Bàn về tám chính khí và sự sáng tỏ của thần minh
Câu 1
黄帝问曰:用针之服,必有法则焉,今何法何则。歧伯对曰:法天则地,合以天光。帝曰:愿卒闻之。歧伯曰:凡刺之法,必候日月星辰四时八正之气,气定,乃刺之。是故天温日明,则人血淖液,而卫气浮,故血易写,气易行;天寒日阴,则人血凝泣,而卫气沈。月始生,则血气始精,卫气始行;月郭满,则血气实,肌肉坚;月郭空,则肌肉减,经络虚,卫气去,形独居。是以因天时而调血气也。是以天寒无刺,天温无疑。月生无写,月满无补,月郭空无治,是谓得时而调之。因天之序,盛虚之时,移光定位,正立而待之。故日月生而写,是谓藏虚;月满而补,血气扬溢,络有留血,命曰重实;月郭空而治,是谓乱经。阴阳相错,真邪不别,沈以留止,外虚内乱,淫邪乃起。
Hán Việt
Hoàng Đế vấn viết: Dụng châm chi phục, tất hữu pháp tắc yên, kim hà pháp hà tắc?
Kỳ Bá đối viết: Pháp thiên tắc địa, hợp dĩ thiên quang.
Đế viết: Nguyện tốt văn chi.
Kỳ Bá viết: Phàm thích chi pháp, tất hậu nhật nguyệt tinh thần tứ thời bát chính chi khí, khí định, nãi thích chi.
Thị cố thiên ôn nhật minh, tắc nhân huyết náo dịch, nhi vệ khí phù, cố huyết dị tả, khí dị hành; thiên hàn nhật âm, tắc nhân huyết ngưng sáp, nhi vệ khí trầm.
Nguyệt thủy sinh, tắc huyết khí thủy tinh, vệ khí thủy hành; nguyệt quách mãn, tắc huyết khí thực, cơ nhục kiên; nguyệt quách không, tắc cơ nhục giảm, kinh lạc hư, vệ khí khứ, hình độc cư.
Thị dĩ nhân thiên thời nhi điều huyết khí dã. Thị dĩ thiên hàn vô thích, thiên ôn vô nghi. Nguyệt sinh vô tả, nguyệt mãn vô bổ, nguyệt quách không vô trị, thị vị đắc thời nhi điều chi.
Nhân thiên chi tự, thịnh hư chi thời, di quang định vị, chính lập nhi đãi chi. Cố nhật nguyệt sinh nhi tả, thị vị tạng hư; nguyệt mãn nhi bổ, huyết khí dương dật, lạc hữu lưu huyết, mệnh viết trùng thực; nguyệt quách không nhi trị, thị vị loạn kinh.
Âm dương tương thác, chân tà bất biệt, trầm dĩ lưu chỉ, ngoại hư nội loạn, dâm tà nãi khởi.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Khi dùng châm, tất phải có phép và tắc. Vậy nay lấy phép gì, tắc gì?
Kỳ Bá đáp:
Phải noi theo trời, bắt chước đất, hợp với ánh sáng của trời.
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe đầy đủ.
Kỳ Bá nói:
Phàm phép châm, tất phải chờ xét khí của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, bốn mùa và tám chính. Khi khí đã ổn định rồi mới châm.
Vì vậy, trời ấm, ngày sáng, thì huyết của người mềm lỏng, vệ khí nổi ra ngoài; cho nên huyết dễ tả, khí dễ vận hành. Trời lạnh, ngày âm u, thì huyết của người ngưng trệ, vệ khí chìm vào trong.
Khi mặt trăng mới sinh, huyết khí bắt đầu tinh, vệ khí bắt đầu vận hành. Khi vòng trăng đầy, huyết khí đầy thực, cơ nhục vững chắc. Khi vòng trăng rỗng khuyết, cơ nhục giảm, kinh lạc hư, vệ khí rời đi, hình thể như ở riêng một mình.
Vì vậy phải nhân theo thiên thời mà điều hòa huyết khí. Cho nên trời lạnh thì không châm, trời ấm thì không nghi ngại. Trăng mới sinh thì không tả, trăng tròn thì không bổ, trăng khuyết rỗng thì không trị. Đó gọi là được đúng thời mà điều hòa.
