Bàn làm sáng tỏ năm loại khí và sự quy thuộc của năm tạng
Câu 1
味所入;酸入肝,辛入肺,苦入心,咸入肾,甘入脾,是谓五入。
Hán Việt
Vị sở nhập: toan nhập Can, tân nhập Phế, khổ nhập Tâm, hàm nhập Thận, cam nhập Tỳ, thị vị ngũ nhập.
Dịch nghĩa
Nơi năm vị đi vào là: vị chua vào Can, vị cay vào Phế, vị đắng vào Tâm, vị mặn vào Thận, vị ngọt vào Tỳ. Đó gọi là năm sự đi vào.
Giải thích từ ngữ
Ngũ nhập (五入): năm vị quy nhập vào năm tạng. Chua ứng Can, cay ứng Phế, đắng ứng Tâm, mặn ứng Thận, ngọt ứng Tỳ. Đây là nền tảng để dùng thức ăn và thuốc theo khí vị.
Câu 2
气所病:心为噫,肺为咳,肝为语,脾为吞,肾为欠为嚏,胃为气逆为哕为恐,大肠小肠为泄,下焦溢为水,膀胱不利为癃,不约为遗溺,胆为怒,是谓五病。
Hán Việt
Khí sở bệnh: Tâm vi ế, Phế vi khái, Can vi ngữ, Tỳ vi thôn, Thận vi khiếm vi thế, Vị vi khí nghịch vi uế vi khủng, Đại trường Tiểu trường vi tiết, Hạ tiêu dật vi thủy, Bàng quang bất lợi vi lung, bất ước vi di niệu, Đởm vi nộ, thị vị ngũ bệnh.
Dịch nghĩa
Bệnh do khí gây nên là: ở Tâm thì thành ợ; ở Phế thì thành ho; ở Can thì thành nói nhiều; ở Tỳ thì thành nuốt; ở Thận thì thành ngáp và hắt hơi; ở Vị thì thành khí nghịch, nấc và sợ hãi; ở Đại trường, Tiểu trường thì thành tiết tả; Hạ tiêu tràn ra thì thành thủy bệnh; Bàng quang không thông lợi thì thành tiểu tiện khó; không ước thúc được thì thành tiểu tiện không tự chủ; ở Đởm thì thành giận. Đó gọi là năm loại bệnh.
Giải thích từ ngữ
Khí sở bệnh (气所病): các biểu hiện bệnh khi khí của tạng phủ rối loạn.
Ế (噫): ợ hơi, khí từ trong ngực Vị phát ra.
Khái (咳): ho, do Phế khí mất tuyên giáng.
Khiếm (欠): ngáp, thường liên hệ Thận khí hoặc âm dương không giao.
Thế (嚏): hắt hơi, khí động ở mũi.
Uế (哕): nấc hoặc ọe, do Vị khí nghịch.
Lung (癃): tiểu tiện khó, tiểu không thông.
Di niệu (遗溺): tiểu tiện không tự chủ.
Câu 3
精所并:精气并于心则喜,并于肺则悲,并于肝则忧,并于脾则畏,并于肾则恐,是谓五并,虚而相并者也。
Hán Việt
Tinh sở tịnh: tinh khí tịnh vu Tâm tắc hỷ, tịnh vu Phế tắc bi, tịnh vu Can tắc ưu, tịnh vu Tỳ tắc úy, tịnh vu Thận tắc khủng, thị vị ngũ tịnh, hư nhi tương tịnh giả dã.
Dịch nghĩa
Nơi tinh khí tụ lại: tinh khí tụ ở Tâm thì sinh vui; tụ ở Phế thì sinh buồn; tụ ở Can thì sinh lo; tụ ở Tỳ thì sinh sợ dè; tụ ở Thận thì sinh kinh sợ. Đó gọi là năm sự tụ lại, là do hư mà các khí cùng dồn về.
Giải thích từ ngữ
Tinh sở tịnh (精所并): nơi tinh khí dồn lại, tụ lệch về một tạng.
Ngũ tịnh (五并): năm sự tụ hợp của tinh khí ở năm tạng, biểu hiện thành biến động tình chí.
