Bàn về huyết, khí, hình thể và chí ý
Câu 1
夫人之常数,太阳常多血少气,少阳常少血多气,阳明常多气多血,少阴常少血多气,厥阴常多血少气,太阴常多气少血,此天之常数。足太阳与少阴为表里,少阳与厥阴为表里,阳明与太阴为表里,是为足阴阳也。手太阳与少阴为表里,少阳与心主为表里,阳明与太阴为表里,是为手之阴阳也。今知手足阴阳所苦,凡治病必先去其血,乃去其所苦,伺之所欲,然后写有馀,补不足。
Hán Việt
Phù nhân chi thường số, Thái dương thường đa huyết thiểu khí, Thiếu dương thường thiểu huyết đa khí, Dương minh thường đa khí đa huyết, Thiếu âm thường thiểu huyết đa khí, Quyết âm thường đa huyết thiểu khí, Thái âm thường đa khí thiểu huyết, thử thiên chi thường số.
Túc Thái dương dữ Thiếu âm vi biểu lý, Thiếu dương dữ Quyết âm vi biểu lý, Dương minh dữ Thái âm vi biểu lý, thị vi túc âm dương dã.
Thủ Thái dương dữ Thiếu âm vi biểu lý, Thiếu dương dữ Tâm chủ vi biểu lý, Dương minh dữ Thái âm vi biểu lý, thị vi thủ chi âm dương dã.
Kim tri thủ túc âm dương sở khổ, phàm trị bệnh tất tiên khứ kỳ huyết, nãi khứ kỳ sở khổ, tứ chi sở dục, nhiên hậu tả hữu dư, bổ bất túc.
Dịch nghĩa
Phàm thường số của con người là: Thái dương thường nhiều huyết ít khí; Thiếu dương thường ít huyết nhiều khí; Dương minh thường nhiều khí nhiều huyết; Thiếu âm thường ít huyết nhiều khí; Quyết âm thường nhiều huyết ít khí; Thái âm thường nhiều khí ít huyết. Đó là thường số của trời.
Ở chân, Túc Thái dương và Túc Thiếu âm làm biểu lý với nhau; Túc Thiếu dương và Túc Quyết âm làm biểu lý với nhau; Túc Dương minh và Túc Thái âm làm biểu lý với nhau. Đó là âm dương của chân.
Ở tay, Thủ Thái dương và Thủ Thiếu âm làm biểu lý với nhau; Thủ Thiếu dương và Tâm chủ làm biểu lý với nhau; Thủ Dương minh và Thủ Thái âm làm biểu lý với nhau. Đó là âm dương của tay.
Nay đã biết chỗ bệnh khổ của âm dương tay chân, phàm trị bệnh trước hết phải bỏ huyết tà của nó, rồi trừ chỗ gây khổ của nó, chờ xem điều nó muốn, sau đó mới tả phần hữu dư, bổ phần bất túc.
Giải thích từ ngữ
Thường số (常数): quy luật thường hằng, số thường của khí huyết trong các kinh.
Thái dương đa huyết thiểu khí: Thái dương nhiều huyết, khí ít hơn; khi trị cần biết không nên làm tổn huyết quá mức.
Thiếu dương thiểu huyết đa khí: Thiếu dương ít huyết, nhiều khí; khi trị thường chú ý điều khí, tránh hao huyết.
Dương minh đa khí đa huyết: Dương minh là kinh nhiều khí nhiều huyết, nên có thể chịu phép công tả mạnh hơn các kinh khác.
Thiếu âm thiểu huyết đa khí: Thiếu âm ít huyết nhiều khí, liên hệ Tâm Thận, cần thận trọng khi tả.
Quyết âm đa huyết thiểu khí: Quyết âm nhiều huyết ít khí, bệnh thường liên hệ huyết, Can, Tâm bào.
