《五邪》
Năm loại tà khí phạm vào ngũ tạng
1
邪在肺,则病皮肤痛,寒热,上气喘,汗出,咳动肩背。取之膺中外喻,背三节五藏之傍,以手疾按之,快然,乃刺之。取之缺盆中以越之。
Tà tại Phế, tắc bệnh bì phu thống, hàn nhiệt, thượng khí suyễn, hãn xuất, khái động kiên bối. Thủ chi ưng trung ngoại du, bối tam tiết ngũ tạng chi bàng, dĩ thủ tật án chi, khoái nhiên, nãi thích chi. Thủ chi Khuyết bồn trung dĩ việt chi.
Tà ở Phế thì sinh bệnh đau da thịt, lúc lạnh lúc nóng, khí nghịch lên mà thở suyễn, ra mồ hôi, ho làm động đến vai lưng. Nên lấy huyệt ở vùng ngực, trong ngoài tương ứng, và vùng lưng ở bên cạnh ngũ tạng, khoảng ba đốt sống. Dùng tay ấn nhanh vào đó, nếu người bệnh thấy dễ chịu thì châm. Lại lấy ở trong Khuyết bồn để làm cho tà khí vượt thoát ra.
Giải thích từ ngữ
邪在肺, Tà tại Phế: tà khí phạm vào Phế; Phế chủ khí, chủ bì mao, nên bệnh hiện ở da, lông, ho, suyễn.
皮肤痛, Bì phu thống: da thịt đau; Phế hợp bì mao nên Phế bệnh có thể đau ở phần biểu.
寒热, Hàn nhiệt: lúc lạnh lúc nóng, chỉ chính tà giao tranh ở biểu.
上气喘, Thượng khí suyễn: khí nghịch lên trên gây thở gấp, suyễn.
汗出, Hãn xuất: ra mồ hôi; Phế chủ biểu, vệ khí không cố thì mồ hôi ra.
咳动肩背, Khái động kiên bối: ho làm đau động vùng vai lưng, do Phế du và vùng lưng ngực liên hệ.
膺中外喻, Ưng trung ngoại du: “ưng” là vùng ngực; “du” là nơi khí chuyển chú, ở đây chỉ các điểm vùng ngực trong ngoài tương ứng với Phế khí.
背三节, Bối tam tiết: vùng lưng khoảng ba đốt sống, liên hệ vùng du huyệt sau lưng.
五藏之傍, Ngũ tạng chi bàng: bên cạnh vùng du huyệt của ngũ tạng.
快然, Khoái nhiên: cảm giác dễ chịu, nhẹ ra sau khi ấn.
缺盆, Khuyết bồn: hõm trên xương đòn, nơi khí vùng ngực cổ đi qua.
越之, Việt chi: làm cho tà khí vượt ra, thoát ra ngoài.
2
邪在肝,则两胁中痛,寒中,恶血在内,行善掣节,时脚肿。取之行间,以引胁下,补三里以温胃中,取血脉以散恶血;取耳间青脉,以去其掣。
Tà tại Can, tắc lưỡng hiếp trung thống, hàn trung, ác huyết tại nội, hành thiện xế tiết, thời cước thũng. Thủ chi Hành gian, dĩ dẫn hiếp hạ, bổ Tam lý dĩ ôn Vị trung, thủ huyết mạch dĩ tán ác huyết; thủ nhĩ gian thanh mạch, dĩ khứ kỳ xế.
Tà ở Can thì đau trong hai bên sườn, trong bụng có hàn, ác huyết ứ ở bên trong, khi đi lại thường co kéo các khớp, thỉnh thoảng chân sưng. Nên lấy Hành gian để dẫn tà ở dưới sườn; bổ Tam lý để ôn ấm trong Vị; lấy huyết mạch để tán ác huyết; lấy mạch xanh ở vùng tai để trừ sự co kéo.
Giải thích từ ngữ
邪在肝, Tà tại Can: tà khí phạm vào Can; Can chủ sơ tiết, tàng huyết, chủ cân, nên bệnh hiện ở sườn, huyết ứ, co kéo gân khớp.
两胁中痛, Lưỡng hiếp trung thống: đau ở hai bên sườn, vùng thuộc Can Đởm.
寒中, Hàn trung: trong bụng có hàn, trung tiêu hoặc nội phần bị lạnh.
