Bàn về bệnh nhiệt
Câu 1
黄帝问曰:今夫热病者,皆伤寒之类也,或愈或死,其死皆以六七日之闲,其愈皆以十日以上者,何也。不知其解,愿闻其故。歧伯对曰:巨阳者,诸阳之属也,其脉连于风府,故为诸阳主气也。人之伤于寒也,则为病热,热虽甚不死,其两感于寒而病者,必不免于死。
Hán Việt
Hoàng Đế vấn viết: Kim phù nhiệt bệnh giả, giai Thương hàn chi loại dã, hoặc dũ hoặc tử, kỳ tử giai dĩ lục thất nhật chi gian, kỳ dũ giai dĩ thập nhật dĩ thượng giả, hà dã? Bất tri kỳ giải, nguyện văn kỳ cố.
Kỳ Bá đối viết: Cự dương giả, chư dương chi thuộc dã, kỳ mạch liên vu Phong phủ, cố vi chư dương chủ khí dã. Nhân chi thương vu hàn dã, tắc vi bệnh nhiệt, nhiệt tuy thậm bất tử; kỳ lưỡng cảm vu hàn nhi bệnh giả, tất bất miễn vu tử.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Nay các bệnh nhiệt đều thuộc loại Thương hàn. Có người khỏi, có người chết. Người chết thường chết trong khoảng sáu, bảy ngày; người khỏi thường phải trên mười ngày mới khỏi. Vì sao như vậy? Ta chưa hiểu lời giải, xin được nghe nguyên do.
Kỳ Bá đáp:
Cự dương thuộc về các dương, mạch của nó liên hệ với huyệt Phong phủ, cho nên làm chủ khí của các dương.
Con người bị hàn tà làm thương thì thành bệnh nhiệt. Nhiệt tuy rất nặng nhưng chưa hẳn chết. Nhưng nếu bệnh do hai mặt âm dương cùng cảm phải hàn tà, thì tất không tránh khỏi chết.
Giải thích từ ngữ
Nhiệt bệnh (热病): bệnh có sốt, nóng, thường do tà khí vào cơ thể rồi hóa nhiệt.
Thương hàn (伤寒): theo nghĩa rộng trong Nội Kinh, là bệnh do hàn tà làm thương, sau đó phát thành nhiệt bệnh; không nên hiểu hẹp hoàn toàn như các điều trong Thương Hàn Luận đời sau.
Cự dương (巨阳): tức Thái dương. Thái dương là phần ngoài cùng của tam dương, chủ biểu, liên hệ đầu gáy, lưng, Bàng quang và kinh khí ở ngoài.
Phong phủ (风府): huyệt ở vùng gáy, nơi phong tà dễ xâm nhập, cũng là chỗ quan trọng của khí Thái dương.
Chư dương chủ khí (诸阳主气): Thái dương làm chủ khí của các dương, vì nó ở ngoài, giữ phần biểu, mở đầu cho sự truyền biến của bệnh.
Lưỡng cảm vu hàn (两感于寒): hai bên cùng cảm hàn, thường hiểu là âm dương, biểu lý hoặc hai kinh âm dương cùng mắc bệnh. Đây là bệnh thế nặng, tà vào sâu và chính khí bị tổn nhanh.
Câu 2
帝曰:愿闻其状。歧伯曰:伤寒一日,巨阳受之,故头项痛腰脊强。二日阳明受之,阳明主肉,其脉侠鼻络于目,故身热目疼而鼻乾,不得卧也。三日,少阳受之,少阳主胆,其脉循脇络于耳,故胸脇痛而耳聋。三阳经络皆受其病,而未入于藏者,故可汗而已。四日,太阴受之,太阴脉布胃中络于嗌,故腹满而嗌乾。五日,少阴受之,少阴脉贯肾络于肺,系舌本,故口燥舌乾而渴。六日,厥阴受之,厥阴脉循阴器而络于肝,故烦满而囊缩。三阴三阳,五藏六府,皆受病,荣卫不行,五藏不通,则死矣。
Hán Việt
Đế viết: Nguyện văn kỳ trạng.
Kỳ Bá viết: Thương hàn nhất nhật, Cự dương thụ chi, cố đầu hạng thống, yêu tích cường.
Nhị nhật Dương minh thụ chi. Dương minh chủ nhục, kỳ mạch hiệp tỵ lạc vu mục, cố thân nhiệt, mục đông, nhi tỵ can, bất đắc ngọa dã.
