Người bình thường nhịn ăn uống vì sao bảy ngày thì chết
1
黄帝曰:愿闻人之不食,七日而死,何也?伯高曰:臣请言其故。
Hoàng Đế viết: Nguyện văn nhân chi bất thực, thất nhật nhi tử, hà dã? Bá Cao viết: Thần thỉnh ngôn kỳ cố.
Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe vì sao con người không ăn, đến bảy ngày thì chết?
Bá Cao nói: Thần xin trình bày nguyên do.
Giải thích từ ngữ
平人, Bình nhân: người bình thường, tức người không bệnh nặng, khí huyết tạng phủ còn ở trạng thái bình thường.
绝谷, Tuyệt cốc: dứt ngũ cốc, không ăn uống.
不食, Bất thực: không ăn.
七日而死, Thất nhật nhi tử: bảy ngày thì chết; đây là cách nói theo lý luận sinh lý cổ về sự cạn kiệt thủy cốc, tinh khí, tân dịch.
2
胃大一尺五寸,径五寸,长二尺六寸,横屈受水谷三斗五升,其中之谷,常留二斗,水一斗五升而满,上焦泄气,出其精微,慓悍滑疾,下焦下溉诸肠。
Vị đại nhất xích ngũ thốn, kính ngũ thốn, trường nhị xích lục thốn, hoành khuất thụ thủy cốc tam đấu ngũ thăng, kỳ trung chi cốc, thường lưu nhị đấu, thủy nhất đấu ngũ thăng nhi mãn, Thượng tiêu tiết khí, xuất kỳ tinh vi, phiêu hãn hoạt tật, Hạ tiêu hạ khái chư trường.
Vị lớn một thước năm thốn, đường kính năm thốn, dài hai thước sáu thốn. Vị nằm ngang uốn cong, có thể nhận chứa thủy cốc ba đấu năm thăng. Trong đó, cốc thường lưu lại hai đấu, nước một đấu năm thăng thì đầy.
Thượng tiêu tiết khí, đưa phần tinh vi ra ngoài; khí ấy mạnh mẽ, trơn nhanh. Hạ tiêu thì tưới xuống các ruột ở phía dưới.
Giải thích từ ngữ
胃, Vị: dạ dày, phủ chủ thu nạp và làm chín nhừ thủy cốc.
大一尺五寸, Đại nhất xích ngũ thốn: bề lớn một thước năm thốn, theo đơn vị đo cổ.
径五寸, Kính ngũ thốn: đường kính năm thốn.
横屈, Hoành khuất: nằm ngang và cong gấp.
受水谷, Thụ thủy cốc: nhận chứa thức ăn uống.
三斗五升, Tam đấu ngũ thăng: ba đấu năm thăng, chỉ sức chứa theo đơn vị dung tích cổ.
上焦泄气, Thượng tiêu tiết khí: Thượng tiêu phát tiết, phân bố khí tinh vi lên trên và ra ngoài.
精微, Tinh vi: phần tinh túy nhỏ nhiệm của thủy cốc.
慓悍滑疾, Phiêu hãn hoạt tật: mạnh mẽ, nhanh, trơn lợi; thường dùng để mô tả tính chất của vệ khí hoặc khí được tuyên phát nhanh.
下焦下溉诸肠, Hạ tiêu hạ khái chư trường: Hạ tiêu đưa dịch xuống dưới để tưới nhuần các ruột.
3
小肠大二寸半,径八分分之少半,长三丈二尺,受谷二斗四升,水六升三合合之大半。
Tiểu trường đại nhị thốn bán, kính bát phân phân chi thiểu bán, trường tam trượng nhị xích, thụ cốc nhị đấu tứ thăng, thủy lục thăng tam hợp hợp chi đại bán.
Tiểu trường lớn hai thốn rưỡi, đường kính tám phân và non nửa phân, dài ba trượng hai thước. Nó nhận chứa cốc hai đấu bốn thăng, nước sáu thăng ba hợp và hơn nửa hợp.
Giải thích từ ngữ
小肠, Tiểu trường: ruột non, chủ nhận chất đã qua Vị, phân biệt thanh trọc.
二寸半, Nhị thốn bán: hai thốn rưỡi.
