Bàn về tạng khí theo phép bốn mùa
Câu 1
黄帝问曰:合人形以法四时五行而治,何如而从,何如而逆,得失之意,愿闻其事。歧伯对曰:五行者,金木水火土也,更贵更贱,以知死生,以决成败,而定五藏之气,间甚之时,死生之期也。帝曰:愿卒闻之。歧伯曰:肝主春,足厥阴少阳主治,其日甲乙,肝苦急,急食甘以缓之。心主夏,手少阴太阳主治,其日丙丁,心苦缓,急食酸以收之。脾主长夏,足太阴阳明主治,其日戊己,脾苦湿,急食甘以缓之。心主夏,手少阴太阳主治,其日丙丁,心苦缓,急食酸以收之。脾主长夏,足太阴阳明主治,其日戊己,脾苦湿,急食苦以燥之。肺主秋,手太阴阳明主治,其日庚辛,肺苦气上逆,急食苦以泄之。肾主冬,足少阴太阳主治,其日壬癸,肾苦燥,急食辛以润之,开腠理,致津液,通气也。
Hán Việt
Hoàng Đế vấn viết: Hợp nhân hình dĩ pháp tứ thời ngũ hành nhi trị, hà như nhi tòng, hà như nhi nghịch, đắc thất chi ý, nguyện văn kỳ sự.
Kỳ Bá đối viết: Ngũ hành giả, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ dã, cánh quý cánh tiện, dĩ tri tử sinh, dĩ quyết thành bại, nhi định ngũ tạng chi khí, gian thậm chi thời, tử sinh chi kỳ dã.
Đế viết: Nguyện tốt văn chi.
Kỳ Bá viết: Can chủ xuân, túc Quyết âm Thiếu dương chủ trị, kỳ nhật Giáp Ất, Can khổ cấp, cấp thực cam dĩ hoãn chi.
Tâm chủ hạ, thủ Thiếu âm Thái dương chủ trị, kỳ nhật Bính Đinh, Tâm khổ hoãn, cấp thực toan dĩ thu chi.
Tỳ chủ trưởng hạ, túc Thái âm Dương minh chủ trị, kỳ nhật Mậu Kỷ, Tỳ khổ thấp, cấp thực cam dĩ hoãn chi.
Tâm chủ hạ, thủ Thiếu âm Thái dương chủ trị, kỳ nhật Bính Đinh, Tâm khổ hoãn, cấp thực toan dĩ thu chi.
Tỳ chủ trưởng hạ, túc Thái âm Dương minh chủ trị, kỳ nhật Mậu Kỷ, Tỳ khổ thấp, cấp thực khổ dĩ táo chi.
Phế chủ thu, thủ Thái âm Dương minh chủ trị, kỳ nhật Canh Tân, Phế khổ khí thượng nghịch, cấp thực khổ dĩ tiết chi.
Thận chủ đông, túc Thiếu âm Thái dương chủ trị, kỳ nhật Nhâm Quý, Thận khổ táo, cấp thực tân dĩ nhuận chi, khai tấu lý, trí tân dịch, thông khí dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Khi hợp với hình thể con người, noi theo bốn mùa và ngũ hành để trị bệnh, thế nào là thuận, thế nào là nghịch, ý nghĩa được mất ra sao? Ta muốn nghe việc ấy.
Kỳ Bá đáp:
Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Chúng thay nhau lúc quý, lúc tiện, nhờ đó có thể biết sống chết, quyết định thành bại, định được khí của năm tạng, biết thời bệnh nhẹ hay nặng, và kỳ hạn sống chết.
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe đầy đủ.
Kỳ Bá nói:
Can chủ mùa xuân, kinh túc Quyết âm và túc Thiếu dương chủ trị, ngày tương ứng là Giáp Ất. Can khổ vì cấp, nên cần ăn vị ngọt để làm hoãn.
Tâm chủ mùa hạ, kinh thủ Thiếu âm và thủ Thái dương chủ trị, ngày tương ứng là Bính Đinh. Tâm khổ vì hoãn, nên cần ăn vị chua để thu lại.
Tỳ chủ trưởng hạ, kinh túc Thái âm và túc Dương minh chủ trị, ngày tương ứng là Mậu Kỷ. Tỳ khổ vì thấp, nên cần ăn vị ngọt để làm hoãn.
Tâm chủ mùa hạ, kinh thủ Thiếu âm và thủ Thái dương chủ trị, ngày tương ứng là Bính Đinh. Tâm khổ vì hoãn, nên cần ăn vị chua để thu lại.
Tỳ chủ trưởng hạ, kinh túc Thái âm và túc Dương minh chủ trị, ngày tương ứng là Mậu Kỷ. Tỳ khổ vì thấp, nên cần ăn vị đắng để làm táo.
Phế chủ mùa thu, kinh thủ Thái âm và thủ Dương minh chủ trị, ngày tương ứng là Canh Tân. Phế khổ vì khí thượng nghịch, nên cần ăn vị đắng để tiết xuống.
Thận chủ mùa đông, kinh túc Thiếu âm và túc Thái dương chủ trị, ngày tương ứng là Nhâm Quý. Thận khổ vì táo, nên cần ăn vị cay để nhuận, mở tấu lý, đưa tân dịch đến, làm khí thông.
