Bàn về sự điều hòa bị nghịch
Câu 1
黄帝问曰:人身非常温也,非常热也,为之热而烦满者何也。歧伯对曰:阴气少而阳气胜,故热而烦满也。
Hán Việt
Hoàng Đế vấn viết: Nhân thân phi thường ôn dã, phi thường nhiệt dã, vi chi nhiệt nhi phiền mãn giả hà dã?
Kỳ Bá đối viết: Âm khí thiểu nhi dương khí thắng, cố nhiệt nhi phiền mãn dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Thân người vốn không phải lúc nào cũng ấm, cũng không phải lúc nào cũng nóng. Vậy vì sao có người phát nóng mà phiền đầy?
Kỳ Bá đáp:
Đó là do âm khí ít mà dương khí thắng, cho nên phát nóng và phiền đầy.
Giải thích từ ngữ
Phiền mãn (烦满): bứt rứt, khó chịu, đầy tức trong ngực bụng.
Âm khí thiểu (阴气少): âm dịch, âm huyết, phần nhu nhuận và thu liễm không đủ.
Dương khí thắng (阳气胜): dương khí quá thịnh, nhiệt bốc lên, dễ sinh nóng, phiền, đầy.
Câu này nêu nguyên tắc rất gọn: khi âm không đủ để chế dương, dương thịnh một mình thì thành nhiệt và phiền mãn.
Câu 2
帝曰:人身非衣寒也,中非有寒气也,寒从中生者何。歧伯曰:是人多痹气也,阳气少,阴气多,故身寒如从水中出。
Hán Việt
Đế viết: Nhân thân phi y hàn dã, trung phi hữu hàn khí dã, hàn tòng trung sinh giả hà?
Kỳ Bá viết: Thị nhân đa tý khí dã, dương khí thiểu, âm khí đa, cố thân hàn như tòng thủy trung xuất.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Thân người không phải vì áo mặc lạnh, bên trong cũng không phải vốn có hàn khí, vậy vì sao hàn lại từ bên trong sinh ra?
Kỳ Bá đáp:
Người ấy phần nhiều có tý khí. Dương khí ít, âm khí nhiều, cho nên thân lạnh như vừa từ dưới nước đi lên.
Giải thích từ ngữ
Hàn tòng trung sinh (寒从中生): lạnh sinh từ bên trong, không phải do ngoại hàn trực tiếp.
Tý khí (痹气): khí bế trở, tê đau, khí huyết không thông; thường liên hệ phong hàn thấp làm trở ngại kinh lạc.
Dương khí thiểu, âm khí đa (阳气少,阴气多): dương khí không đủ để ôn ấm, âm hàn thiên thịnh, nên lạnh từ trong phát ra.
Như tòng thủy trung xuất (如从水中出): lạnh như vừa từ dưới nước bước ra, ví cái lạnh thấm sâu, ẩm nặng.
Câu 3
帝曰:人有四支热,逢逄风寒,如灸如火者,何也。歧伯曰:是人者,阴气虚,阳气盛,四支者阳也,两阳相得而阴气虚少,少水不能灭盛火,而阳独治,独治者不能生长也,独胜而止耳,逢风而如灸如火者,是人当肉烁也。
Hán Việt
Đế viết: Nhân hữu tứ chi nhiệt, phùng phong hàn, như cứu như hỏa giả, hà dã?
Kỳ Bá viết: Thị nhân giả, âm khí hư, dương khí thịnh. Tứ chi giả dương dã. Lưỡng dương tương đắc nhi âm khí hư thiểu, thiểu thủy bất năng diệt thịnh hỏa, nhi dương độc trị. Độc trị giả bất năng sinh trưởng dã, độc thắng nhi chỉ nhĩ. Phùng phong nhi như cứu như hỏa giả, thị nhân đương nhục thước dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Có người bốn chi nóng, gặp phong hàn thì cảm thấy như bị cứu, như bị lửa đốt. Vì sao như vậy?