Theo thứ tự của trời, xét thời thịnh và thời hư, chuyển theo ánh sáng mà định vị, đứng ngay ngắn mà chờ. Nếu mặt trời, mặt trăng mới sinh mà lại tả, thì gọi là làm hư tạng. Nếu trăng tròn mà lại bổ, huyết khí sẽ tràn dâng, trong lạc có huyết lưu lại, gọi là trùng thực. Nếu khi vòng trăng khuyết rỗng mà trị, gọi là làm loạn kinh.
Khi âm dương lẫn lộn, chân khí và tà khí không phân biệt, tà chìm vào mà lưu lại, bên ngoài hư, bên trong loạn, thì dâm tà bèn phát sinh.
Giải thích từ ngữ
Bát chính (八正): tám phương chính, cũng liên hệ tám gió, tám tiết khí lớn; dùng để xét hư tà từ phương vị và thời khí.
Pháp thiên tắc địa (法天则地): noi theo quy luật trời đất. Châm không chỉ là kỹ thuật ở thân người, mà còn phải xét khí hậu, ngày tháng, âm dương.
Thiên quang (天光): ánh sáng trời, chỉ mặt trời, mặt trăng, tinh tú và khí tượng thiên văn.
Huyết náo dịch (血淖液): huyết mềm lỏng, lưu động dễ dàng.
Vệ khí phù, vệ khí trầm (卫气浮,卫气沈): vệ khí nổi ra biểu khi trời ấm sáng; chìm vào trong khi trời lạnh âm.
Nguyệt thủy sinh (月始生): trăng mới sinh, khí huyết mới bắt đầu phát.
Nguyệt quách mãn (月郭满): vòng trăng đầy, khí huyết đầy thực.
Nguyệt quách không (月郭空): trăng khuyết, vòng trăng rỗng, khí huyết và vệ khí suy giảm.
Nguyệt sinh vô tả, nguyệt mãn vô bổ (月生无写,月满无补): lúc khí huyết mới sinh không nên tả; lúc khí huyết đầy không nên bổ, để tránh làm trái thời.
Trùng thực (重实): đã thực lại làm cho thực thêm, dễ khiến huyết khí tràn, lạc mạch ứ lưu.
Loạn kinh (乱经): làm rối kinh khí, kinh lạc mất thứ tự vận hành.
Chân tà bất biệt (真邪不别): chính khí và tà khí không phân biệt được, bệnh cơ rối loạn, khó trị.
Câu 2
帝曰:星辰八正何候。歧伯曰;星辰者,所以制日月之行也。八正者,所以候八风之虚邪,以时至者也。四时者,所以分春秋冬夏之气所在,以时调之也,八正之虚邪,而避之勿犯也。以身之虚,而逢天之虚,两虚相感,其气至骨,入则伤五藏,工候救之,弗能伤也,故曰:天忌不可不知也。
Hán Việt
Đế viết: Tinh thần bát chính hà hậu?
Kỳ Bá viết: Tinh thần giả, sở dĩ chế nhật nguyệt chi hành dã. Bát chính giả, sở dĩ hậu bát phong chi hư tà, dĩ thời chí giả dã. Tứ thời giả, sở dĩ phân xuân thu đông hạ chi khí sở tại, dĩ thời điều chi dã.
Bát chính chi hư tà, nhi tị chi vật phạm dã. Dĩ thân chi hư, nhi phùng thiên chi hư, lưỡng hư tương cảm, kỳ khí chí cốt, nhập tắc thương ngũ tạng. Công hậu cứu chi, phất năng thương dã. Cố viết: Thiên kỵ bất khả bất tri dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Tinh tú và bát chính thì phải chờ xét thế nào?
Kỳ Bá nói:
Tinh tú là để chế định sự vận hành của mặt trời, mặt trăng. Bát chính là để chờ xét hư tà của tám gió, những tà khí đến theo đúng thời của chúng. Bốn mùa là để phân biệt nơi khí của xuân, thu, đông, hạ đang ở, rồi theo thời mà điều hòa.