Hư nhi tương tịnh (虚而相并): vì hư nên khí không phân bố đều, dễ dồn lệch vào một nơi.
Câu 4
藏所恶:心恶热,肺恶寒,肝恶风,脾恶湿,肾恶燥,是谓五恶。
Hán Việt
Tạng sở ố: Tâm ố nhiệt, Phế ố hàn, Can ố phong, Tỳ ố thấp, Thận ố táo, thị vị ngũ ố.
Dịch nghĩa
Điều năm tạng ghét là: Tâm ghét nhiệt, Phế ghét hàn, Can ghét phong, Tỳ ghét thấp, Thận ghét táo. Đó gọi là năm điều ghét.
Giải thích từ ngữ
Ngũ ố (五恶): năm điều mà năm tạng không ưa, cũng là năm loại tà khí dễ làm tổn thương tạng tương ứng.
Tâm ố nhiệt: Tâm thuộc Hỏa, nếu nhiệt quá thì Tâm thần dễ rối.
Phế ố hàn: Phế chủ khí, hàn làm Phế khí bế tắc, dễ ho suyễn.
Can ố phong: Can chủ phong mộc, phong dễ động Can.
Tỳ ố thấp: Tỳ chủ vận hóa, thấp làm Tỳ khí bị trở trệ.
Thận ố táo: Thận chủ thủy, tàng tinh, táo làm hao tân dịch, tổn âm tinh.
Câu 5
藏化液:心为汗,肺为涕,肝为泪,脾为涎,肾为唾,是谓五液。
Hán Việt
Tạng hóa dịch: Tâm vi hãn, Phế vi thế, Can vi lệ, Tỳ vi diên, Thận vi thóa, thị vị ngũ dịch.
Dịch nghĩa
Dịch do tạng hóa ra là: Tâm hóa thành mồ hôi, Phế hóa thành nước mũi, Can hóa thành nước mắt, Tỳ hóa thành nước dãi, Thận hóa thành nước bọt. Đó gọi là năm dịch.
Giải thích từ ngữ
Ngũ dịch (五液): năm loại dịch thể ứng với năm tạng.
Hãn (汗): mồ hôi, liên hệ Tâm huyết và dương khí.
Thế (涕): nước mũi, Phế khai khiếu ra mũi.
Lệ (泪): nước mắt, Can khai khiếu ra mắt.
Diên (涎): nước dãi loãng, Tỳ liên hệ miệng.
Thóa (唾): nước bọt đặc hơn, liên hệ Thận tinh.
Câu 6
味所禁:辛走气,气病无多食辛;咸走血,血病无多食咸;苦走骨,骨病无多食苦;甘走肉,肉病无多食甘;酸走筋,筋病无多食酸;是谓五禁,无令多食。
Hán Việt
Vị sở cấm: tân tẩu khí, khí bệnh vô đa thực tân; hàm tẩu huyết, huyết bệnh vô đa thực hàm; khổ tẩu cốt, cốt bệnh vô đa thực khổ; cam tẩu nhục, nhục bệnh vô đa thực cam; toan tẩu cân, cân bệnh vô đa thực toan; thị vị ngũ cấm, vô lệnh đa thực.
Dịch nghĩa
Điều cấm kỵ của năm vị là: vị cay đi vào khí, người bệnh khí không nên ăn nhiều vị cay; vị mặn đi vào huyết, người bệnh huyết không nên ăn nhiều vị mặn; vị đắng đi vào xương, người bệnh xương không nên ăn nhiều vị đắng; vị ngọt đi vào cơ nhục, người bệnh cơ nhục không nên ăn nhiều vị ngọt; vị chua đi vào gân, người bệnh gân không nên ăn nhiều vị chua. Đó gọi là năm điều cấm, không được để ăn quá nhiều.
Giải thích từ ngữ
Ngũ cấm (五禁): năm điều nên kiêng khi dùng ngũ vị.
Tẩu (走): đi vào, hướng đến, tác động đến.
Không phải hoàn toàn cấm tuyệt đối, mà là không được dùng quá nhiều khi phần tương ứng đang bệnh. Vị có thể nuôi tạng, nhưng dùng quá mức thì lại làm tổn thương.