Giải thích từ ngữ
Tạng khí pháp thời (藏气法时): khí của năm tạng phải theo phép bốn mùa mà xét. Mùa nào, tạng nào, ngày nào, vị nào đều có sự tương ứng.
Tòng và nghịch (从、逆): thuận với thời khí, ngũ hành, tạng khí là tòng; trái với quy luật ấy là nghịch.
Cánh quý cánh tiện (更贵更贱): ngũ hành thay nhau lúc thịnh, lúc suy, lúc làm chủ, lúc bị chế.
Giáp Ất, Bính Đinh, Mậu Kỷ, Canh Tân, Nhâm Quý: mười thiên can, lần lượt phối với Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.
Can khổ cấp (肝苦急): Can dễ khổ vì co rút, cấp bách, khí uất căng. Vị ngọt có thể hoãn cấp.
Tâm khổ hoãn (心苦缓): Tâm khổ vì quá tán hoãn, cần vị chua để thu liễm.
Tỳ khổ thấp (脾苦湿): Tỳ sợ thấp, vì thấp làm trở ngại vận hóa. Vị đắng có thể táo thấp.
Phế khổ khí thượng nghịch (肺苦气上逆): Phế chủ túc giáng, nếu khí nghịch lên thì ho, suyễn, tức. Vị đắng giúp tiết giáng.
Thận khổ táo (肾苦燥): Thận chủ thủy, tàng tinh, không ưa khô táo. Vị cay giúp khai thông, làm tân dịch phân bố.
Câu 2
病在肝,愈于夏,夏不愈,甚于秋,秋不死,持于冬,起于春,禁当风。肝病者,愈在丙丁,丙丁不愈,加于庚辛,庚辛不死,持于壬癸,起于甲乙。肝病者,平旦慧,下晡甚,夜半静。肝欲散,急食辛以散之,用辛补之,酸写之。
Hán Việt
Bệnh tại Can, dũ vu hạ; hạ bất dũ, thậm vu thu; thu bất tử, trì vu đông; khởi vu xuân, cấm đương phong.
Can bệnh giả, dũ tại Bính Đinh; Bính Đinh bất dũ, gia vu Canh Tân; Canh Tân bất tử, trì vu Nhâm Quý; khởi vu Giáp Ất.
Can bệnh giả, bình đán tuệ, hạ bô thậm, dạ bán tĩnh.
Can dục tán, cấp thực tân dĩ tán chi, dụng tân bổ chi, toan tả chi.
Dịch nghĩa
Bệnh ở Can thì khỏi vào mùa hạ. Nếu mùa hạ không khỏi, đến mùa thu sẽ nặng. Nếu mùa thu không chết, sang mùa đông sẽ giữ lại, đến mùa xuân thì phát khởi. Cấm gặp gió.
Người bệnh Can thì khỏi vào ngày Bính Đinh. Nếu ngày Bính Đinh không khỏi, đến ngày Canh Tân sẽ nặng. Nếu qua Canh Tân mà không chết, đến Nhâm Quý thì giữ lại, đến Giáp Ất thì phát khởi.
Người bệnh Can thì sáng sớm tỉnh táo, cuối buổi chiều nặng, nửa đêm yên tĩnh.
Can muốn tán, nên cần ăn vị cay để tán. Dùng vị cay để bổ, dùng vị chua để tả.
Giải thích từ ngữ
Can bệnh dũ vu hạ (肝病愈于夏): Can thuộc Mộc, Hỏa là con của Mộc. Đến mùa hạ Hỏa vượng, khí Mộc được tiết hóa nên bệnh có thể khỏi.
Thậm vu thu (甚于秋): mùa thu thuộc Kim, Kim khắc Mộc, nên bệnh Can dễ nặng.
Trì vu đông (持于冬): mùa đông thuộc Thủy, Thủy sinh Mộc, bệnh được giữ, chưa phát mạnh.
Khởi vu xuân (起于春): mùa xuân Mộc vượng, Can khí phát, bệnh dễ khởi lại.
Cấm đương phong (禁当风): bệnh Can, phong dễ động Can, nên kiêng bị gió thổi.
Bình đán tuệ (平旦慧): sáng sớm Mộc khí sinh, Can bệnh có lúc tỉnh táo hơn.
Hạ bô thậm (下晡甚): cuối chiều thuộc Kim khí mạnh, Kim khắc Mộc nên Can bệnh nặng.
Can dục tán (肝欲散): Can thích sơ tán, điều đạt, không thích uất kết.
Tân bổ, toan tả (辛补,酸写): vị cay giúp phát tán Can khí nên gọi là bổ; vị chua thu liễm, có thể dùng để tả sự thái quá của Can.
Câu 3
病在心,愈在长夏,长夏不愈,甚于冬,冬不死,持于春,起于夏,禁温食热衣。心病者,愈在戊己,戊己不愈,加于壬癸,壬癸不死,持于甲乙,起于丙丁。心病者,日中慧,夜半甚,平旦静。心欲耎,急食咸以耎之,用咸补之,甘写之。
Hán Việt
Bệnh tại Tâm, dũ tại trưởng hạ; trưởng hạ bất dũ, thậm vu đông; đông bất tử, trì vu xuân; khởi vu hạ, cấm ôn thực nhiệt y.