恶血, Ác huyết: huyết xấu, huyết ứ, huyết không vận hành bình thường.
掣节, Xế tiết: các khớp bị kéo giật, co rút; “xế” là kéo giật, “tiết” là khớp.
脚肿, Cước thũng: chân sưng.
行间, Hành gian: huyệt Hành gian của Túc Quyết âm Can, thường dùng để sơ Can, tiết nhiệt, điều khí ở sườn.
引胁下, Dẫn hiếp hạ: dẫn tà khí ở vùng dưới sườn ra ngoài hoặc xuống dưới.
三里, Tam lý: Túc Tam lý, huyệt trọng yếu của Túc Dương minh Vị, có tác dụng kiện Tỳ Vị, điều khí huyết, ôn trung.
温胃中, Ôn Vị trung: làm ấm vùng Vị, giúp trung tiêu vận hóa.
血脉, Huyết mạch: mạch có huyết ứ, có thể chích để tán ứ.
耳间青脉, Nhĩ gian thanh mạch: mạch xanh ở vùng tai; mạch xanh thường liên hệ hàn, ứ, Can khí.
3
邪在脾胃,则病肌肉痛,阳气有馀,阴气不足,则热中善饥;阳气不足,阴气有馀,则寒中肠鸣、腹痛;阴阳俱有馀,若俱不足,则有寒有热,皆调于三里。
Tà tại Tỳ Vị, tắc bệnh cơ nhục thống, dương khí hữu dư, âm khí bất túc, tắc nhiệt trung thiện cơ; dương khí bất túc, âm khí hữu dư, tắc hàn trung trường minh, phúc thống; âm dương câu hữu dư, nhược câu bất túc, tắc hữu hàn hữu nhiệt, giai điều ư Tam lý.
Tà ở Tỳ Vị thì sinh bệnh đau cơ nhục. Nếu dương khí có dư, âm khí không đủ, thì trong nóng và hay đói. Nếu dương khí không đủ, âm khí có dư, thì trong lạnh, ruột sôi, bụng đau. Nếu âm dương đều có dư, hoặc đều bất túc, thì khi hàn khi nhiệt. Các chứng ấy đều điều trị ở Tam lý.
Giải thích từ ngữ
邪在脾胃, Tà tại Tỳ Vị: tà phạm vào Tỳ Vị, trung tiêu mất điều hòa.
肌肉痛, Cơ nhục thống: đau cơ thịt; Tỳ chủ cơ nhục nên Tỳ bệnh hiện ở cơ thịt.
阳气有馀, Dương khí hữu dư: dương khí thịnh quá, dễ sinh nhiệt.
阴气不足, Âm khí bất túc: âm dịch không đủ, không chế được dương.
热中善饥, Nhiệt trung thiện cơ: trong nóng, tiêu nhanh, mau đói.
阳气不足, Dương khí bất túc: dương khí suy, không đủ ôn hóa.
阴气有馀, Âm khí hữu dư: âm hàn thịnh, lạnh ở trong.
寒中, Hàn trung: trung tiêu lạnh.
肠鸣, Trường minh: ruột sôi.
腹痛, Phúc thống: đau bụng.
有寒有热, Hữu hàn hữu nhiệt: có lúc hàn, có lúc nhiệt, biểu hiện âm dương bất hòa.
三里, Tam lý: Túc Tam lý, huyệt chủ yếu điều Tỳ Vị, hòa trung, bổ hư, tả thực.
4
邪在肾,则病骨痛,阴痹。阴痹者,按之而不得,腹胀,腰痛,大便难,肩背颈项痛,时眩。取之涌泉、昆仑。视有血者,尽取之。
Tà tại Thận, tắc bệnh cốt thống, âm tý. Âm tý giả, án chi nhi bất đắc, phúc trướng, yêu thống, đại tiện nan, kiên bối cảnh hạng thống, thời huyễn. Thủ chi Dũng tuyền, Côn lôn. Thị hữu huyết giả, tận thủ chi.
Tà ở Thận thì sinh bệnh đau xương, âm tý. Âm tý là chứng ấn vào mà không tìm được chỗ đau rõ ràng, bụng trướng, đau lưng, đại tiện khó, vai lưng cổ gáy đau, thỉnh thoảng chóng mặt. Nên lấy Dũng tuyền và Côn lôn. Quan sát nếu có mạch máu ứ hiện ra thì lấy hết.