Câu 7
病所发:阴病发于骨,阳病发于血,阴病发于肉,阳病发于冬,阴病发于夏,是谓五发。
Hán Việt
Bệnh sở phát: âm bệnh phát vu cốt, dương bệnh phát vu huyết, âm bệnh phát vu nhục, dương bệnh phát vu đông, âm bệnh phát vu hạ, thị vị ngũ phát.
Dịch nghĩa
Nơi bệnh phát ra là: bệnh âm phát ở xương, bệnh dương phát ở huyết, bệnh âm phát ở cơ nhục, bệnh dương phát vào mùa đông, bệnh âm phát vào mùa hạ. Đó gọi là năm sự phát bệnh.
Giải thích từ ngữ
Ngũ phát (五发): năm cách bệnh phát sinh theo âm dương, hình thể và thời mùa.
Âm bệnh phát ở xương: xương thuộc sâu, thuộc Thận, thuộc âm.
Dương bệnh phát ở huyết: huyết vận hành nhờ dương khí, nhiệt tà dễ vào huyết.
Âm bệnh phát ở nhục: cơ nhục thuộc Tỳ, dễ chịu thấp trệ, hàn thấp.
Dương bệnh phát vào mùa đông: dương bị hàn bế, dễ uất mà phát bệnh.
Âm bệnh phát vào mùa hạ: mùa hạ dương thịnh, âm dễ bị hao tổn mà phát bệnh.
Câu 8
邪所乱:邪入于阳则狂,邪入于阴则痹,搏阳则为巅疾,搏阴则为喑,阳入之阴则静,阴出之阳则怒,是谓五乱。
Hán Việt
Tà sở loạn: tà nhập vu dương tắc cuồng, tà nhập vu âm tắc tý, bác dương tắc vi điên tật, bác âm tắc vi âm, dương nhập chi âm tắc tĩnh, âm xuất chi dương tắc nộ, thị vị ngũ loạn.
Dịch nghĩa
Sự rối loạn do tà khí là: tà vào dương thì thành cuồng; tà vào âm thì thành tý; tà xung vào dương thì thành bệnh ở đỉnh đầu; tà xung vào âm thì thành mất tiếng; dương đi vào âm thì người yên tĩnh; âm đi ra dương thì người giận dữ. Đó gọi là năm sự rối loạn.
Giải thích từ ngữ
Ngũ loạn (五乱): năm dạng rối loạn do tà khí làm đảo lộn âm dương.
Cuồng (狂): cuồng loạn, kích động, thường thuộc dương thịnh, nhiệt thịnh.
Tý (痹): đau tê bế trở, thường do tà vào phần âm, kinh lạc, cơ nhục.
Điên tật (巅疾): bệnh ở đỉnh đầu, đau đầu, choáng váng.
Âm (喑): câm, mất tiếng, tiếng nói không ra.
Dương nhập chi âm tắc tĩnh: dương khí đi vào âm phận thì động giảm, người yên.
Âm xuất chi dương tắc nộ: âm tà hoặc âm khí nghịch ra dương phận làm khí cơ xung động, dễ giận.
Câu 9
邪所见:春得秋脉,夏得冬脉,长夏得春脉,秋得夏脉,冬得长夏脉,名曰阴出之阳,病善怒不治,是谓五邪,皆同命,死不治。
Hán Việt
Tà sở kiến: xuân đắc thu mạch, hạ đắc đông mạch, trưởng hạ đắc xuân mạch, thu đắc hạ mạch, đông đắc trưởng hạ mạch, danh viết âm xuất chi dương, bệnh thiện nộ bất trị, thị vị ngũ tà, giai đồng mệnh, tử bất trị.
Dịch nghĩa
Sự biểu hiện của tà là: mùa xuân mà gặp mạch mùa thu, mùa hạ mà gặp mạch mùa đông, trưởng hạ mà gặp mạch mùa xuân, mùa thu mà gặp mạch mùa hạ, mùa đông mà gặp mạch trưởng hạ, gọi là âm ra khỏi dương. Bệnh ấy hay làm người giận dữ, không trị được. Đó gọi là năm tà, đều cùng một mệnh, chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Tà sở kiến (邪所见): biểu hiện của tà khí qua mạch tượng.