Tam nhật, Thiếu dương thụ chi. Thiếu dương chủ Đởm, kỳ mạch tuần hiếp lạc vu nhĩ, cố hung hiếp thống nhi nhĩ lung.
Tam dương kinh lạc giai thụ kỳ bệnh, nhi vị nhập vu tạng giả, cố khả hãn nhi dĩ.
Tứ nhật, Thái âm thụ chi. Thái âm mạch bố Vị trung, lạc vu ách, cố phúc mãn nhi ách can.
Ngũ nhật, Thiếu âm thụ chi. Thiếu âm mạch quán Thận, lạc vu Phế, hệ thiệt bản, cố khẩu táo, thiệt can nhi khát.
Lục nhật, Quyết âm thụ chi. Quyết âm mạch tuần âm khí nhi lạc vu Can, cố phiền mãn nhi nang súc.
Tam âm tam dương, ngũ tạng lục phủ, giai thụ bệnh, vinh vệ bất hành, ngũ tạng bất thông, tắc tử hĩ.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe hình trạng của bệnh ấy.
Kỳ Bá nói:
Ngày thứ nhất của Thương hàn, Cự dương tiếp nhận tà khí, cho nên đầu gáy đau, lưng eo và cột sống cứng.
Ngày thứ hai, Dương minh tiếp nhận tà khí. Dương minh chủ cơ nhục, mạch của nó đi kèm hai bên mũi và liên lạc với mắt, cho nên thân nóng, mắt đau, mũi khô, không nằm yên được.
Ngày thứ ba, Thiếu dương tiếp nhận tà khí. Thiếu dương chủ Đởm, mạch của nó đi theo vùng hông sườn và liên lạc với tai, cho nên ngực sườn đau và tai điếc.
Ba kinh dương đều đã tiếp nhận bệnh, nhưng bệnh chưa vào tạng, cho nên có thể dùng phép phát hãn mà khỏi.
Ngày thứ tư, Thái âm tiếp nhận tà khí. Mạch Thái âm phân bố trong Vị và liên lạc với họng, cho nên bụng đầy và họng khô.
Ngày thứ năm, Thiếu âm tiếp nhận tà khí. Mạch Thiếu âm xuyên qua Thận, liên lạc với Phế, buộc vào gốc lưỡi, cho nên miệng khô, lưỡi khô và khát.
Ngày thứ sáu, Quyết âm tiếp nhận tà khí. Mạch Quyết âm đi theo âm khí và liên lạc với Can, cho nên phiền đầy và bìu co rút.
Khi tam âm, tam dương, năm tạng, sáu phủ đều mắc bệnh, vinh vệ không vận hành, năm tạng không thông, thì chết.
Giải thích từ ngữ
Đầu hạng thống, yêu tích cường (头项痛,腰脊强): đầu gáy đau, lưng sống cứng là biểu hiện Thái dương bị tà, vì kinh Thái dương đi vùng đầu gáy, lưng.
Dương minh chủ nhục (阳明主肉): Dương minh nhiều khí nhiều huyết, nuôi cơ nhục; khi bệnh thường có thân nhiệt, cơ nhục nóng đau.
Hiệp tỵ lạc vu mục (侠鼻络于目): mạch Dương minh đi hai bên mũi, liên hệ mắt; vì vậy bệnh có mũi khô, mắt đau.
Thiếu dương chủ Đởm (少阳主胆): Thiếu dương liên hệ Đởm, vùng hông sườn, tai; bệnh thường có sườn đau, tai ù, tai điếc.
Khả hãn nhi dĩ (可汗而已): khi bệnh còn ở tam dương, chưa vào tạng, có thể dùng phép phát hãn để giải tà ở biểu.
Thái âm mạch bố Vị trung lạc vu ách (太阴脉布胃中络于嗌): kinh Thái âm liên hệ Tỳ Vị và họng, nên bệnh có bụng đầy, họng khô.
Thiếu âm mạch quán Thận lạc Phế hệ thiệt bản (少阴脉贯肾络肺系舌本): Thiếu âm liên hệ Thận, Phế và gốc lưỡi, nên bệnh có miệng lưỡi khô, khát.
Quyết âm mạch tuần âm khí nhi lạc Can (厥阴脉循阴器而络肝): Quyết âm đi quanh bộ phận sinh dục và liên hệ Can, nên bệnh nặng có bìu co rút, phiền đầy.