Tâm bệnh giả, dũ tại Mậu Kỷ; Mậu Kỷ bất dũ, gia vu Nhâm Quý; Nhâm Quý bất tử, trì vu Giáp Ất; khởi vu Bính Đinh.
Tâm bệnh giả, nhật trung tuệ, dạ bán thậm, bình đán tĩnh.
Tâm dục nhuyễn, cấp thực hàm dĩ nhuyễn chi, dụng hàm bổ chi, cam tả chi.
Dịch nghĩa
Bệnh ở Tâm thì khỏi vào trưởng hạ. Nếu trưởng hạ không khỏi, đến mùa đông sẽ nặng. Nếu mùa đông không chết, sang mùa xuân sẽ giữ lại, đến mùa hạ thì phát khởi. Cấm ăn thức ăn ấm nóng và mặc áo quá nóng.
Người bệnh Tâm thì khỏi vào ngày Mậu Kỷ. Nếu ngày Mậu Kỷ không khỏi, đến Nhâm Quý sẽ nặng. Nếu qua Nhâm Quý mà không chết, đến Giáp Ất thì giữ lại, đến Bính Đinh thì phát khởi.
Người bệnh Tâm thì giữa trưa tỉnh táo, nửa đêm nặng, sáng sớm yên tĩnh.
Tâm muốn mềm, nên cần ăn vị mặn để làm mềm. Dùng vị mặn để bổ, dùng vị ngọt để tả.
Giải thích từ ngữ
Tâm chủ hạ (心主夏): Tâm thuộc Hỏa, ứng mùa hạ.
Dũ tại trưởng hạ (愈在长夏): trưởng hạ thuộc Thổ, Hỏa sinh Thổ, Tâm Hỏa được tiết, bệnh có thể dịu.
Thậm vu đông (甚于冬): mùa đông thuộc Thủy, Thủy khắc Hỏa, nên Tâm bệnh dễ nặng.
Cấm ôn thực nhiệt y (禁温食热衣): Tâm bệnh thường sợ nhiệt trợ Hỏa, nên kiêng thức ăn quá nóng và mặc quá ấm.
Nhật trung tuệ (日中慧): giữa trưa Hỏa khí vượng, Tâm khí tương ứng, có lúc tỉnh táo hơn.
Dạ bán thậm (夜半甚): nửa đêm Thủy khí vượng, Thủy khắc Hỏa, bệnh Tâm nặng.
Tâm dục nhuyễn (心欲耎): Tâm cần mềm nhu, không nên căng cấp, bế kết.
Hàm bổ, cam tả (咸补,甘写): vị mặn làm mềm, nên bổ Tâm khi cần nhu; vị ngọt làm hoãn, có thể tả sự quá hoãn của Tâm.
Câu 4
病在脾,愈在秋,秋不愈,甚于春,春不死,持于夏,起于长夏,禁温食饱食湿地濡衣。脾病者,愈在庚辛,庚辛不愈,加于甲乙,甲乙不死,持于丙丁,起于戊己。脾病者,日昳慧,日出甚,下晡静。脾欲缓,急食甘以缓之,用苦写之,甘补之。
Hán Việt
Bệnh tại Tỳ, dũ tại thu; thu bất dũ, thậm vu xuân; xuân bất tử, trì vu hạ; khởi vu trưởng hạ, cấm ôn thực bão thực thấp địa nhu y.
Tỳ bệnh giả, dũ tại Canh Tân; Canh Tân bất dũ, gia vu Giáp Ất; Giáp Ất bất tử, trì vu Bính Đinh; khởi vu Mậu Kỷ.
Tỳ bệnh giả, nhật điệt tuệ, nhật xuất thậm, hạ bô tĩnh.
Tỳ dục hoãn, cấp thực cam dĩ hoãn chi, dụng khổ tả chi, cam bổ chi.
Dịch nghĩa
Bệnh ở Tỳ thì khỏi vào mùa thu. Nếu mùa thu không khỏi, đến mùa xuân sẽ nặng. Nếu mùa xuân không chết, sang mùa hạ sẽ giữ lại, đến trưởng hạ thì phát khởi. Cấm ăn thức ăn ấm nóng, ăn quá no, ở nơi đất ẩm, mặc áo ướt.
Người bệnh Tỳ thì khỏi vào ngày Canh Tân. Nếu ngày Canh Tân không khỏi, đến Giáp Ất sẽ nặng. Nếu qua Giáp Ất mà không chết, đến Bính Đinh thì giữ lại, đến Mậu Kỷ thì phát khởi.
Người bệnh Tỳ thì xế chiều tỉnh táo, lúc mặt trời mọc nặng, cuối buổi chiều yên tĩnh.
Tỳ muốn hoãn, nên cần ăn vị ngọt để làm hoãn. Dùng vị đắng để tả, dùng vị ngọt để bổ.
Giải thích từ ngữ
Tỳ chủ trưởng hạ (脾主长夏): Tỳ thuộc Thổ, ứng trưởng hạ, chủ vận hóa thủy cốc và thấp.
Dũ tại thu (愈在秋): Thổ sinh Kim, đến mùa thu Kim vượng, Tỳ Thổ được tiết hóa nên bệnh có thể dịu.
Thậm vu xuân (甚于春): xuân thuộc Mộc, Mộc khắc Thổ, nên Tỳ bệnh dễ nặng.
