ như có người sắp bắt mình, biểu hiện thần chí bất an do Đởm khí không hòa.
邪在胆, Tà tại Đởm: tà ở phủ Đởm.
逆在胃, Nghịch tại Vị: Vị khí nghịch lên.
胆液, Đởm dịch: dịch mật.
口苦, Khẩu khổ: miệng đắng, chứng thường gặp của Đởm nhiệt hoặc Thiếu dương bất hòa.
呕胆, Ẩu Đởm: nôn ra vị đắng do Đởm dịch nghịch lên.
少阳血络, Thiếu dương huyết lạc: huyết lạc thuộc Thiếu dương, thường dùng để tả tà uất nhiệt ở Đởm.
7
饮食不下,膈塞不通,邪在胃脘,在上脘,则刺抑而下之,在下脘,则散而去之。小腹痛肿,不得小便,邪在三焦,约取之太阳大络,视其络脉与厥阴小络结而血者,肿上及胃脘,取三里。
Ẩm thực bất hạ, cách tắc bất thông, tà tại Vị quản, tại Thượng quản, tắc thích ức nhi hạ chi, tại Hạ quản, tắc tán nhi khứ chi. Tiểu phúc thống thũng, bất đắc tiểu tiện, tà tại Tam tiêu, ước thủ chi Thái dương đại lạc, thị kỳ lạc mạch dữ Quyết âm tiểu lạc kết nhi huyết giả, thũng thượng cập Vị quản, thủ Tam lý.
Ăn uống không xuống, cách bị bế tắc không thông, là tà ở Vị quản. Nếu ở Thượng quản thì châm để ức xuống; nếu ở Hạ quản thì tán mà trừ đi.
Bụng dưới đau sưng, không tiểu tiện được, là tà ở Tam tiêu. Đại khái lấy đại lạc của Thái dương, quan sát lạc mạch và tiểu lạc của Quyết âm chỗ kết huyết. Nếu sưng lan lên đến vùng Vị quản thì lấy Tam lý.
Giải thích từ ngữ
饮食不下, Ẩm thực bất hạ: ăn uống không xuống được.
膈塞不通, Cách tắc bất thông: vùng cách bị bế tắc, ngực thượng vị không thông.
胃脘, Vị quản: vùng thượng vị, nơi Vị khí lên xuống.
上脘, Thượng quản: vùng trên của Vị quản.
刺抑而下之, Thích ức nhi hạ chi: châm để ức chế khí nghịch, dẫn xuống.
下脘, Hạ quản: vùng dưới của Vị quản.
散而去之, Tán nhi khứ chi: làm tán tà để trừ đi.
小腹痛肿, Tiểu phúc thống thũng: bụng dưới đau và sưng.
不得小便, Bất đắc tiểu tiện: không tiểu tiện được.
邪在三焦, Tà tại Tam tiêu: tà ở Tam tiêu, thủy đạo không thông.
太阳大络, Thái dương đại lạc: đại lạc của kinh Thái dương.
厥阴小络, Quyết âm tiểu lạc: tiểu lạc của kinh Quyết âm.
结而血, Kết nhi huyết: huyết kết ở lạc mạch, có thể thấy ứ trệ.
8
睹其色,察其以,知其散复者,视其目色,以知病之存亡也。一其形,听其动静者,持气口人迎以视其脉,坚且盛且滑者,病日进,脉软者,病将下,诸经实者,病三日已。气口候阴,人迎候阳也。
Đổ kỳ sắc, sát kỳ dĩ, tri kỳ tán phục giả, thị kỳ mục sắc, dĩ tri bệnh chi tồn vong dã. Nhất kỳ hình, thính kỳ động tĩnh giả, trì Khí khẩu Nhân nghênh dĩ thị kỳ mạch, kiên thả thịnh thả hoạt giả, bệnh nhật tiến, mạch nhuyễn giả, bệnh tương hạ, chư kinh thực giả, bệnh tam nhật dĩ. Khí khẩu hậu âm, Nhân nghênh hậu dương dã.
Nhìn sắc của người bệnh, xét nguyên nhân và dấu hiệu của họ, để biết bệnh đang tán hay lại phục. Xem sắc ở mắt để biết bệnh còn hay mất. Quan sát toàn bộ hình thể, lắng nghe động tĩnh của người bệnh, rồi giữ mạch Khí khẩu và Nhân nghênh để xem mạch. Mạch cứng, thịnh và hoạt thì bệnh ngày càng tiến. Mạch mềm thì bệnh sắp lui. Các kinh đều thực thì bệnh trong ba ngày sẽ hết. Khí khẩu dùng để xét âm, Nhân nghênh dùng để xét dương.
Giải thích từ ngữ
睹其色, Đổ kỳ sắc: nhìn sắc mặt, sắc da, thần sắc.
察其以, Sát kỳ dĩ: xét nguyên do, căn cứ và biểu hiện của bệnh.
散复, Tán phục: tán là bệnh tan lui; phục là bệnh quay lại hoặc còn ẩn phục.
目色, Mục sắc: sắc ở mắt; mắt phản ánh tinh khí của tạng phủ.
病之存亡, Bệnh chi tồn vong: bệnh còn hay đã mất.
一其形, Nhất kỳ hình: xem tổng thể hình thể người bệnh, không nhìn rời rạc.
动静, Động tĩnh: sự vận động, nằm ngồi, nói năng, hơi thở, trạng thái yên hay động.
气口, Khí khẩu: mạch ở cổ tay, chủ yếu xét phần âm, tạng khí.
人迎, Nhân nghênh: mạch ở cổ, chủ yếu xét phần dương, phủ khí và biểu.
坚且盛且滑, Kiên thả thịnh thả hoạt: mạch cứng, đầy, trơn; biểu hiện tà thịnh, bệnh tiến.
脉软, Mạch nhuyễn: mạch mềm, tà khí giảm, bệnh sắp lui.
诸经实, Chư kinh thực: các kinh đều có thực tượng; ở đây theo văn ý chỉ chính tà giao tranh mạnh, nếu khí cơ thông thì bệnh có thể lui nhanh.
Kết luận ngắn
Thiên Tứ thời khí《四时气》 nói về phép châm cứu phải thuận theo khí của bốn mùa. Mùa xuân khí ở kinh, huyết mạch và phân nhục; mùa hạ khí ra ngoài, nên lấy thịnh kinh, tôn lạc và phần nông của da thịt; mùa thu lấy kinh du; tà ở phủ thì lấy hợp; mùa đông khí tàng sâu, nên lấy tỉnh huỳnh và cần châm sâu lưu kim. Thiên này cũng nêu nhiều phép trị cụ thể cho ôn ngược, phong thủy, tôn tiết, chuyển cân, trước tý, lệ phong, tà ở Đại trường, Tiểu trường, Đởm, Vị quản, Tam tiêu. Cốt yếu vẫn là xét tà ở đâu, hư thực thế nào, nông sâu ra sao, rồi chọn kinh huyệt tương ứng. Phần cuối nhấn mạnh phép chẩn: nhìn sắc, xem mắt, xét động tĩnh, bắt Khí khẩu và Nhân nghênh; Khí khẩu xét âm, Nhân nghênh xét dương. Như vậy, đạo châm không chỉ là lấy huyệt, mà trước hết là biết thời khí, biết nông sâu, biết hư thực, biết âm dương còn mất.