Giải thích từ ngữ
邪在肾, Tà tại Thận: tà khí phạm vào Thận; Thận chủ cốt, chủ thủy, liên hệ eo lưng và tủy não.
骨痛, Cốt thống: đau xương, do Thận khí không nuôi dưỡng được cốt.
阴痹, Âm tý: chứng tý thuộc âm, thường sâu, lạnh, khó xác định điểm đau rõ, liên hệ xương tủy, lưng eo, phần trong.
按之而不得, Án chi nhi bất đắc: ấn vào mà không tìm thấy điểm đau xác định, vì bệnh ở sâu.
腹胀, Phúc trướng: bụng trướng, khí hóa thủy dịch không thông.
腰痛, Yêu thống: đau lưng eo, vùng thuộc Thận.
大便难, Đại tiện nan: đại tiện khó.
肩背颈项痛, Kiên bối cảnh hạng thống: đau vai, lưng, cổ, gáy; có thể do kinh Thái dương, Thiếu âm liên hệ.
时眩, Thời huyễn: thỉnh thoảng chóng mặt.
涌泉, Dũng tuyền: huyệt Dũng tuyền của Túc Thiếu âm Thận, ở lòng bàn chân, dùng dẫn khí xuống, thông Thận khí.
昆仑, Côn lôn: huyệt Côn lôn của Túc Thái dương Bàng quang, ở vùng mắt cá ngoài, thường dùng trị đau lưng, gáy, đầu, kinh Thái dương.
有血者, Hữu huyết giả: có huyết lạc, huyết ứ hiện ra.
尽取之, Tận thủ chi: lấy hết, tức chích cho huyết ứ ra hết tùy tình trạng.
5
邪在心,则病心痛,喜悲时眩仆;视有馀不足而调之其输也。
Tà tại Tâm, tắc bệnh tâm thống, hỷ bi thời huyễn phó; thị hữu dư bất túc nhi điều chi kỳ du dã.
Tà ở Tâm thì sinh bệnh đau vùng tim, hay buồn thương, thỉnh thoảng chóng mặt ngã quỵ. Cần xem là hữu dư hay bất túc mà điều hòa ở du huyệt của Tâm.
Giải thích từ ngữ
邪在心, Tà tại Tâm: tà khí phạm vào Tâm; Tâm chủ huyết mạch, tàng thần.
心痛, Tâm thống: đau vùng tim hoặc vùng trước ngực thuộc Tâm.
喜悲, Hỷ bi: hay buồn thương; Tâm thần bị tà quấy nhiễu thì tình chí thất thường.
时眩仆, Thời huyễn phó: thỉnh thoảng chóng mặt rồi ngã quỵ.
有馀, Hữu dư: thực chứng, tà thịnh hoặc khí huyết uất trệ.
不足, Bất túc: hư chứng, chính khí suy, Tâm khí hoặc Tâm huyết không đủ.
其输, Kỳ du: du huyệt của kinh Tâm hoặc huyệt nơi kinh khí chuyển chú; cần tùy hư thực mà bổ tả.
Kết luận ngắn
Thiên Ngũ tà《五邪》 lấy năm tạng làm cương lĩnh để nói tà khí vào đâu thì bệnh hiện theo chức năng của tạng ấy. Tà ở Phế thì đau da, hàn nhiệt, ho suyễn, mồ hôi ra, vai lưng bị động; vì Phế chủ khí, hợp bì mao. Tà ở Can thì đau hai sườn, huyết ứ, gân khớp co kéo, chân sưng; vì Can tàng huyết, chủ cân, kinh đi qua hiếp. Tà ở Tỳ Vị thì đau cơ nhục, nóng trong hay đói, lạnh trong ruột sôi đau bụng; vì Tỳ chủ cơ nhục, Vị chủ thu nạp. Tà ở Thận thì đau xương, âm tý, lưng đau, đại tiện khó, chóng mặt; vì Thận chủ cốt, chủ thủy, thông với lưng eo. Tà ở Tâm thì tâm thống, buồn thương, chóng mặt ngã; vì Tâm chủ huyết mạch và thần minh. Phép trị chủ yếu là xét tà ở tạng nào, xem hư thực, rồi lấy huyệt tương ứng như Khuyết bồn, Hành gian, Tam lý, Dũng tuyền, Côn lôn, cùng các du huyệt để điều hòa.