Kỳ Bá đáp:
Người ấy âm khí hư, dương khí thịnh. Bốn chi thuộc dương. Hai phần dương cùng gặp nhau mà âm khí lại hư ít; nước ít không thể dập được lửa thịnh, nên dương một mình làm chủ.
Dương một mình làm chủ thì không thể sinh trưởng điều hòa, chỉ là một mình thắng thế mà thôi. Gặp gió mà cảm thấy như bị cứu, như bị lửa đốt, người ấy sẽ bị cơ nhục nung hao.
Giải thích từ ngữ
Tứ chi giả dương dã (四支者阳也): bốn chi là nơi dương khí phát ra ngoài, vận động và biểu hiện sức lực.
Âm khí hư, dương khí thịnh (阴气虚,阳气盛): âm không đủ để chế dương, dương nhiệt bốc ra tứ chi.
Thiểu thủy bất năng diệt thịnh hỏa (少水不能灭盛火): nước ít không dập được lửa lớn, ví âm dịch không đủ để chế nhiệt.
Dương độc trị (阳独治): dương khí một mình làm chủ, mất sự điều hòa âm dương.
Nhục thước (肉烁): cơ nhục bị nung đốt, hao mòn, khô gầy do nhiệt thịnh lâu ngày.
Câu này rất sâu: không phải cứ gặp phong hàn là thấy lạnh. Nếu bên trong âm hư dương thịnh, gặp gió lại kích động dương nhiệt, khiến người bệnh có cảm giác như bị đốt.
Câu 4
帝曰:人有身寒,汤火不能热,厚衣不能温,然不冻栗,是为何病。歧伯曰:是人者,素肾气胜,以水为事,太阳气衰,肾脂枯不长,一水不能胜两火,肾者水也,而生于骨,肾不生,则髓不能满,故寒甚至骨也。所以不能冻栗者,肝一阳也,心二阳也,肾孤藏也,一水不能胜二火,故不能冻栗,病名曰骨痹,是人当挛节也。
Hán Việt
Đế viết: Nhân hữu thân hàn, thang hỏa bất năng nhiệt, hậu y bất năng ôn, nhiên bất đống lật, thị vi hà bệnh?
Kỳ Bá viết: Thị nhân giả, tố Thận khí thắng, dĩ thủy vi sự, Thái dương khí suy, Thận chi khô bất trưởng. Nhất thủy bất năng thắng lưỡng hỏa. Thận giả Thủy dã, nhi sinh vu cốt; Thận bất sinh, tắc tủy bất năng mãn, cố hàn thậm chí cốt dã.
Sở dĩ bất năng đống lật giả, Can nhất dương dã, Tâm nhị dương dã, Thận cô tạng dã. Nhất thủy bất năng thắng nhị hỏa, cố bất năng đống lật. Bệnh danh viết cốt tý, thị nhân đương luyến tiết dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Có người thân lạnh, dùng nước nóng và lửa cũng không làm nóng được, mặc áo dày cũng không làm ấm được, nhưng lại không rét run. Đó là bệnh gì?
Kỳ Bá đáp:
Người ấy vốn Thận khí thịnh, thường lấy thủy làm việc; khí Thái dương suy, mỡ Thận khô héo không sinh trưởng. Một phần Thủy không thắng nổi hai phần Hỏa.
Thận thuộc Thủy, mà sinh ra ở xương. Thận không sinh thì tủy không thể đầy, cho nên cái lạnh sâu đến tận xương.
Sở dĩ không rét run là vì Can là nhất dương, Tâm là nhị dương, còn Thận là cô tạng. Một phần Thủy không thắng nổi hai phần Hỏa, cho nên không rét run. Bệnh ấy gọi là cốt tý. Người ấy sẽ bị co rút các khớp.
Giải thích từ ngữ
Thân hàn (身寒): thân thể lạnh, nhưng ở đây lạnh sâu, không dễ làm ấm bằng bên ngoài.