Hư tà của bát chính phải tránh, không được phạm vào. Nếu thân đang hư mà lại gặp lúc trời cũng hư, hai cái hư cảm nhau, khí ấy vào đến xương; nếu vào trong thì làm thương năm tạng. Thầy giỏi biết chờ xét mà cứu kịp, thì tà không thể làm thương. Cho nên nói: điều kiêng kỵ của trời không thể không biết.
Giải thích từ ngữ
Tinh thần (星辰): các tinh tú, sao trời, dùng trong cổ y để xét lịch, thời, khí.
Chế nhật nguyệt chi hành (制日月之行): định phép vận hành của mặt trời, mặt trăng, tức nắm lịch khí.
Bát phong (八风): tám thứ gió từ tám phương, có chính có tà, có khi hợp thời, có khi trái thời.
Hư tà (虚邪): tà khí nhân lúc hư mà xâm nhập; cũng chỉ tà khí từ phương vị, thời tiết bất chính.
Thân chi hư, thiên chi hư (身之虚,天之虚): thân người chính khí hư, lại gặp thời khí thiên nhiên bất lợi, nên dễ mắc bệnh nặng.
Khí chí cốt (气至骨): tà khí vào sâu đến xương, tức bệnh đã vào phần sâu.
Thiên kỵ (天忌): điều kiêng kỵ theo thiên thời, như thời tiết, trăng sao, hàn nhiệt, hư thực của trời đất.
Câu 3
帝曰:善。其法星辰者,余闻之矣,愿闻法往古者。歧伯曰;法往古者,先知针经也。验于来今者,先知日之寒温,月之虚盛,以候气之浮沈,而调之于身,观其立有验也。观其冥冥者,言形气荣卫之不形于外,而工独知之,以日之寒温,月之虚盛,四时气之浮沈,参伍相合而调之,工常先见之,然而不形于外,故曰观于冥冥焉。通于无穷者,可以传于后世也,是故工之所以异也,然而不形见于外,故俱不能见也。视之无形,尝之无味,故谓冥冥,若神仿𨱰。虚邪者,八正之虚邪气也。正邪者,身形若用力,汗出,腠理开,逢虚风,其中人也微,故莫知其情,莫见其形。上工救其萌牙,必先见三部九候之气,尽调不败而救之,故曰上工。下工救其已成,救其已败。救其已成者,言不知三部九候之相失,因病而败之也,知其所在者,知诊三部九候之病脉处而治之。故曰守其门户焉,莫知其情而见邪形也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Kỳ pháp tinh thần giả, dư văn chi hĩ, nguyện văn pháp vãng cổ giả.
Kỳ Bá viết: Pháp vãng cổ giả, tiên tri Châm kinh dã. Nghiệm vu lai kim giả, tiên tri nhật chi hàn ôn, nguyệt chi hư thịnh, dĩ hậu khí chi phù trầm, nhi điều chi vu thân, quan kỳ lập hữu nghiệm dã.
Quan kỳ minh minh giả, ngôn hình khí vinh vệ chi bất hình vu ngoại, nhi công độc tri chi. Dĩ nhật chi hàn ôn, nguyệt chi hư thịnh, tứ thời khí chi phù trầm, tham ngũ tương hợp nhi điều chi, công thường tiên kiến chi, nhiên nhi bất hình vu ngoại, cố viết quan vu minh minh yên.
Thông vu vô cùng giả, khả dĩ truyền vu hậu thế dã. Thị cố công chi sở dĩ dị dã. Nhiên nhi bất hình kiến vu ngoại, cố câu bất năng kiến dã. Thị chi vô hình, thường chi vô vị, cố vị minh minh, nhược thần phảng phất.
Hư tà giả, bát chính chi hư tà khí dã. Chính tà giả, thân hình nhược dụng lực, hãn xuất, tấu lý khai, phùng hư phong, kỳ trúng nhân dã vi, cố mạc tri kỳ tình, mạc kiến kỳ hình.
Thượng công cứu kỳ manh nha, tất tiên kiến tam bộ cửu hậu chi khí, tận điều bất bại nhi cứu chi, cố viết thượng công. Hạ công cứu kỳ dĩ thành, cứu kỳ dĩ bại.