Thái âm đa khí thiểu huyết: Thái âm nhiều khí ít huyết, liên hệ Tỳ Phế, vận hóa và khí hóa.
Biểu lý (表里): quan hệ trong ngoài giữa kinh âm và kinh dương, ví dụ Túc Thái dương Bàng quang biểu lý với Túc Thiếu âm Thận.
Tâm chủ (心主): thường chỉ Tâm bào lạc, tức hệ bảo vệ Tâm, biểu lý với Thủ Thiếu dương Tam tiêu.
Tiên khứ kỳ huyết (先去其血): trước hết trừ huyết ứ, huyết tà, hoặc chích huyết ở lạc mạch khi cần, để khí huyết thông rồi mới bổ tả.
Tả hữu dư, bổ bất túc (写有馀,补不足): phần thừa thì tả, phần thiếu thì bổ; đây là nguyên tắc lớn của châm trị.
Câu 2
欲知背俞,先度其两乳间,中折之,更以他草度去半已,即以两隅相拄也,乃举以度其背,令其一隅居上,齐脊大椎,两隅在下,当其下隅者,肺之俞也。得下一度,心之俞也。复下一度,左角肝之俞也,右角脾之俞也。复下一度,肾之俞也。是谓五藏之俞,灸刺之度也。
Hán Việt
Dục tri bối du, tiên độ kỳ lưỡng nhũ gian, trung chiết chi, cánh dĩ tha thảo độ khứ bán dĩ, tức dĩ lưỡng ngung tương trụ dã, nãi cử dĩ độ kỳ bối, linh kỳ nhất ngung cư thượng, tề tích Đại chùy, lưỡng ngung tại hạ, đương kỳ hạ ngung giả, Phế chi du dã.
Đắc hạ nhất độ, Tâm chi du dã. Phục hạ nhất độ, tả giác Can chi du dã, hữu giác Tỳ chi du dã. Phục hạ nhất độ, Thận chi du dã. Thị vị ngũ tạng chi du, cứu thích chi độ dã.
Dịch nghĩa
Muốn biết các du huyệt ở lưng, trước hết đo khoảng cách giữa hai núm vú, rồi gấp đôi lại lấy một nửa. Lại dùng một cọng cỏ khác đo lấy nửa ấy, rồi lấy hai góc chống vào nhau, sau đó đem lên đo ở lưng.
Khi đo, để một góc ở phía trên, ngang với Đại chùy ở sống lưng, hai góc còn lại ở phía dưới. Chỗ ứng với góc dưới ấy là du huyệt của Phế.
Từ đó xuống thêm một độ là du huyệt của Tâm. Lại xuống thêm một độ, góc bên trái là du huyệt của Can, góc bên phải là du huyệt của Tỳ. Lại xuống thêm một độ nữa là du huyệt của Thận.
Đó gọi là du huyệt của năm tạng, là phép đo để dùng trong cứu và châm.
Giải thích từ ngữ
Bối du (背俞): các huyệt du ở lưng, nơi khí của tạng phủ chuyển thâu ra vùng lưng.
Lưỡng nhũ gian (两乳间): khoảng cách giữa hai núm vú, dùng làm đơn vị đo thân thể riêng của từng người.
Trung chiết (中折): gấp đôi lấy một nửa, là cách đo cổ theo tỷ lệ thân thể.
Đại chùy (大椎): huyệt Đại chùy, ở dưới gai đốt sống cổ thứ bảy, là mốc quan trọng vùng lưng gáy.
Ngũ tạng chi du (五藏之俞): các du huyệt ứng với Phế, Tâm, Can, Tỳ, Thận.
Cứu thích chi độ (灸刺之度): tiêu chuẩn đo lường để cứu và châm, nhấn mạnh phải định vị theo thân thể từng người, không làm tùy tiện.