八分分之少半, Bát phân phân chi thiểu bán: tám phân và một phần nhỏ chưa đến nửa phân.
三丈二尺, Tam trượng nhị xích: ba trượng hai thước, đơn vị đo chiều dài cổ.
受谷, Thụ cốc: nhận chứa phần thức ăn.
受水, Thụ thủy: nhận chứa phần nước dịch.
4
回肠大四寸,径一寸寸之少半,长二丈一尺,受谷一斗,水七升半。
Hồi trường đại tứ thốn, kính nhất thốn thốn chi thiểu bán, trường nhị trượng nhất xích, thụ cốc nhất đấu, thủy thất thăng bán.
Hồi trường lớn bốn thốn, đường kính một thốn và non nửa thốn, dài hai trượng một thước. Nó nhận chứa cốc một đấu, nước bảy thăng rưỡi.
Giải thích từ ngữ
回肠, Hồi trường: đoạn ruột quanh co, tiếp nối truyền dẫn chất từ Tiểu trường xuống dưới.
大四寸, Đại tứ thốn: bề lớn bốn thốn.
径一寸寸之少半, Kính nhất thốn thốn chi thiểu bán: đường kính một thốn và thêm một phần nhỏ chưa đến nửa thốn.
二丈一尺, Nhị trượng nhất xích: hai trượng một thước.
水七升半, Thủy thất thăng bán: nước bảy thăng rưỡi.
5
广肠大八寸,径二寸寸之大半,长二尺八寸,受谷九升三合八分合之一。
Quảng trường đại bát thốn, kính nhị thốn thốn chi đại bán, trường nhị xích bát thốn, thụ cốc cửu thăng tam hợp bát phân hợp chi nhất.
Quảng trường lớn tám thốn, đường kính hai thốn và hơn nửa thốn, dài hai thước tám thốn. Nó nhận chứa cốc chín thăng ba hợp và một phần tám hợp.
Giải thích từ ngữ
广肠, Quảng trường: ruột rộng, cách gọi cổ, gần với đoạn ruột già hoặc đoạn cuối của đường ruột.
大八寸, Đại bát thốn: bề lớn tám thốn.
径二寸寸之大半, Kính nhị thốn thốn chi đại bán: đường kính hai thốn và hơn nửa thốn.
二尺八寸, Nhị xích bát thốn: hai thước tám thốn.
九升三合八分合之一, Cửu thăng tam hợp bát phân hợp chi nhất: chín thăng ba hợp và một phần tám hợp.
6
肠胃之长,凡五丈八尺四寸,受水谷九斗二升一合合之大半,此肠胃所受水谷之数也。平人则不然,胃满则肠虚,肠满则胃虚,更虚更满,故气得上下,五藏安定,血脉和利,精神乃居,故神者,水谷之精气也。故肠胃之中,当留谷二斗,水一斗五升;故平人日再后,后二升半,一日中五升,七日五七三斗五升,而留水谷尽矣;故平人不食饮七日而死者,小谷精气津液皆尽故也。
Trường Vị chi trường, phàm ngũ trượng bát xích tứ thốn, thụ thủy cốc cửu đấu nhị thăng nhất hợp hợp chi đại bán, thử Trường Vị sở thụ thủy cốc chi số dã. Bình nhân tắc bất nhiên, Vị mãn tắc trường hư, trường mãn tắc Vị hư, canh hư canh mãn, cố khí đắc thượng hạ, ngũ tạng an định, huyết mạch hòa lợi, tinh thần nãi cư, cố thần giả, thủy cốc chi tinh khí dã. Cố Trường Vị chi trung, đương lưu cốc nhị đấu, thủy nhất đấu ngũ thăng; cố bình nhân nhật tái hậu, hậu nhị thăng bán, nhất nhật trung ngũ thăng, thất nhật ngũ thất tam đấu ngũ thăng, nhi lưu thủy cốc tận hĩ; cố bình nhân bất thực ẩm thất nhật nhi tử giả, tiểu cốc tinh khí tân dịch giai tận cố dã.
Chiều dài của Trường Vị, tất cả là năm trượng tám thước bốn thốn. Nó nhận chứa thủy cốc chín đấu hai thăng một hợp và hơn nửa hợp. Đây là số lượng thủy cốc mà Trường Vị có thể nhận chứa.