Cấm bão thực thấp địa nhu y (禁饱食湿地濡衣): bệnh Tỳ sợ ăn quá no, thấp địa, áo ướt, vì đều làm tổn vận hóa, sinh thấp.
Nhật điệt tuệ (日昳慧): khoảng sau giữa ngày, Thổ khí tương đối vượng, bệnh Tỳ có lúc tỉnh táo hơn.
Tỳ dục hoãn (脾欲缓): Tỳ thích hòa hoãn, không ưa cấp bách.
Cam bổ, khổ tả (甘补,苦写): vị ngọt làm hoãn và bổ Tỳ; vị đắng táo thấp, tiết thực, nên dùng để tả.
Câu 5
病在肺,愈在冬,冬不愈,甚于夏,夏不死,持于长夏,起于秋,禁寒饮食寒衣。肺病者,愈在壬癸,壬癸不愈,加于丙丁,丙丁不死,持于戊己,起于庚辛。肺病者,下晡慧,日中甚,夜半静。肺欲收,急食酸以收之,用酸补之,辛写之。
Hán Việt
Bệnh tại Phế, dũ tại đông; đông bất dũ, thậm vu hạ; hạ bất tử, trì vu trưởng hạ; khởi vu thu, cấm hàn ẩm thực hàn y.
Phế bệnh giả, dũ tại Nhâm Quý; Nhâm Quý bất dũ, gia vu Bính Đinh; Bính Đinh bất tử, trì vu Mậu Kỷ; khởi vu Canh Tân.
Phế bệnh giả, hạ bô tuệ, nhật trung thậm, dạ bán tĩnh.
Phế dục thu, cấp thực toan dĩ thu chi, dụng toan bổ chi, tân tả chi.
Dịch nghĩa
Bệnh ở Phế thì khỏi vào mùa đông. Nếu mùa đông không khỏi, đến mùa hạ sẽ nặng. Nếu mùa hạ không chết, sang trưởng hạ sẽ giữ lại, đến mùa thu thì phát khởi. Cấm uống lạnh, ăn lạnh, mặc áo lạnh.
Người bệnh Phế thì khỏi vào ngày Nhâm Quý. Nếu ngày Nhâm Quý không khỏi, đến Bính Đinh sẽ nặng. Nếu qua Bính Đinh mà không chết, đến Mậu Kỷ thì giữ lại, đến Canh Tân thì phát khởi.
Người bệnh Phế thì cuối buổi chiều tỉnh táo, giữa trưa nặng, nửa đêm yên tĩnh.
Phế muốn thu liễm, nên cần ăn vị chua để thu lại. Dùng vị chua để bổ, dùng vị cay để tả.
Giải thích từ ngữ
Phế chủ thu (肺主秋): Phế thuộc Kim, ứng mùa thu, chủ thu liễm, túc giáng.
Dũ tại đông (愈在冬): Kim sinh Thủy, đến mùa đông Thủy vượng, Phế Kim được tiết hóa, bệnh có thể dịu.
Thậm vu hạ (甚于夏): mùa hạ thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim, nên Phế bệnh dễ nặng.
Cấm hàn ẩm thực hàn y (禁寒饮食寒衣): bệnh Phế dễ bị hàn làm tổn tuyên giáng, nên kiêng uống lạnh, ăn lạnh, mặc lạnh.
Hạ bô tuệ (下晡慧): cuối buổi chiều Kim khí mạnh, Phế bệnh có lúc nhẹ hơn.
Nhật trung thậm (日中甚): giữa trưa Hỏa vượng, Hỏa khắc Kim, Phế bệnh nặng.
Phế dục thu (肺欲收): Phế thích thu liễm, túc giáng.
Toan bổ, tân tả (酸补,辛写): vị chua thu liễm, giúp bổ Phế; vị cay phát tán, có thể tả sự bế uất của Phế.
Câu 6
病在肾,愈在春,春不愈,甚于长夏,长夏不死,持于秋,起于冬,禁犯焠㶼热食温炙衣。肾病者,愈在甲乙,甲乙不愈,甚于戊己,戊己不死,持于庚辛,起于壬癸。肾病者,夜半慧,四季甚,下晡静。肾欲坚,急食苦以坚之,用苦补之,咸写之。
Hán Việt
Bệnh tại Thận, dũ tại xuân; xuân bất dũ, thậm vu trưởng hạ; trưởng hạ bất tử, trì vu thu; khởi vu đông, cấm phạm thối úy nhiệt thực ôn chích y.
Thận bệnh giả, dũ tại Giáp Ất; Giáp Ất bất dũ, thậm vu Mậu Kỷ; Mậu Kỷ bất tử, trì vu Canh Tân; khởi vu Nhâm Quý.
Thận bệnh giả, dạ bán tuệ, tứ quý thậm, hạ bô tĩnh.
Thận dục kiên, cấp thực khổ dĩ kiên chi, dụng khổ bổ chi, hàm tả chi.
Dịch nghĩa
Bệnh ở Thận thì khỏi vào mùa xuân. Nếu mùa xuân không khỏi, đến trưởng hạ sẽ nặng. Nếu trưởng hạ không chết, sang mùa thu sẽ giữ lại, đến mùa đông thì phát khởi. Cấm phạm vào lửa nóng, ăn đồ nóng, mặc áo hơ nóng.