Câu 3
形乐志苦,病生于脉,治之以灸刺。形乐志乐,病生于肉,治之以针石。形苦志乐,病生于筋,治之以熨引。形苦志苦,病生于咽嗌,治之以百药。形数惊恐,经络不通,病生于不仁,治之以按摩醪药。是谓五形志也。
Hán Việt
Hình lạc chí khổ, bệnh sinh vu mạch, trị chi dĩ cứu thích.
Hình lạc chí lạc, bệnh sinh vu nhục, trị chi dĩ châm thạch.
Hình khổ chí lạc, bệnh sinh vu cân, trị chi dĩ uất dẫn.
Hình khổ chí khổ, bệnh sinh vu yết ách, trị chi dĩ bách dược.
Hình sác kinh khủng, kinh lạc bất thông, bệnh sinh vu bất nhân, trị chi dĩ án ma lao dược.
Thị vị ngũ hình chí dã.
Dịch nghĩa
Hình thể an nhàn mà chí ý khổ sở, bệnh sinh ở mạch, dùng cứu và châm để trị.
Hình thể an nhàn, chí ý cũng vui hòa, bệnh sinh ở cơ nhục, dùng châm thạch để trị.
Hình thể lao khổ mà chí ý vui hòa, bệnh sinh ở gân, dùng phép chườm nóng và đạo dẫn để trị.
Hình thể lao khổ, chí ý cũng khổ sở, bệnh sinh ở họng và yết hầu, dùng nhiều loại thuốc để trị.
Hình thể thường bị kinh sợ, kinh lạc không thông, bệnh sinh ra tê dại bất nhân, dùng xoa bóp và lao dược để trị.
Đó gọi là năm loại hình chí.
Giải thích từ ngữ
Hình (形): hình thể, thân xác, mức độ lao nhọc hay an nhàn của thân.
Chí (志): chí ý, tinh thần, tâm chí, trạng thái vui khổ bên trong.
Hình lạc chí khổ: thân nhàn nhưng tâm khổ, khí huyết dễ uất ở mạch.
Hình lạc chí lạc: thân tâm đều an, nếu bệnh thường ở cơ nhục, dùng châm thạch điều thông.
Hình khổ chí lạc: thân lao mà tâm vui, bệnh dễ ở gân, nên dùng uất dẫn để làm ấm và kéo giãn.
Uất dẫn (熨引): chườm nóng, xoa ấm, phối hợp vận động dẫn kéo để thông gân mạch.
Hình khổ chí khổ: thân tâm đều khổ, bệnh dễ vào sâu, phát ở họng, yết hầu, cần dùng thuốc.
Bất nhân (不仁): tê dại, mất cảm giác, không biết đau ngứa rõ.
Án ma (按摩): xoa bóp, ấn nắn để thông kinh lạc.
Lao dược (醪药): thuốc hòa với rượu hoặc thuốc dạng lên men, có tác dụng ôn thông, hành khí huyết.
Ngũ hình chí (五形志): năm kiểu phối hợp giữa tình trạng hình thể và chí ý, dùng để xét nơi phát bệnh và chọn phép trị.
Câu 4
刺阳明出血气,刺太阳,出血恶气,刺少阳,出气恶血,刺太阴,出气恶血,刺少阴,出气恶血,刺厥阴,出血恶气也。
Hán Việt
Thích Dương minh xuất huyết khí; thích Thái dương, xuất huyết ố khí; thích Thiếu dương, xuất khí ố huyết; thích Thái âm, xuất khí ố huyết; thích Thiếu âm, xuất khí ố huyết; thích Quyết âm, xuất huyết ố khí dã.
Dịch nghĩa
Châm Dương minh thì có thể làm ra cả huyết và khí.
Châm Thái dương thì làm ra huyết, nhưng ghét làm hao khí.
Châm Thiếu dương thì làm ra khí, nhưng ghét làm hao huyết.
Châm Thái âm thì làm ra khí, nhưng ghét làm hao huyết.
Châm Thiếu âm thì làm ra khí, nhưng ghét làm hao huyết.