Xuân đắc thu mạch: mùa xuân đáng hơi huyền mà lại gặp mạch mùa thu, tức mạch trái thời.
Âm xuất chi dương (阴出之阳): âm khí nghịch ra dương phận, âm dương không giữ vị trí, mạch trái bốn mùa.
Ngũ tà (五邪): năm loại mạch tà trái mùa. Văn nói rất nghiêm: đều là dấu bệnh rất nặng.
Bất trị (不治): không trị được, nên hiểu là tiên lượng cực xấu trong ngôn ngữ chẩn đoán cổ, không nên hiểu máy móc tách khỏi toàn bộ bệnh cảnh.
Câu 10
藏所藏:心藏神,肺藏魄,肝藏魂,脾藏意,肾藏志,是谓五藏所藏。
Hán Việt
Tạng sở tàng: Tâm tàng thần, Phế tàng phách, Can tàng hồn, Tỳ tàng ý, Thận tàng chí, thị vị ngũ tạng sở tàng.
Dịch nghĩa
Điều các tạng tàng giữ là: Tâm tàng thần, Phế tàng phách, Can tàng hồn, Tỳ tàng ý, Thận tàng chí. Đó gọi là những điều năm tạng tàng giữ.
Giải thích từ ngữ
Tâm tàng thần (心藏神): Tâm chủ thần minh, ý thức, sự sáng suốt.
Phế tàng phách (肺藏魄): phách liên hệ bản năng thân thể, cảm giác, hô hấp, phản ứng sinh lý.
Can tàng hồn (肝藏魂): hồn liên hệ mộng, ý hướng, hoạt động tinh thần có tính phát động.
Tỳ tàng ý (脾藏意): ý là suy nghĩ, ghi nhớ, tư lự.
Thận tàng chí (肾藏志): chí là ý chí sâu, sự quyết tâm, căn bản tinh thần.
Câu 11
藏所主:心主脉,肺主皮,肝主筋,脾主肉,肾主骨,是谓五主。
Hán Việt
Tạng sở chủ: Tâm chủ mạch, Phế chủ bì, Can chủ cân, Tỳ chủ nhục, Thận chủ cốt, thị vị ngũ chủ.
Dịch nghĩa
Điều các tạng làm chủ là: Tâm chủ mạch, Phế chủ da, Can chủ gân, Tỳ chủ cơ nhục, Thận chủ xương. Đó gọi là năm điều làm chủ.
Giải thích từ ngữ
Ngũ chủ (五主): năm phần hình thể do năm tạng chủ quản.
Tâm chủ mạch: huyết mạch nhờ Tâm khí vận hành.
Phế chủ bì: Phế chủ bì mao, tuyên phát vệ khí ra ngoài.
Can chủ cân: Can huyết nuôi gân, giúp co duỗi.
Tỳ chủ nhục: Tỳ vận hóa thủy cốc để nuôi cơ nhục.
Thận chủ cốt: Thận tàng tinh, tinh sinh tủy, tủy nuôi xương.
Câu 12
劳所伤:久视伤血,久卧伤气,久坐伤肉,久立伤骨,久行伤筋,是谓五劳所伤。
Hán Việt
Lao sở thương: cửu thị thương huyết, cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục, cửu lập thương cốt, cửu hành thương cân, thị vị ngũ lao sở thương.
Dịch nghĩa
Tổn thương do lao nhọc là: nhìn lâu làm tổn thương huyết, nằm lâu làm tổn thương khí, ngồi lâu làm tổn thương cơ nhục, đứng lâu làm tổn thương xương, đi lâu làm tổn thương gân. Đó gọi là tổn thương do năm loại lao.
Giải thích từ ngữ
Ngũ lao (五劳): năm loại tổn thương do dùng thân thể quá lâu, quá lệch.
Cửu thị thương huyết: nhìn lâu hao huyết, vì mắt cần Can huyết và tinh huyết nuôi dưỡng.
Cửu ngọa thương khí: nằm lâu làm khí trệ, Phế khí và vệ khí không thông.