Vinh vệ bất hành (荣卫不行): vinh khí và vệ khí không còn lưu thông; đây là dấu chính khí và khí huyết bế tắc nặng.
Câu 3
其不两感于寒者,七日巨阳病衰,头痛少愈;八日,阳明病衰,身热少愈;九日,少阳病衰,耳聋微闻;十日,太阴病衰,腹减如故,则思饮食;十一日,少阴病衰,渴止不满,舌乾已而嚏;十二日,厥阴病衰,囊纵少腹微下,大气皆去,病日已矣。帝曰:治之柰何。歧伯曰:治之各通其藏脉,病日衰已矣。其未满三日者,可汗而已;其满三日者,可泄而已。
Hán Việt
Kỳ bất lưỡng cảm vu hàn giả, thất nhật Cự dương bệnh suy, đầu thống thiểu dũ; bát nhật, Dương minh bệnh suy, thân nhiệt thiểu dũ; cửu nhật, Thiếu dương bệnh suy, nhĩ lung vi văn; thập nhật, Thái âm bệnh suy, phúc giảm như cố, tắc tư ẩm thực; thập nhất nhật, Thiếu âm bệnh suy, khát chỉ bất mãn, thiệt can dĩ nhi thế; thập nhị nhật, Quyết âm bệnh suy, nang túng, thiểu phúc vi hạ, đại khí giai khứ, bệnh nhật dĩ hĩ.
Đế viết: Trị chi nại hà?
Kỳ Bá viết: Trị chi các thông kỳ tạng mạch, bệnh nhật suy dĩ hĩ. Kỳ vị mãn tam nhật giả, khả hãn nhi dĩ; kỳ mãn tam nhật giả, khả tiết nhi dĩ.
Dịch nghĩa
Người không bị lưỡng cảm bởi hàn thì đến ngày thứ bảy, bệnh Cự dương suy, đau đầu hơi giảm.
Ngày thứ tám, bệnh Dương minh suy, thân nhiệt hơi giảm.
Ngày thứ chín, bệnh Thiếu dương suy, tai điếc bắt đầu nghe được chút ít.
Ngày thứ mười, bệnh Thái âm suy, bụng đầy giảm như cũ, bèn muốn ăn uống.
Ngày thứ mười một, bệnh Thiếu âm suy, hết khát, không còn đầy, lưỡi khô đã dứt rồi hắt hơi.
Ngày thứ mười hai, bệnh Quyết âm suy, bìu giãn ra, bụng dưới hơi hạ xuống, đại khí đều lui đi, bệnh mỗi ngày một khỏi.
Hoàng Đế hỏi:
Trị bệnh ấy như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Trị thì mỗi kinh tạng phải làm thông mạch của nó; bệnh sẽ ngày một suy mà khỏi.
Bệnh chưa đủ ba ngày thì có thể phát hãn mà thôi. Bệnh đã đủ ba ngày thì có thể dùng phép tiết mà thôi.
Giải thích từ ngữ
Bất lưỡng cảm vu hàn (不两感于寒): không bị hàn tà cùng lúc phạm cả âm và dương, nên bệnh có đường lui, không nhất thiết tử vong.
Thất nhật chí thập nhị nhật (七日至十二日): từ ngày thứ bảy đến ngày thứ mười hai là quá trình bệnh lần lượt suy theo thứ tự tam dương, tam âm.
Nhĩ lung vi văn (耳聋微闻): tai điếc bắt đầu nghe lại, biểu hiện khí Thiếu dương đã thông dần.
Phúc giảm tư ẩm thực (腹减思饮食): bụng đầy giảm, muốn ăn uống, chứng tỏ Tỳ Vị hồi phục, Vị khí trở lại.
Thiệt can dĩ nhi thế (舌乾已而嚏): lưỡi khô hết rồi hắt hơi, biểu hiện Thiếu âm bệnh suy, khí cơ có sự thông đạt.
Nang túng (囊纵): bìu giãn ra, trái với nang súc khi Quyết âm bệnh thịnh; chứng tỏ Quyết âm đã bớt co rút.
Đại khí giai khứ (大气皆去): khí tà lớn đều lui, bệnh thế giảm.
Thông kỳ tạng mạch (通其藏脉): làm thông mạch của tạng kinh liên quan, tức trị theo kinh khí đang bị bệnh.