Thang hỏa bất năng nhiệt, hậu y bất năng ôn (汤火不能热,厚衣不能温): dùng nước nóng, lửa, áo dày đều không làm ấm, cho thấy bệnh không chỉ ở biểu.
Thái dương khí suy (太阳气衰): khí Thái dương ở biểu suy, không ôn thông da lông, kinh mạch.
Thận chi khô (肾脂枯): mỡ Thận khô, ý nói tinh khí, phần nhu dưỡng của Thận suy tổn.
Thận sinh vu cốt (肾生于骨): Thận chủ xương, sinh tủy, nuôi cốt.
Tủy bất năng mãn (髓不能满): tủy không đầy đủ, xương mất nuôi dưỡng, lạnh đau vào sâu.
Cốt tý (骨痹): chứng tý ở xương, đau lạnh, co cứng khớp, bệnh vào sâu đến cốt.
Luyến tiết (挛节): khớp co rút, cử động khó.
Đoạn này văn nghĩa khá cổ và khó. Ý chính có thể hiểu là: Thận thủy, Thái dương, xương tủy không điều hòa; hàn vào sâu đến xương, sinh cốt tý, nhưng biểu hiện không giống rét run thông thường.
Câu 5
帝曰:人之肉苛者,虽近衣絮,犹尚苛也,是谓何疾。歧伯曰:荣气虚,卫气实也,荣气虚则不仁,卫气虚则不用,荣卫俱虚,则不仁且不用,肉如故也,人身与志不相有,曰死。
Hán Việt
Đế viết: Nhân chi nhục kha giả, tuy cận y nhứ, do thượng kha dã, thị vị hà tật?
Kỳ Bá viết: Vinh khí hư, vệ khí thực dã. Vinh khí hư tắc bất nhân, vệ khí hư tắc bất dụng, vinh vệ câu hư, tắc bất nhân thả bất dụng, nhục như cố dã. Nhân thân dữ chí bất tương hữu, viết tử.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Có người cơ nhục tê dại, dù mặc áo bông sát vào người, vẫn cảm thấy tê dại. Đó gọi là bệnh gì?
Kỳ Bá đáp:
Đó là vinh khí hư mà vệ khí thực. Vinh khí hư thì bất nhân, tê dại mất cảm giác. Vệ khí hư thì không dùng được, vận động yếu. Nếu vinh vệ đều hư thì vừa bất nhân vừa không dùng được, nhưng cơ nhục bề ngoài vẫn như cũ.
Nếu thân người và chí ý không còn liên hệ với nhau, gọi là chết.
Giải thích từ ngữ
Nhục kha (肉苛): cơ nhục tê dại, cảm giác thô ráp, không nhạy, như có vật ngăn cách.
Y nhứ (衣絮): áo bông, áo có bông mềm; dù mặc sát vẫn không cảm nhận bình thường.
Vinh khí (荣气): khí dinh dưỡng đi trong mạch, nuôi huyết mạch, cơ nhục, tạng phủ.
Vệ khí (卫气): khí bảo vệ đi ngoài mạch, ôn da thịt, giữ tấu lý, chống ngoại tà, giúp vận động phần biểu.
Bất nhân (不仁): tê dại, mất cảm giác, không biết đau ngứa rõ.
Bất dụng (不用): không dùng được, vận động suy yếu.
Nhân thân dữ chí bất tương hữu (人身与志不相有): thân thể và chí thần không còn tương thông; ý thức, thần chí không còn làm chủ thân thể. Đây là dấu rất nguy.