Nhưng ở người bình thường thì không phải lúc nào cũng đầy như thế. Vị đầy thì ruột rỗng; ruột đầy thì Vị rỗng. Chúng thay nhau rỗng rồi đầy, đầy rồi rỗng, cho nên khí có thể lên xuống; ngũ tạng được an định, huyết mạch hòa lợi, tinh thần mới có chỗ cư trú. Vì vậy, thần là tinh khí của thủy cốc.
Cho nên trong Trường Vị thường nên lưu lại cốc hai đấu, nước một đấu năm thăng. Người bình thường mỗi ngày đại tiện hai lần, mỗi lần bài xuất hai thăng rưỡi, trong một ngày là năm thăng. Bảy ngày thì năm nhân bảy là ba đấu năm thăng, thủy cốc lưu lại đều hết. Vì vậy, người bình thường không ăn uống, đến bảy ngày thì chết, là vì tinh khí, tân dịch của thủy cốc đều đã hết.
Giải thích từ ngữ
肠胃之长, Trường Vị chi trường: tổng chiều dài của dạ dày và ruột theo phép đo cổ.
受水谷, Thụ thủy cốc: nhận chứa đồ ăn và nước uống.
平人则不然, Bình nhân tắc bất nhiên: người bình thường không phải lúc nào Trường Vị cũng chứa đầy theo sức chứa tối đa.
胃满则肠虚, Vị mãn tắc trường hư: Vị đầy thì ruột còn rỗng.
肠满则胃虚, Trường mãn tắc Vị hư: ruột đầy thì Vị đã rỗng.
更虚更满, Canh hư canh mãn: thay nhau rỗng đầy, biểu hiện sự truyền hóa liên tục.
气得上下, Khí đắc thượng hạ: khí có thể lên xuống thuận lợi.
五藏安定, Ngũ tạng an định: ngũ tạng yên ổn, nhờ thủy cốc nuôi dưỡng.
血脉和利, Huyết mạch hòa lợi: huyết mạch điều hòa, thông lợi.
精神乃居, Tinh thần nãi cư: tinh thần mới có nơi nương trú.
神者水谷之精气也, Thần giả thủy cốc chi tinh khí dã: thần nhờ tinh khí thủy cốc mà được nuôi dưỡng; thủy cốc là nguồn hậu thiên của thần khí.
日再后, Nhật tái hậu: mỗi ngày đại tiện hai lần.
后二升半, Hậu nhị thăng bán: mỗi lần bài xuất hai thăng rưỡi.
留水谷尽, Lưu thủy cốc tận: thủy cốc còn lưu trong Trường Vị đã hết.
小谷精气津液, Tiểu cốc tinh khí tân dịch: tinh khí và tân dịch do thủy cốc hóa sinh. Chữ “小谷” ở đây nên hiểu theo văn ý là phần thủy cốc còn lại và tinh vi của thủy cốc.
Kết luận
Thiên Bình nhân tuyệt cốc《平人绝谷》 nối tiếp ý của thiên 《肠胃》, dùng phép đo cổ để giải thích vì sao người bình thường không ăn uống lâu ngày thì chết. Trường Vị tuy có sức chứa nhất định, nhưng trong người sống, Vị và ruột không đồng thời đầy; chúng thay nhau rỗng đầy để thủy cốc được truyền hóa, khí được lên xuống, ngũ tạng được an, huyết mạch được hòa, tinh thần có nơi nương. Câu quan trọng nhất là “thần là tinh khí của thủy cốc”. Nghĩa là tinh thần con người không tách rời sự nuôi dưỡng hậu thiên của ăn uống. Khi tuyệt cốc, phần thủy cốc còn lưu trong Trường Vị dần bài xuất hết; tinh khí, tân dịch không còn nguồn sinh hóa, nên sau bảy ngày thì sinh mệnh không thể tiếp tục. Con số bảy ngày ở đây nên hiểu theo lý luận sinh lý cổ, nhằm nhấn mạnh vai trò căn bản của Vị khí, thủy cốc, tinh khí và tân dịch đối với sự sống.