Người bệnh Thận thì khỏi vào ngày Giáp Ất. Nếu ngày Giáp Ất không khỏi, đến Mậu Kỷ sẽ nặng. Nếu qua Mậu Kỷ mà không chết, đến Canh Tân thì giữ lại, đến Nhâm Quý thì phát khởi.
Người bệnh Thận thì nửa đêm tỉnh táo, các thời tứ quý nặng, cuối buổi chiều yên tĩnh.
Thận muốn kiên chắc, nên cần ăn vị đắng để làm kiên. Dùng vị đắng để bổ, dùng vị mặn để tả.
Giải thích từ ngữ
Thận chủ đông (肾主冬): Thận thuộc Thủy, ứng mùa đông, chủ tàng tinh.
Dũ tại xuân (愈在春): Thủy sinh Mộc, mùa xuân Mộc vượng, Thận Thủy được tiết hóa, bệnh có thể dịu.
Thậm vu trưởng hạ (甚于长夏): trưởng hạ thuộc Thổ, Thổ khắc Thủy, nên Thận bệnh dễ nặng.
Cấm phạm nhiệt (禁犯热): bệnh Thận sợ nhiệt làm hao tinh, động âm, nên kiêng lửa nóng, thức ăn nóng, áo quá nóng.
Dạ bán tuệ (夜半慧): nửa đêm Thủy khí vượng, Thận bệnh có lúc tỉnh hơn.
Tứ quý thậm (四季甚): các thời chuyển mùa thuộc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thận bệnh dễ nặng.
Thận dục kiên (肾欲坚): Thận cần kiên cố, tàng giữ tinh khí.
Khổ bổ, hàm tả (苦补,咸写): vị đắng làm kiên, giúp bổ Thận; vị mặn làm mềm, có thể tả sự quá kiên hoặc kết.
Câu 7
夫邪气之客于身也,以胜相加,至其所生而愈,至其所不胜而甚,至于所生而持,自得其位而起。必先定五藏之脉,乃可言间甚之时,死生之期也。
Hán Việt
Phù tà khí chi khách vu thân dã, dĩ thắng tương gia, chí kỳ sở sinh nhi dũ, chí kỳ sở bất thắng nhi thậm, chí vu sở sinh nhi trì, tự đắc kỳ vị nhi khởi. Tất tiên định ngũ tạng chi mạch, nãi khả ngôn gian thậm chi thời, tử sinh chi kỳ dã.
Dịch nghĩa
Tà khí khi trú ở thân người, thường lấy sự chế thắng mà thêm vào nhau. Đến nơi sinh ra nó thì khỏi; đến nơi nó không thắng được thì nặng; đến nơi nó sinh ra thì giữ lại; tự trở về vị trí của mình thì phát khởi.
Trước hết phải định rõ mạch của năm tạng, rồi mới có thể nói đến thời bệnh nhẹ hay nặng, và kỳ hạn sống chết.
Giải thích từ ngữ
Tà khí chi khách (邪气之客): tà khí trú ngụ trong thân, như khách đến ở nhờ.
Dĩ thắng tương gia (以胜相加): dựa theo quan hệ ngũ hành tương thắng, tương khắc mà bệnh biến hóa.
Sở sinh (所生): nơi sinh ra hoặc nơi được sinh theo quan hệ ngũ hành.
Sở bất thắng (所不胜): nơi mình không thắng được, tức yếu tố khắc mình, bệnh đến đó thường nặng.
Tự đắc kỳ vị nhi khởi (自得其位而起): khi trở về đúng mùa, đúng ngày, đúng vị trí của tạng bệnh thì bệnh phát khởi.
Gian thậm chi thời (间甚之时): lúc bệnh nhẹ và lúc bệnh nặng.
Câu 8
肝病者,两脇下痛引少腹,令人善怒,虚则目䀮䀮无所见,耳无所闻,善恐如人将捕之,取其经,厥阴与少阳,气逆,则头痛耳聋不聪颊肿。取血者。
Hán Việt
Can bệnh giả, lưỡng hiếp hạ thống dẫn thiểu phúc, linh nhân thiện nộ. Hư tắc mục hoang hoang vô sở kiến, nhĩ vô sở văn, thiện khủng như nhân tương bộ chi. Thủ kỳ kinh, Quyết âm dữ Thiếu dương. Khí nghịch, tắc đầu thống, nhĩ lung bất thông, giáp thũng. Thủ huyết giả.
Dịch nghĩa
Người bệnh Can thì đau dưới hai bên hông sườn, lan xuống bụng dưới, làm người hay giận. Nếu hư thì mắt mờ mịt không thấy rõ, tai không nghe rõ, hay sợ hãi như có người sắp bắt mình.
Khi trị, lấy kinh Quyết âm và Thiếu dương. Nếu khí nghịch thì đầu đau, tai điếc, nghe không rõ, má sưng. Có thể lấy huyết để trị.
Giải thích từ ngữ
Lưỡng hiếp hạ thống (两脇下痛): đau dưới hai sườn, vùng Can kinh đi qua.
Dẫn thiểu phúc (引少腹): đau lan xuống bụng dưới, cũng thuộc đường Can kinh.