Câu 6
帝曰:人有逆气不得卧而息有音者,有不得卧而息无音者,有起居如故而息有音者,有得卧行而喘者,有不得卧不能行而喘者,有不得卧卧而喘者,皆何藏使然,愿闻其故。歧伯曰:不得卧而息有音者,是阳明之逆也,足三阳者下行,今逆而上行,故息有音也。阳明者,胃脉也,胃者六府之海,其气亦下行,阳明逆不得从其道,故不得卧也。下经曰:胃不和则卧不安,此之谓也。夫起居如故而息有音者,此肺之络脉逆也,络脉不得随经上下,故留经而不行,络脉之病人也微,故起居如故而息有音也。夫不得卧卧则喘者,是水气之客也,夫水者循津液而流也,肾者水藏,主津液,主卧与喘也。帝曰:善。
Hán Việt
Đế viết: Nhân hữu nghịch khí bất đắc ngọa nhi tức hữu âm giả, hữu bất đắc ngọa nhi tức vô âm giả, hữu khởi cư như cố nhi tức hữu âm giả, hữu đắc ngọa hành nhi suyễn giả, hữu bất đắc ngọa bất năng hành nhi suyễn giả, hữu bất đắc ngọa ngọa nhi suyễn giả, giai hà tạng sử nhiên, nguyện văn kỳ cố.
Kỳ Bá viết: Bất đắc ngọa nhi tức hữu âm giả, thị Dương minh chi nghịch dã. Túc tam dương giả hạ hành, kim nghịch nhi thượng hành, cố tức hữu âm dã.
Dương minh giả, Vị mạch dã. Vị giả lục phủ chi hải, kỳ khí diệc hạ hành. Dương minh nghịch, bất đắc tòng kỳ đạo, cố bất đắc ngọa dã. Hạ kinh viết: Vị bất hòa tắc ngọa bất an, thử chi vị dã.
Phù khởi cư như cố nhi tức hữu âm giả, thử Phế chi lạc mạch nghịch dã. Lạc mạch bất đắc tùy kinh thượng hạ, cố lưu kinh nhi bất hành. Lạc mạch chi bệnh nhân dã vi, cố khởi cư như cố nhi tức hữu âm dã.
Phù bất đắc ngọa, ngọa tắc suyễn giả, thị thủy khí chi khách dã. Phù thủy giả tuần tân dịch nhi lưu dã. Thận giả Thủy tạng, chủ tân dịch, chủ ngọa dữ suyễn dã.
Đế viết: Thiện.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Có người khí nghịch, không nằm được mà hơi thở có tiếng. Có người không nằm được mà hơi thở không có tiếng. Có người sinh hoạt như cũ mà hơi thở có tiếng. Có người nằm được, đi được nhưng suyễn. Có người không nằm được, không đi được mà suyễn. Lại có người không nằm được, hễ nằm thì suyễn. Những chứng ấy đều do tạng nào khiến nên? Xin được nghe nguyên do.
Kỳ Bá nói:
Không nằm được mà hơi thở có tiếng là do Dương minh nghịch. Túc tam dương vốn đi xuống, nay nghịch mà đi lên, cho nên hơi thở có tiếng.
Dương minh là mạch của Vị. Vị là biển của sáu phủ, khí của nó cũng đi xuống. Khi Dương minh nghịch, không thể theo đường đi thường của nó, cho nên không nằm được. Hạ kinh nói: Vị không hòa thì nằm không yên, chính là nghĩa này.
Còn người sinh hoạt như cũ mà hơi thở có tiếng, đó là lạc mạch của Phế nghịch. Lạc mạch không thể theo kinh mạch mà lên xuống, nên lưu lại trong kinh mà không vận hành. Bệnh của lạc mạch ở người còn nhẹ, cho nên sinh hoạt vẫn như cũ mà hơi thở có tiếng.
Còn người không nằm được, nằm thì suyễn, đó là thủy khí đến làm khách. Nước theo tân dịch mà lưu hành. Thận là tạng Thủy, chủ tân dịch, chủ việc nằm và chứng suyễn.
Hoàng Đế nói:
Hay thay.
Giải thích từ ngữ
Nghịch khí (逆气): khí không đi theo chiều thuận, thường là đáng giáng mà lại nghịch lên.
Bất đắc ngọa (不得卧): không nằm được, nằm xuống thì khó chịu, khó thở hoặc bệnh tăng.