Vị mãn tam nhật khả hãn (未满三日可汗): khi bệnh còn ở tam dương, chưa vào sâu, có thể phát hãn.
Mãn tam nhật khả tiết (满三日可泄): qua ba ngày, bệnh có thể đã vào sâu hơn, dùng phép tiết để đưa tà ra theo đường thích hợp. Chữ “tiết” nên hiểu rộng là tiết tà, không chỉ hạ mạnh một chiều.
Câu 4
帝曰:热病已愈,时有所遗者,何也。歧伯曰:诸遗者,热甚而强食之,故有所遗也。若此者,皆病已衰,而热有所藏,因其谷气相薄,两热相合,故有所遗也。帝曰:善。治遗柰何。歧伯曰:视其虚实,调其逆从,可使必已矣。帝曰:病热当何禁之。歧伯曰:病热少愈,食肉则复,多食则遗,此其禁也。
Hán Việt
Đế viết: Nhiệt bệnh dĩ dũ, thời hữu sở di giả, hà dã?
Kỳ Bá viết: Chư di giả, nhiệt thậm nhi cưỡng thực chi, cố hữu sở di dã. Nhược thử giả, giai bệnh dĩ suy, nhi nhiệt hữu sở tàng, nhân kỳ cốc khí tương bạc, lưỡng nhiệt tương hợp, cố hữu sở di dã.
Đế viết: Thiện. Trị di nại hà?
Kỳ Bá viết: Thị kỳ hư thực, điều kỳ nghịch tòng, khả sử tất dĩ hĩ.
Đế viết: Bệnh nhiệt đương hà cấm chi?
Kỳ Bá viết: Bệnh nhiệt thiểu dũ, thực nhục tắc phục, đa thực tắc di, thử kỳ cấm dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Bệnh nhiệt đã khỏi rồi, nhưng đôi khi còn để lại chứng sót, là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Các chứng sót ấy là do khi nhiệt còn rất thịnh mà cố ăn vào, cho nên có điều còn sót lại.
Trường hợp như vậy, đều là bệnh đã suy nhưng nhiệt còn có chỗ tàng ẩn. Nhân vì cốc khí của thức ăn đến xung kích với nhiệt ấy, hai thứ nhiệt hợp lại, nên có chứng sót.
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Trị chứng sót ấy thế nào?
Kỳ Bá nói:
Xem hư thực của nó, điều hòa nghịch thuận của nó, thì có thể khiến bệnh dứt hẳn.
Hoàng Đế hỏi:
Bệnh nhiệt cần kiêng điều gì?
Kỳ Bá đáp:
Bệnh nhiệt mới hơi khỏi, ăn thịt thì bệnh tái phát; ăn nhiều thì để lại chứng sót. Đó là điều phải kiêng.
Giải thích từ ngữ
Sở di (所遗): chứng còn sót lại sau bệnh, tức dư chứng, hậu di chứng, bệnh chưa sạch hẳn.
Nhiệt thậm nhi cưỡng thực (热甚而强食): khi nhiệt còn thịnh mà cố ăn, làm Vị khí bị trở, tà nhiệt chưa hết lại bị cốc khí thúc động.
Nhiệt hữu sở tàng (热有所藏): nhiệt còn ẩn ở trong, chưa giải hết.
Cốc khí tương bạc (谷气相薄): khí của thức ăn xung đột, va chạm với tà nhiệt còn lưu.
Lưỡng nhiệt tương hợp (两热相合): nhiệt của bệnh và nhiệt do cốc khí, thức ăn sinh ra hợp lại, khiến bệnh lưu lại hoặc tái phát.
Thực nhục tắc phục (食肉则复): ăn thịt khi bệnh nhiệt mới khỏi dễ làm bệnh tái phát, vì thịt nặng, bổ, khó tiêu, dễ trợ nhiệt.
Đa thực tắc di (多食则遗): ăn quá nhiều làm tà nhiệt chưa hết bị giữ lại, sinh chứng sót.