Cứu kỳ dĩ thành giả, ngôn bất tri tam bộ cửu hậu chi tương thất, nhân bệnh nhi bại chi dã. Tri kỳ sở tại giả, tri chẩn tam bộ cửu hậu chi bệnh mạch xứ nhi trị chi. Cố viết thủ kỳ môn hộ yên, mạc tri kỳ tình nhi kiến tà hình dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Phép xét tinh tú, ta đã được nghe rồi. Nay xin nghe phép noi theo thời xưa.
Kỳ Bá nói:
Muốn noi theo thời xưa, trước hết phải biết Châm kinh. Muốn nghiệm với đời nay, trước hết phải biết ngày lạnh hay ấm, trăng hư hay thịnh, để chờ xét khí nổi hay chìm, rồi điều hòa khí ấy trong thân. Xem như vậy thì lập tức có nghiệm.
Điều gọi là quan sát chỗ mờ mịt sâu kín, là nói hình, khí, vinh, vệ chưa hiện ra ngoài hình thể, mà chỉ thầy giỏi mới biết được. Thầy ấy lấy ngày lạnh hay ấm, trăng hư hay thịnh, khí bốn mùa nổi hay chìm, đối chiếu nhiều mặt mà điều hòa. Thầy giỏi thường thấy trước được điều ấy, nhưng nó chưa hiện ra bên ngoài, cho nên gọi là quan sát nơi mờ mịt sâu kín.
Người thông đạt chỗ vô cùng thì có thể truyền lại cho đời sau. Vì vậy, chỗ khác biệt của thầy giỏi là ở đây. Nhưng vì nó chưa hiện ra ngoài, nên mọi người đều không thấy được. Nhìn thì không có hình, nếm thì không có vị, cho nên gọi là minh minh, mờ mịt sâu kín, dường như thần linh thấp thoáng.
Hư tà là khí hư tà của bát chính. Chính tà là khi thân thể như vừa dùng sức, mồ hôi ra, tấu lý mở, lại gặp hư phong; tà ấy trúng người rất vi tế, cho nên không ai biết tình trạng của nó, không ai thấy hình trạng của nó.
Thầy bậc cao cứu bệnh từ lúc mới nảy mầm. Trước hết tất phải thấy khí của tam bộ cửu hậu; khi tất cả còn điều hòa, chưa bại, thì cứu trị. Vì vậy gọi là thượng công.
Thầy bậc thấp thì cứu khi bệnh đã thành, cứu khi bệnh đã bại. Gọi là cứu khi bệnh đã thành, tức là không biết tam bộ cửu hậu đã mất tương ứng, nhân bệnh mà làm cho thất bại. Người biết bệnh ở đâu là người biết chẩn nơi mạch bệnh của tam bộ cửu hậu mà trị. Cho nên nói: phải giữ cửa ngõ của bệnh. Khi chưa biết tình thật của nó, thì chỉ đợi thấy hình tà hiện ra mà thôi.
Giải thích từ ngữ
Pháp vãng cổ (法往古): noi theo phép xưa, tức học nguyên lý châm kinh và cách xét thiên thời, khí huyết, thần khí.
Châm kinh (针经): kinh điển về châm pháp, chỉ hệ thống lý luận châm cứu cổ.
Nhật chi hàn ôn, nguyệt chi hư thịnh (日之寒温,月之虚盛): ngày lạnh ấm, trăng khuyết đầy; đều ảnh hưởng huyết khí và vệ khí.
Khí chi phù trầm (气之浮沈): khí nổi ra biểu hay chìm vào lý.
Minh minh (冥冥): sâu kín, mờ mịt, vi tế, chưa hiện rõ ra ngoài.
Hình khí vinh vệ (形气荣卫): hình thể, khí, vinh khí và vệ khí; bốn mặt cần xét trong chẩn trị.
Tham ngũ tương hợp (参伍相合): đối chiếu nhiều yếu tố với nhau, không nhìn một dấu hiệu riêng lẻ.
Hư tà bát chính (八正之虚邪): hư tà đến từ tám phương, tám khí, nhân thời khí bất lợi mà vào.