Thiện nộ (善怒): hay giận, Can chủ sơ tiết, Can khí uất dễ sinh giận.
Mục hoang hoang (目䀮䀮): mắt mờ, không sáng, do Can khai khiếu ra mắt.
Quyết âm dữ Thiếu dương (厥阴与少阳): Can thuộc túc Quyết âm, Đởm thuộc túc Thiếu dương, hai kinh biểu lý.
Thủ huyết (取血): chích huyết ở lạc hoặc huyệt thích hợp để tiết ứ, thông khí.
Câu 9
心病者,胸中痛,脇支满,脇下痛,膺背肩甲间痛,两臂内痛,虚则胸腹大,脇下与腰相引而痛,取其经者,少阴太阳,舌下血者。其变病,刺郄中血者。
Hán Việt
Tâm bệnh giả, hung trung thống, hiếp chi mãn, hiếp hạ thống, ưng bối kiên giáp gian thống, lưỡng tý nội thống. Hư tắc hung phúc đại, hiếp hạ dữ yêu tương dẫn nhi thống. Thủ kỳ kinh giả, Thiếu âm Thái dương, thiệt hạ huyết giả. Kỳ biến bệnh, thích khích trung huyết giả.
Dịch nghĩa
Người bệnh Tâm thì đau trong ngực, hai bên hông sườn chống đầy, đau dưới sườn, đau vùng ngực trước, lưng và giữa hai xương bả vai, đau mặt trong hai cánh tay.
Nếu hư thì ngực bụng trướng lớn, dưới sườn và lưng eo đau kéo nhau.
Khi trị, lấy kinh Thiếu âm và Thái dương, có thể lấy huyết dưới lưỡi. Nếu bệnh biến, châm lấy huyết ở huyệt khích.
Giải thích từ ngữ
Hung trung thống (胸中痛): đau trong ngực, liên hệ Tâm mạch.
Ưng bối kiên giáp gian thống (膺背肩甲间痛): đau vùng ngực, lưng và giữa hai bả vai, nơi khí Tâm và Phế, Tâm bào giao hội.
Lưỡng tý nội thống (两臂内痛): đau mặt trong hai tay, thuộc đường kinh Tâm, Tâm bào.
Thiếu âm Thái dương (少阴太阳): Tâm thuộc thủ Thiếu âm, Tiểu trường thuộc thủ Thái dương, hai kinh biểu lý.
Thiệt hạ huyết (舌下血): lấy huyết dưới lưỡi, vì Tâm khai khiếu ra lưỡi.
Khích trung huyết (郄中血): huyệt khích là nơi khí huyết tụ sâu, thường dùng trong bệnh cấp hoặc đau.
Câu 10
脾病者,身重善肌肉痿,足不收,行善瘈,脚下痛,虚则腹满肠鸣,飱泄食不化,取其经,太阴阳明少阴血者。
Hán Việt
Tỳ bệnh giả, thân trọng, thiện cơ nhục nuy, túc bất thu, hành thiện xế, cước hạ thống. Hư tắc phúc mãn, trường minh, sôn tiết, thực bất hóa. Thủ kỳ kinh, Thái âm Dương minh Thiếu âm huyết giả.
Dịch nghĩa
Người bệnh Tỳ thì thân thể nặng nề, cơ nhục dễ mềm yếu teo nhão, chân không thu giữ được, khi đi dễ co giật, dưới bàn chân đau.
Nếu hư thì bụng đầy, ruột sôi, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, ăn vào không tiêu hóa.
Khi trị, lấy kinh Thái âm, Dương minh và Thiếu âm, có thể lấy huyết.
Giải thích từ ngữ
Thân trọng (身重): thân nặng nề, thường do Tỳ thấp, vận hóa kém.
Cơ nhục nuy (肌肉痿): cơ nhục mềm yếu, teo nhão, vì Tỳ chủ cơ nhục.
Túc bất thu (足不收): chân không thu giữ, điều khiển kém.
Hành thiện xế (行善瘈): đi dễ co giật, gân cơ không điều hòa.
Sôn tiết (飱泄): tiêu chảy thức ăn chưa tiêu.
Thái âm Dương minh (太阴阳明): Tỳ thuộc túc Thái âm, Vị thuộc túc Dương minh, biểu lý với nhau.
Thiếu âm: ở đây phối thêm Thiếu âm vì liên hệ hạ tiêu, thủy khí, căn bản âm dương.
Câu 11
肺病者,喘咳逆气,肩背痛,汗出尻阴股膝髀腨胻足皆痛,虚则少气不能报息,耳聋嗌乾,取其经,太阴足太阳之外厥阴内血者。
Hán Việt
Phế bệnh giả, suyễn khái nghịch khí, kiên bối thống, hãn xuất, khảo âm cổ tất bễ thuyên hành túc giai thống. Hư tắc thiểu khí bất năng báo tức, nhĩ lung, ách can. Thủ kỳ kinh, Thái âm túc Thái dương chi ngoại, Quyết âm nội huyết giả.
Dịch nghĩa
Người bệnh Phế thì suyễn, ho, khí nghịch, đau vai lưng, ra mồ hôi; vùng mông, tiền âm, đùi, gối, háng, bắp chân, ống chân, bàn chân đều đau.
Nếu hư thì thiếu khí, không thể hô hấp tiếp nối đầy đủ, tai điếc, họng khô.