Tức hữu âm (息有音): hơi thở có tiếng, thở khò khè, thở nặng tiếng.
Dương minh chi nghịch (阳明之逆): khí Dương minh, tức khí Vị, không giáng xuống mà nghịch lên, gây đầy, khó nằm, hơi thở có tiếng.
Túc tam dương hạ hành (足三阳下行): ba kinh dương ở chân có xu thế khí đi xuống; nếu nghịch lên sẽ sinh bệnh ở ngực, hơi thở, đầu mặt.
Vị giả lục phủ chi hải (胃者六府之海): Vị là biển của sáu phủ, nơi tiếp nhận thủy cốc, khí nên hòa giáng.
Vị bất hòa tắc ngọa bất an (胃不和则卧不安): Vị khí không hòa, trọc khí không giáng, thì nằm ngủ không yên.
Phế chi lạc mạch nghịch (肺之络脉逆): lạc mạch của Phế bị nghịch, khí không theo kinh mạch lên xuống bình thường, nên thở có tiếng nhưng bệnh còn nhẹ.
Thủy khí chi khách (水气之客): thủy khí đến trú trong thân, thường làm ho, suyễn, không nằm được, phù hoặc ngực đầy.
Thận chủ tân dịch, chủ ngọa dữ suyễn (肾主津液,主卧与喘): Thận chủ thủy và nạp khí. Thủy khí nghịch hoặc Thận khí không nạp, khi nằm càng bức Phế mà sinh suyễn.
Nhận xét chung
Thiên Nghịch điều luận bàn về các tình trạng khí cơ mất điều hòa: có người nóng phiền do âm ít dương thắng; có người lạnh từ trong do dương ít âm nhiều; có người tứ chi nóng như lửa do âm hư dương thịnh; có người lạnh sâu đến xương mà không rét run; có người cơ nhục tê dại do vinh vệ không điều; có người không nằm được, thở có tiếng hoặc suyễn do Dương minh, Phế lạc, Thận thủy rối loạn.
Điểm chung của thiên này là chữ “nghịch”. Nghịch không chỉ là khí đi ngược lên, mà là âm dương, hàn nhiệt, vinh vệ, tạng phủ không còn giữ đúng trật tự. Âm thiếu mà dương thắng thì nhiệt; dương thiếu mà âm nhiều thì hàn; dương một mình thắng thì cơ nhục bị nung hao; hàn vào sâu đến xương thì thành cốt tý.
Đặc biệt, đoạn về “Vị bất hòa tắc ngọa bất an” rất nổi tiếng. Dương minh là mạch của Vị, Vị khí nên đi xuống. Nếu Vị khí nghịch lên thì người bệnh không nằm được, hơi thở có tiếng. Điều này cho thấy mất ngủ, nằm không yên, khó thở khi nằm không chỉ do Tâm hay Phế, mà có khi gốc ở Vị khí không hòa, trọc khí không giáng.
Thiên này cũng phân biệt Phế lạc và Thận thủy. Nếu sinh hoạt vẫn như cũ mà hơi thở có tiếng, bệnh còn ở lạc mạch của Phế, tương đối nhẹ. Nếu không nằm được, nằm thì suyễn, thường liên hệ thủy khí làm khách, Thận không khí hóa tân dịch, thủy khí bức lên Phế. Đây là cách Nội Kinh nhìn suyễn theo khí nghịch, thủy khí và tạng phủ phối hợp.
Về lâm sàng, thiên này nhắc người học không nên thấy nóng thì chỉ nghĩ nhiệt, thấy lạnh thì chỉ nghĩ hàn ở ngoài. Có thứ nóng do âm hư dương thắng; có thứ lạnh do dương khí suy; có thứ lạnh đến xương do Thận, tủy, Thái dương đều tổn; có thứ thở khò khè do Vị nghịch; có thứ suyễn do thủy khí. Muốn trị đúng phải xét âm dương, vinh vệ, khí huyết, tạng phủ và đường đi thuận nghịch của khí.