Chính tà (正邪): ở đây chỉ tà gặp lúc thân thể mở, mồ hôi ra, tấu lý khai; tà vào rất nhẹ, rất kín.
Manh nha (萌牙): mầm bệnh mới nảy, chưa thành hình rõ.
Thượng công (上工): thầy thuốc bậc cao, biết cứu bệnh khi chưa thành, xét được dấu vi tế.
Hạ công (下工): thầy thuốc bậc thấp, chỉ trị khi bệnh đã thành, thậm chí đã bại.
Thủ kỳ môn hộ (守其门户): giữ cửa ngõ, tức biết nơi tà vào, nơi khí mất điều hòa để chặn từ đầu.
Câu 4
帝曰:余闻补写,未得其意。歧伯曰:写必用方,方者,以气方盛也,以月方满也,以日方温也,以身方定也,以息方吸而内针,乃复候其方吸而转针,乃复候其方呼而徐引针,故曰写必用方,其气而行焉。补必用员,员者,行也,行者,移也,刺必中其荣,复以吸排针也。故员与方,非针也。故养神者,必知形之肥瘦,荣卫血气之盛衰。血气者,人之神,不可不谨养。
Hán Việt
Đế viết: Dư văn bổ tả, vị đắc kỳ ý.
Kỳ Bá viết: Tả tất dụng phương. Phương giả, dĩ khí phương thịnh dã, dĩ nguyệt phương mãn dã, dĩ nhật phương ôn dã, dĩ thân phương định dã. Dĩ tức phương hấp nhi nội châm, nãi phục hậu kỳ phương hấp nhi chuyển châm, nãi phục hậu kỳ phương hô nhi từ dẫn châm. Cố viết tả tất dụng phương, kỳ khí nhi hành yên.
Bổ tất dụng viên. Viên giả, hành dã; hành giả, di dã. Thích tất trúng kỳ vinh, phục dĩ hấp bài châm dã. Cố viên dữ phương, phi châm dã.
Cố dưỡng thần giả, tất tri hình chi phì sấu, vinh vệ huyết khí chi thịnh suy. Huyết khí giả, nhân chi thần, bất khả bất cẩn dưỡng.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta nghe nói bổ và tả, nhưng chưa hiểu ý nghĩa của nó.
Kỳ Bá nói:
Tả tất phải dùng phương. Phương nghĩa là khí đang lúc thịnh, trăng đang lúc đầy, ngày đang lúc ấm, thân đang lúc ổn định. Nhân lúc hơi thở đang hít vào mà đưa kim vào; lại chờ lúc đang hít vào mà chuyển kim; rồi lại chờ lúc đang thở ra mà từ từ rút kim. Cho nên nói: tả tất phải dùng phương, để khí theo đó mà vận hành.
Bổ tất phải dùng viên. Viên nghĩa là vận hành; vận hành nghĩa là chuyển dời. Khi châm tất phải trúng vinh khí, rồi nhân lúc hít vào mà đẩy kim. Cho nên viên và phương không phải là nói hình dáng của cây kim.
Vì vậy, người biết dưỡng thần tất phải biết hình thể béo hay gầy, biết vinh, vệ, huyết, khí thịnh hay suy. Huyết khí là thần của con người, không thể không cẩn thận nuôi dưỡng.
Giải thích từ ngữ
Bổ tả (补写): bổ là giúp phần hư, tả là tiết phần thực. Trong châm pháp, bổ tả phụ thuộc thời, khí, hơi thở, thủ pháp và sự đến đi của kinh khí.
Tả tất dụng phương (写必用方): phép tả phải dùng “phương”. Ở đây “phương” không phải hình vuông của kim, mà là đúng lúc khí đang thịnh, thuận thời để tiết.
Khí phương thịnh, nguyệt phương mãn, nhật phương ôn, thân phương định: khí thịnh, trăng đầy, ngày ấm, thân ổn định là thời điểm có thể dùng phép tả.
Nội châm, chuyển châm, dẫn châm: đưa kim vào, xoay kim, rút kim; đều phối hợp hơi thở.