Khi trị, lấy kinh Thái âm, phía ngoài của túc Thái dương, và lấy huyết ở phía trong Quyết âm.
Giải thích từ ngữ
Suyễn khái nghịch khí (喘咳逆气): thở suyễn, ho, khí nghịch lên, là bệnh cơ thường gặp của Phế mất tuyên giáng.
Kiên bối thống (肩背痛): Phế ở thượng tiêu, lưng vai thuộc vùng Phế khí phân bố.
Hãn xuất (汗出): Phế chủ bì mao, vệ khí; Phế hư hoặc Phế khí không cố có thể ra mồ hôi.
Thiểu khí bất năng báo tức (少气不能报息): hơi thở ngắn, không nối được hơi.
Ách can (嗌乾): họng khô.
Thái âm: kinh Phế thuộc thủ Thái âm.
Túc Thái dương: kinh Bàng quang đi lưng, mông, chân, nên phối trị khi đau lan vùng sau thân.
Quyết âm nội huyết: lấy huyết ở phần trong thuộc Quyết âm để thông uất, điều khí huyết.
Câu 12
肾病者,腹大胫肿,喘咳身重,寝汗出憎风,虚则胸中痛,大腹小腹痛,清厥意不乐,取其经,少阴太阳血者。
Hán Việt
Thận bệnh giả, phúc đại, hành thũng, suyễn khái, thân trọng, tẩm hãn xuất, tăng phong. Hư tắc hung trung thống, đại phúc tiểu phúc thống, thanh quyết, ý bất lạc. Thủ kỳ kinh, Thiếu âm Thái dương huyết giả.
Dịch nghĩa
Người bệnh Thận thì bụng to, ống chân sưng, suyễn ho, thân nặng, khi ngủ ra mồ hôi, ghét gió.
Nếu hư thì trong ngực đau, bụng lớn và bụng dưới đều đau, tay chân lạnh quyết, tinh thần không vui.
Khi trị, lấy kinh Thiếu âm và Thái dương, có thể lấy huyết.
Giải thích từ ngữ
Phúc đại hành thũng (腹大胫肿): bụng to, cẳng chân sưng, thường liên hệ thủy khí, Thận không khí hóa.
Suyễn khái (喘咳): Thận chủ nạp khí, Thận hư thì khí không quy nguyên, Phế khí nghịch thành suyễn ho.
Tẩm hãn (寝汗): mồ hôi khi ngủ, thường liên hệ âm hư hoặc vệ khí bất cố.
Tăng phong (憎风): ghét gió, sợ gió, biểu khí không vững.
Thanh quyết (清厥): tay chân lạnh quyết, khí dương không đến được tứ chi.
Ý bất lạc (意不乐): tinh thần không vui, ý chí trầm uất, Thận tàng chí.
Thiếu âm Thái dương (少阴太阳): Thận thuộc túc Thiếu âm, Bàng quang thuộc túc Thái dương, hai kinh biểu lý.
Câu 13
肝色青,宜食甘,粳米、牛肉、枣、葵皆甘。心色赤,宜食酸,小豆、犬肉、李、韭皆酸。肺色白,宜食苦,麦、羊肉、杏、薤皆苦。脾色黄,宜食咸,大豆、豕肉、栗、藿皆咸。肾色黑,宜食辛,黄黍、鸡肉、桃、葱皆辛。辛散,酸收,甘缓,苦坚,咸耎。毒药攻邪,五谷为养,五果为助,五畜为益,五菜为充,气味合而服之,以补精益气。此五者。有辛酸甘苦咸,各有所利,或散或收,或缓或急,或坚或耎,四时五藏,病随五味所宜也。
Hán Việt
Can sắc thanh, nghi thực cam, canh mễ, ngưu nhục, táo, quỳ giai cam.
Tâm sắc xích, nghi thực toan, tiểu đậu, khuyển nhục, lý, cửu giai toan.
Phế sắc bạch, nghi thực khổ, mạch, dương nhục, hạnh, giới giai khổ.
Tỳ sắc hoàng, nghi thực hàm, đại đậu, thỉ nhục, lật, hoắc giai hàm.
Thận sắc hắc, nghi thực tân, hoàng thử, kê nhục, đào, thông giai tân.
Tân tán, toan thu, cam hoãn, khổ kiên, hàm nhuyễn.
Độc dược công tà, ngũ cốc vi dưỡng, ngũ quả vi trợ, ngũ súc vi ích, ngũ thái vi sung, khí vị hợp nhi phục chi, dĩ bổ tinh ích khí.
Thử ngũ giả, hữu tân toan cam khổ hàm, các hữu sở lợi, hoặc tán hoặc thu, hoặc hoãn hoặc cấp, hoặc kiên hoặc nhuyễn, tứ thời ngũ tạng, bệnh tùy ngũ vị sở nghi dã.
Dịch nghĩa
Can ứng sắc xanh, nên ăn vị ngọt; gạo tẻ, thịt bò, táo, rau quỳ đều thuộc vị ngọt.
Tâm ứng sắc đỏ, nên ăn vị chua; tiểu đậu, thịt chó, mận, rau hẹ đều thuộc vị chua.
Phế ứng sắc trắng, nên ăn vị đắng; lúa mạch, thịt dê, hạnh, kiệu đều thuộc vị đắng.