Châm Quyết âm thì làm ra huyết, nhưng ghét làm hao khí.
Giải thích từ ngữ
Thích Dương minh xuất huyết khí (刺阳明出血气): Dương minh nhiều khí nhiều huyết, nên khi châm có thể điều cả khí lẫn huyết.
Thái dương đa huyết thiểu khí: Thái dương nhiều huyết ít khí, nên có thể xuất huyết nhưng không nên làm tổn khí.
Thiếu dương thiểu huyết đa khí: Thiếu dương ít huyết nhiều khí, nên có thể điều khí nhưng phải tránh hao huyết.
Thái âm đa khí thiểu huyết: Thái âm nhiều khí ít huyết, nên điều khí là chính, không nên làm tổn huyết.
Thiếu âm thiểu huyết đa khí: Thiếu âm ít huyết nhiều khí, lại liên hệ căn bản Tâm Thận, càng phải thận trọng với huyết.
Quyết âm đa huyết thiểu khí: Quyết âm nhiều huyết ít khí, có thể dùng phép huyết, nhưng phải tránh hao khí.
Chữ “ố” (恶): nghĩa là ghét, kỵ, không nên làm tổn. Ở đây không phải nói “khí xấu” hay “huyết xấu”, mà là khi châm kinh ấy thì phải tránh làm hao phần vốn đã ít.
Nhận xét chung
Thiên Huyết khí hình chí bàn về ba điều rất thiết thực trong châm trị: thứ nhất là mỗi kinh có lượng khí huyết khác nhau; thứ hai là hình thể và chí ý khác nhau thì nơi sinh bệnh khác nhau; thứ ba là phép châm phải tùy kinh mà biết nên xuất khí hay xuất huyết, tránh làm tổn phần vốn đã thiếu.
Điểm đầu tiên là thường số của khí huyết. Dương minh nhiều khí nhiều huyết, nên có thể chịu phép công tả hơn. Thái dương và Quyết âm nhiều huyết ít khí, trị có thể liên hệ huyết nhưng phải giữ khí. Thiếu dương, Thiếu âm, Thái âm nhiều khí ít huyết hoặc ít huyết hơn, nên khi trị không nên làm hao huyết. Đây là nguyên tắc rất quan trọng để tránh châm quá mức.
Điểm thứ hai là quan hệ biểu lý của tay chân. Túc Thái dương đi với Túc Thiếu âm, Túc Thiếu dương đi với Túc Quyết âm, Túc Dương minh đi với Túc Thái âm. Ở tay cũng như vậy: Thủ Thái dương đi với Thủ Thiếu âm, Thủ Thiếu dương đi với Tâm chủ, Thủ Dương minh đi với Thủ Thái âm. Biết biểu lý thì khi trị không chỉ nhìn một kinh đơn lẻ, mà biết kinh nào có thể phối hợp.
Điểm thứ ba là hình và chí. Có người thân nhàn mà tâm khổ, có người thân tâm đều vui, có người thân lao mà tâm vui, có người thân tâm đều khổ, có người hay kinh sợ. Mỗi dạng sinh bệnh ở nơi khác nhau: mạch, cơ nhục, gân, họng, kinh lạc bất thông. Đây là cách nhìn rất sâu: bệnh không chỉ do thân, cũng không chỉ do tâm, mà do thân và tâm cùng phối hợp thành bệnh.
Thiên này vì vậy có ý nghĩa thực hành rõ ràng. Châm cứu không nên chỉ dựa vào tên bệnh hay vị trí đau, mà phải xét người ấy khí huyết ở kinh nào thịnh suy, thân thể lao nhàn ra sao, chí ý vui khổ thế nào, rồi mới chọn châm, cứu, châm thạch, chườm dẫn, thuốc, xoa bóp hay lao dược. Đó là tinh thần “tùy người mà trị” rất quan trọng của Nội Kinh.