Bổ tất dụng viên (补必用员): phép bổ dùng “viên”. Viên là vận hành, làm khí chuyển, không phải hình tròn của kim.
Trúng kỳ vinh (中其荣): châm trúng vinh khí, tức phần khí huyết nuôi dưỡng trong kinh mạch.
Dưỡng thần (养神): giữ và nuôi thần, bao gồm thần khí, huyết khí, sự điều hòa của thân tâm.
Huyết khí giả, nhân chi thần (血气者,人之神): huyết khí là nền của thần; huyết khí điều hòa thì thần sáng, huyết khí suy loạn thì thần suy.
Câu 5
帝曰:妙乎哉论也。合人形于阴阳四时,虚实之应,冥冥之期,其非夫子孰能通之。然夫子数言形与神,何谓形,何谓神,愿卒闻之。歧伯曰:请言形,形乎形,目冥冥,问其所病,索之于经,慧然在前,按之不得,不知其情,故曰形。帝曰:何谓神。歧伯曰:请言神,神乎神,耳不闻,目明心开,而志先,慧然独悟,口弗能言,俱视独见,适若昏,昭然独明,若风吹云,故曰神。三部九候为之原,九针之论,不必存也。
Hán Việt
Đế viết: Diệu hồ tai luận dã. Hợp nhân hình vu âm dương tứ thời, hư thực chi ứng, minh minh chi kỳ, kỳ phi phu tử thục năng thông chi. Nhiên phu tử sác ngôn hình dữ thần, hà vị hình, hà vị thần, nguyện tốt văn chi.
Kỳ Bá viết: Thỉnh ngôn hình. Hình hồ hình, mục minh minh, vấn kỳ sở bệnh, sách chi vu kinh, tuệ nhiên tại tiền, án chi bất đắc, bất tri kỳ tình, cố viết hình.
Đế viết: Hà vị thần?
Kỳ Bá viết: Thỉnh ngôn thần. Thần hồ thần, nhĩ bất văn, mục minh Tâm khai, nhi chí tiên. Tuệ nhiên độc ngộ, khẩu phất năng ngôn, câu thị độc kiến, thích nhược hôn, chiêu nhiên độc minh, nhược phong xuy vân, cố viết thần.
Tam bộ cửu hậu vi chi nguyên, cửu châm chi luận, bất tất tồn dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Lời bàn thật vi diệu thay. Hợp hình thể con người với âm dương bốn mùa, ứng với hư thực, nắm được kỳ hạn sâu kín mờ mịt; nếu không phải phu tử thì ai có thể thông suốt được? Nhưng phu tử nhiều lần nói đến hình và thần. Thế nào gọi là hình, thế nào gọi là thần? Xin được nghe đầy đủ.
Kỳ Bá nói:
Xin nói về hình. Gọi là hình, tức là chỗ thuộc hình thể. Mắt nhìn còn mờ mịt; hỏi nơi người bệnh đau, tìm theo kinh mạch, dường như sáng rõ ở trước mặt, nhưng ấn vào lại không nắm được, không biết tình thật của nó, cho nên gọi là hình.
Hoàng Đế hỏi:
Thế nào gọi là thần?
Kỳ Bá nói:
Xin nói về thần. Thần là điều rất thần diệu. Tai không nghe, nhưng mắt sáng, Tâm mở, chí ý đi trước. Bỗng nhiên một mình lĩnh ngộ, miệng không thể nói hết. Mọi người cùng nhìn mà chỉ một mình thấy. Dường như tối tăm, nhưng riêng nó lại sáng rõ, như gió thổi tan mây. Cho nên gọi là thần.
Tam bộ cửu hậu là nguồn gốc của điều ấy. Luận về cửu châm thì không nhất thiết phải giữ mãi ở hình thức bên ngoài.
Giải thích từ ngữ
Hình (形): phần có hình thể, có vị trí, có thể hỏi, có thể tìm theo kinh, có thể ấn nắn; nhưng bệnh ở hình cũng có lúc chưa rõ ràng.
Thần (神): năng lực nhận biết vi tế của y gia khi tâm sáng, mắt rõ, chí ý đi trước, nắm được bệnh cơ vượt ngoài hình tích thô.