Tỳ ứng sắc vàng, nên ăn vị mặn; đậu nành, thịt lợn, hạt dẻ, rau hoắc đều thuộc vị mặn.
Thận ứng sắc đen, nên ăn vị cay; hoàng thử, thịt gà, đào, hành đều thuộc vị cay.
Vị cay thì tán, vị chua thì thu, vị ngọt thì hoãn, vị đắng thì kiên, vị mặn thì làm mềm.
Độc dược dùng để công tà. Năm loại ngũ cốc dùng để nuôi dưỡng. Năm loại quả dùng để trợ giúp. Năm loại súc vật dùng để bổ ích. Năm loại rau dùng để làm đầy đủ. Khí và vị phối hợp mà dùng, để bổ tinh, ích khí.
Năm loại ấy gồm cay, chua, ngọt, đắng, mặn, mỗi vị đều có chỗ lợi. Có vị làm tán, có vị làm thu; có vị làm hoãn, có vị làm cấp; có vị làm kiên, có vị làm mềm. Bốn mùa, năm tạng, bệnh đều theo chỗ thích nghi của năm vị mà dùng.
Giải thích từ ngữ
Can sắc thanh, Tâm sắc xích, Phế sắc bạch, Tỳ sắc hoàng, Thận sắc hắc: năm tạng ứng năm sắc theo ngũ hành.
Tân tán (辛散): vị cay có tác dụng phát tán, hành khí, khai thông.
Toan thu (酸收): vị chua có tác dụng thu liễm, cố sáp.
Cam hoãn (甘缓): vị ngọt có tác dụng hòa hoãn, bổ ích, giảm cấp.
Khổ kiên (苦坚): vị đắng có tác dụng làm kiên, táo thấp, tiết giáng.
Hàm nhuyễn (咸耎): vị mặn có tác dụng làm mềm, tán kết, vào Thận.
Độc dược công tà (毒药攻邪): thuốc có dược lực mạnh dùng để công trục tà khí.
Ngũ cốc vi dưỡng (五谷为养): ngũ cốc là gốc nuôi dưỡng thân thể.
Ngũ quả vi trợ (五果为助): trái cây hỗ trợ sinh tân, điều vị.
Ngũ súc vi ích (五畜为益): thịt súc vật giúp bổ ích khí huyết.
Ngũ thái vi sung (五菜为充): rau củ làm đầy đủ, điều hòa, thông lợi.
Nhận xét chung
Thiên Tạng khí pháp thời luận lấy năm tạng, bốn mùa, ngũ hành, thiên can, ngày giờ, ngũ vị và phép trị nối thành một hệ thống. Ý chính là: trị bệnh không thể tách khỏi thời khí. Bệnh ở Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận đều có mùa dễ khỏi, mùa dễ nặng, mùa giữ lại và mùa phát khởi; cũng có ngày tương ứng theo thiên can, có thời điểm trong ngày lúc tỉnh, lúc nặng, lúc yên.
Điểm rất quan trọng là phép dùng vị. Can muốn tán, dùng cay để bổ, chua để tả. Tâm muốn mềm, dùng mặn để bổ, ngọt để tả. Tỳ muốn hoãn, dùng ngọt để bổ, đắng để tả. Phế muốn thu, dùng chua để bổ, cay để tả. Thận muốn kiên, dùng đắng để bổ, mặn để tả. Đây là cách Nội Kinh nhìn vị thuốc và vị ăn không chỉ theo dinh dưỡng, mà theo khí hóa của tạng.
Thiên này cũng nhắc rằng bệnh của một tạng không đứng riêng. Tà khí đến thân người sẽ biến hóa theo quan hệ sinh khắc. Đến chỗ sinh thì có thể khỏi, đến chỗ không thắng được thì nặng, đến chỗ được sinh thì giữ lại, trở về đúng vị trí của mình thì phát. Vì vậy, trước hết phải định rõ mạch của năm tạng, rồi mới nói được bệnh lúc nào nhẹ, lúc nào nặng, sống chết ra sao.
Phần triệu chứng của năm tạng rất gần lâm sàng. Can bệnh đau hai sườn, hay giận, mắt mờ, tai kém. Tâm bệnh đau ngực, đau mặt trong tay, đau lưng vai. Tỳ bệnh thân nặng, cơ nhục yếu, bụng đầy, tiêu hóa kém. Phế bệnh suyễn ho, đau vai lưng, ít khí, họng khô. Thận bệnh bụng to, chân sưng, suyễn ho, mồ hôi khi ngủ, tay chân lạnh, ý không vui. Những mô tả ấy giúp nối tạng tượng với kinh mạch và biểu hiện cụ thể.
Phần cuối về ngũ cốc, ngũ quả, ngũ súc, ngũ thái rất đáng quý. Thuốc mạnh dùng để công tà, nhưng thức ăn mới là nền nuôi dưỡng lâu dài. Ăn uống nếu hợp khí vị thì bổ tinh ích khí; nếu trái tạng, trái mùa, trái bệnh thì cũng có thể làm bệnh nặng. Vì vậy, dưỡng sinh và trị bệnh đều phải biết điều hòa ngũ vị, không thiên lệch, không quá mức, tùy tạng, tùy mùa, tùy bệnh mà dùng.