Câu 5
帝曰:其病两感于寒者,其脉应与其病形何如。歧伯曰:两感于寒者,病一日,则巨阳与少阴俱病,则头痛口乾而烦满;二日,则阳明与太阴俱病,则腹满身热,不欲食谵言;三日,则少阳与厥阴俱病,则耳聋囊缩而厥,水浆不入,不知人,六日死。帝曰:五藏已伤,六府不通,荣卫不行,如是之后,三日乃死,何也。歧伯曰:阳明者,十二经脉之长也,其血气盛,故不知人,三日其气乃尽,故死矣。凡病伤寒而成温者,先夏至日者为病温,后夏至日者为病暑,暑当与汗皆出,勿止。
Hán Việt
Đế viết: Kỳ bệnh lưỡng cảm vu hàn giả, kỳ mạch ứng dữ kỳ bệnh hình hà như?
Kỳ Bá viết: Lưỡng cảm vu hàn giả, bệnh nhất nhật, tắc Cự dương dữ Thiếu âm câu bệnh, tắc đầu thống, khẩu can nhi phiền mãn; nhị nhật, tắc Dương minh dữ Thái âm câu bệnh, tắc phúc mãn, thân nhiệt, bất dục thực, chiêm ngôn; tam nhật, tắc Thiếu dương dữ Quyết âm câu bệnh, tắc nhĩ lung, nang súc nhi quyết, thủy tương bất nhập, bất tri nhân, lục nhật tử.
Đế viết: Ngũ tạng dĩ thương, lục phủ bất thông, vinh vệ bất hành, như thị chi hậu, tam nhật nãi tử, hà dã?
Kỳ Bá viết: Dương minh giả, thập nhị kinh mạch chi trưởng dã, kỳ huyết khí thịnh, cố bất tri nhân; tam nhật kỳ khí nãi tận, cố tử hĩ.
Phàm bệnh Thương hàn nhi thành Ôn giả, tiên Hạ chí nhật giả vi bệnh Ôn, hậu Hạ chí nhật giả vi bệnh Thử. Thử đương dữ hãn giai xuất, vật chỉ.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Người bệnh do lưỡng cảm với hàn thì mạch ứng và hình chứng của bệnh ra sao?
Kỳ Bá nói:
Người lưỡng cảm với hàn, ngày thứ nhất thì Cự dương và Thiếu âm cùng mắc bệnh, nên đầu đau, miệng khô, phiền đầy.
Ngày thứ hai thì Dương minh và Thái âm cùng mắc bệnh, nên bụng đầy, thân nóng, không muốn ăn, nói mê.
Ngày thứ ba thì Thiếu dương và Quyết âm cùng mắc bệnh, nên tai điếc, bìu co rút mà quyết lạnh, nước uống không vào, không biết người, đến ngày thứ sáu thì chết.
Hoàng Đế hỏi:
Năm tạng đã bị thương, sáu phủ không thông, vinh vệ không vận hành; sau tình trạng như vậy, ba ngày thì chết, là vì sao?
Kỳ Bá đáp:
Dương minh là trưởng của mười hai kinh mạch, huyết khí của nó thịnh. Vì vậy khi bệnh đến Dương minh mà nặng thì người bệnh không biết người. Sau ba ngày, khí ấy mới hết, cho nên chết.
Phàm bệnh Thương hàn mà thành bệnh Ôn, nếu phát trước ngày Hạ chí thì gọi là bệnh Ôn; nếu phát sau ngày Hạ chí thì gọi là bệnh Thử. Bệnh Thử thì nên để mồ hôi cùng tà khí đều ra, không được ngăn lại.
Giải thích từ ngữ
Lưỡng cảm vu hàn (两感于寒): hàn tà cùng lúc phạm vào hai hệ âm dương tương ứng, bệnh tiến rất nhanh và nặng.
Cự dương dữ Thiếu âm câu bệnh (巨阳与少阴俱病): Thái dương và Thiếu âm cùng bệnh, tức biểu dương và lý âm cùng bị tổn, nên vừa đầu đau vừa miệng khô, phiền đầy.
Dương minh dữ Thái âm câu bệnh (阳明与太阴俱病): Dương minh Vị và Thái âm Tỳ cùng bệnh, nên vừa thân nhiệt, nói mê, vừa bụng đầy, không muốn ăn.
Thiếu dương dữ Quyết âm câu bệnh (少阳与厥阴俱病): Thiếu dương và Quyết âm cùng bệnh, nên tai điếc, bìu co rút, quyết lạnh, bệnh vào sâu và nguy.
Thủy tương bất nhập (水浆不入): nước uống, nước cháo không vào được, chứng tỏ Vị khí suy bại nặng.