Mục minh Tâm khai (目明心开): mắt sáng, Tâm mở; chỉ trạng thái chẩn đoán sáng suốt.
Tuệ nhiên độc ngộ (慧然独悟): bỗng nhiên một mình hiểu ra, do đã thông đạt lý, không phải đoán mò.
Câu thị độc kiến (俱视独见): mọi người cùng nhìn nhưng chỉ người thầy giỏi thấy được chỗ vi tế.
Nhược phong xuy vân (若风吹云): như gió thổi mây tan, ví sự nghi hoặc tan đi, bệnh cơ bỗng sáng.
Tam bộ cửu hậu vi chi nguyên (三部九候为之原): tam bộ cửu hậu là gốc của chẩn đoán, giúp từ hình mà thông thần.
Cửu châm chi luận bất tất tồn (九针之论,不必存): không phải bỏ cửu châm, mà là khi đã thông thần minh và tam bộ cửu hậu, không chấp vào hình thức bàn luận về kim cụ.
Nhận xét chung
Thiên Bát chính thần minh luận nói về châm pháp trong mối liên hệ với thiên thời, nhật nguyệt, tinh tú, bốn mùa, tám gió và thần minh của người thầy thuốc. Châm không phải chỉ là kỹ thuật đặt kim, mà là một phép trị phải hợp trời đất, hợp khí huyết, hợp thời điểm và hợp thần.
Điểm đầu tiên là phải biết thời. Trời ấm ngày sáng thì huyết mềm, vệ khí nổi, khí dễ hành; trời lạnh âm u thì huyết ngưng, vệ khí chìm. Trăng mới sinh, trăng đầy, trăng khuyết cũng làm huyết khí, cơ nhục, kinh lạc thay đổi. Vì vậy, châm sai thời có thể làm tạng hư, làm trùng thực, hoặc làm loạn kinh.
Điểm thứ hai là phải biết tránh hư tà. Khi thân đã hư mà gặp thời trời đất cũng hư, hai hư cảm nhau, tà có thể vào sâu đến xương, vào trong làm thương năm tạng. Thầy giỏi không đợi tà hiện rõ mới trị, mà biết nhìn lúc mới manh nha, khi tam bộ cửu hậu vừa có dấu mất điều hòa.
Điểm thứ ba là “quan vu minh minh”, quan sát chỗ sâu kín chưa hiện ra ngoài. Hình, khí, vinh, vệ có khi chưa lộ rõ ở sắc mặt hay hình thể, nhưng thầy giỏi nhờ biết hàn ôn của ngày, hư thịnh của trăng, phù trầm của khí bốn mùa, lại hợp với tam bộ cửu hậu, nên có thể thấy trước. Đây là chỗ khác nhau giữa thượng công và hạ công.
Phần bổ tả cũng rất sâu. Tả phải đúng lúc khí thịnh, trăng đầy, ngày ấm, thân ổn định, phối hợp hơi thở và thủ pháp. Bổ phải làm cho khí vận hành, trúng vinh khí, không phải chỉ là hình thức xoay kim. Vì vậy, “viên” và “phương” không phải là cây kim tròn hay vuông, mà là phép vận hành khí.
Cuối thiên phân biệt hình và thần. Hình là cái có thể hỏi, có thể tìm theo kinh, có thể ấn nắn, nhưng chưa chắc nắm được tình thật. Thần là sự sáng suốt vi tế: tai chưa nghe mà Tâm đã mở, mắt đã sáng, chí đã đi trước; người khác cùng nhìn mà không thấy, thầy giỏi lại thấy được. Tuy vậy, thần không phải huyền hoặc vô căn, mà lấy tam bộ cửu hậu làm gốc.
Tóm lại, thiên này dạy người học châm phải có ba điều: biết thiên thời, biết huyết khí, và biết giữ thần minh. Không biết thiên thời thì dễ châm trái khí; không biết huyết khí thì bổ tả sai; không giữ thần minh thì không thấy được bệnh cơ vi tế. Đây là một thiên rất quan trọng để hiểu vì sao Nội Kinh luôn đặt “thần” lên trước kỹ thuật.