Cửu tọa thương nhục: ngồi lâu làm cơ nhục trệ, Tỳ vận hóa kém.
Cửu lập thương cốt: đứng lâu làm xương khớp mỏi, tổn Thận cốt.
Cửu hành thương cân: đi lâu làm gân mỏi, tổn Can cân.
Câu 13
脉应象:肝脉弦,心脉钩,脾脉代,肺脉毛,肾脉石,是谓五藏之脉。
Hán Việt
Mạch ứng tượng: Can mạch huyền, Tâm mạch câu, Tỳ mạch đại, Phế mạch mao, Thận mạch thạch, thị vị ngũ tạng chi mạch.
Dịch nghĩa
Mạch ứng với hình tượng là: mạch Can là huyền, mạch Tâm là câu, mạch Tỳ là đại, mạch Phế là mao, mạch Thận là thạch. Đó gọi là mạch của năm tạng.
Giải thích từ ngữ
Can mạch huyền (肝脉弦): mạch Can căng dài như dây đàn, nhưng bình thường phải mềm và có Vị khí.
Tâm mạch câu (心脉钩): mạch Tâm như móc câu, đến thịnh đi hơi suy.
Tỳ mạch đại (脾脉代): mạch Tỳ có tính hòa hoãn, thay đổi điều hòa; chữ “đại” ở đây thường đọc theo nghĩa mạch thay, mạch có nhịp riêng của Tỳ, không nên hiểu đơn giản là mạch bệnh đại.
Phế mạch mao (肺脉毛): mạch Phế nhẹ như lông, phù nhẹ mà không tán.
Thận mạch thạch (肾脉石): mạch Thận trầm chắc như đá, sâu mà có căn.
Nhận xét chung
Thiên Tuyên minh ngũ khí là một thiên ngắn nhưng rất cô đọng. Nó đem năm vị, năm tạng, năm dịch, năm chủ, năm lao, năm loại bệnh và mạch tượng của năm tạng quy về một hệ thống. Nếu các thiên trước nói rộng về tạng khí theo bốn mùa, thì thiên này giống như một bảng cương yếu để người học dễ ghi nhớ.
Điểm đầu tiên là năm vị đều có nơi quy nhập. Vị chua vào Can, cay vào Phế, đắng vào Tâm, mặn vào Thận, ngọt vào Tỳ. Nhưng vị không phải càng nhiều càng tốt. Thiên này nhắc rõ “ngũ cấm”: khí bệnh không ăn nhiều cay, huyết bệnh không ăn nhiều mặn, xương bệnh không ăn nhiều đắng, thịt bệnh không ăn nhiều ngọt, gân bệnh không ăn nhiều chua. Đây là tinh thần điều hòa, tránh thiên lệch.
Điểm thứ hai là năm tạng không chỉ là cơ quan hình thể, mà còn tàng giữ thần chí. Tâm tàng thần, Phế tàng phách, Can tàng hồn, Tỳ tàng ý, Thận tàng chí. Vì vậy, bệnh tạng phủ có thể hiện thành biến đổi cảm xúc, giấc mơ, ý chí, sự sợ hãi, buồn vui, giận dữ. Học tạng tượng mà bỏ phần thần chí thì sẽ thiếu một nửa ý nghĩa của Nội Kinh.
Điểm thứ ba là thân thể bị tổn thương do dùng quá lâu, quá lệch. Nhìn lâu, nằm lâu, ngồi lâu, đứng lâu, đi lâu đều có thể làm hại huyết, khí, nhục, cốt, cân. Câu này rất gần với đời sống hiện nay: không phải chỉ lao động nặng mới sinh bệnh, mà sự bất động kéo dài hoặc dùng một chức năng quá mức cũng làm khí huyết mất điều hòa.
Cuối cùng, thiên này quy về mạch tượng của năm tạng: Can huyền, Tâm câu, Tỳ đại, Phế mao, Thận thạch. Nhưng các mạch ấy khi bình thường đều phải có Vị khí, có hòa hoãn, có thần. Nếu chỉ thấy hình mạch thô lộ mà thiếu nhuận hòa, thì đã không còn là mạch bình của tạng nữa.