Bất tri nhân (不知人): không nhận biết người, thần chí hôn mê, thường là dấu nhiệt cực hoặc chính khí suy bại.
Dương minh thập nhị kinh mạch chi trưởng (阳明者,十二经脉之长): Dương minh nhiều khí nhiều huyết, là biển của thủy cốc; khi khí Dương minh tận thì sinh cơ rất nguy.
Bệnh Ôn (病温): bệnh nhiệt ôn phát trước Hạ chí, do Thương hàn hóa nhiệt mà thành.
Bệnh Thử (病暑): bệnh thử nhiệt phát sau Hạ chí, liên hệ khí nóng mùa hạ.
Thử đương dữ hãn giai xuất, vật chỉ (暑当与汗皆出,勿止): bệnh thử nên để tà theo mồ hôi ra, không nên cố ngăn mồ hôi, vì ngăn lại có thể giữ tà nhiệt ở trong.
Nhận xét chung
Thiên Nhiệt luận là một thiên rất quan trọng để hiểu cách Nội Kinh nhìn bệnh nhiệt và Thương hàn. Ở đây “Thương hàn” được dùng theo nghĩa rộng: con người bị hàn tà làm thương, sau đó phát thành bệnh nhiệt. Vì tà từ ngoài vào, nên bệnh thường truyền theo thứ tự tam dương rồi tam âm.
Đoạn đầu lấy Cự dương, tức Thái dương, làm nơi đầu tiên tiếp nhận tà. Thái dương là chủ khí của các dương, mạch liên hệ Phong phủ, cho nên khi hàn tà mới phạm thường thấy đầu gáy đau, lưng sống cứng. Sau đó bệnh chuyển sang Dương minh thì thân nhiệt, mắt đau, mũi khô, không nằm yên; sang Thiếu dương thì ngực sườn đau, tai điếc. Khi bệnh còn ở tam dương, chưa vào tạng, có thể phát hãn để giải.
Nếu bệnh tiếp tục vào tam âm, ngày thứ tư Thái âm có bụng đầy, họng khô; ngày thứ năm Thiếu âm có miệng lưỡi khô, khát; ngày thứ sáu Quyết âm có phiền đầy, bìu co rút. Khi tam âm tam dương, năm tạng sáu phủ đều bệnh, vinh vệ không hành, tạng phủ không thông, thì bệnh rất nguy.
Thiên này cũng nêu quá trình bệnh lui. Nếu không phải lưỡng cảm, đến ngày thứ bảy Thái dương suy, ngày thứ tám Dương minh suy, ngày thứ chín Thiếu dương suy, ngày thứ mười Thái âm suy, ngày thứ mười một Thiếu âm suy, ngày thứ mười hai Quyết âm suy. Khi Vị khí trở lại, muốn ăn uống, khát dừng, bìu giãn, đại khí lui, bệnh sẽ dần khỏi. Đây là cách cổ nhân quan sát chu kỳ truyền biến và hồi phục của nhiệt bệnh.
Một điểm rất thực tế là kiêng ăn sau bệnh nhiệt. Khi nhiệt chưa sạch, nếu cố ăn, đặc biệt ăn thịt hoặc ăn nhiều, cốc khí và tà nhiệt hợp lại, dễ làm bệnh tái phát hoặc lưu lại chứng sót. Vì vậy, lúc mới khỏi bệnh nhiệt phải ăn nhẹ, điều độ, đợi Vị khí phục dần.
Phần lưỡng cảm là phần cảnh báo nặng nhất. Khi Thái dương với Thiếu âm, Dương minh với Thái âm, Thiếu dương với Quyết âm cùng bệnh, tà vào cả âm dương, biểu lý, tạng phủ, bệnh tiến rất nhanh. Đặc biệt khi nước cháo không vào, thần chí không biết người, vinh vệ không hành, năm tạng sáu phủ đều bị thương, thì tiên lượng rất xấu.
Cuối thiên phân biệt bệnh Ôn và bệnh Thử theo Hạ chí. Trước Hạ chí gọi là bệnh Ôn, sau Hạ chí gọi là bệnh Thử. Với bệnh Thử, tà nhiệt nên theo mồ hôi mà ra, không được ngăn mồ hôi bừa bãi. Đây là một điểm quan trọng trong trị nhiệt bệnh: phải biết thời khí, biết đường ra của tà, và không làm trái cơ chế giải bệnh tự nhiên.