Bàn về phép châm tùy theo thuận nghịch, béo gầy, mạnh yếu
1
黄帝问于歧伯曰:余闻针道于夫子,众多毕悉矣。夫子之道,应若失,而据未有坚然者也。夫子之问学熟乎,将审察于物而心生之乎?歧伯曰:圣人之为道者,上合于天,下合于地,中合于人事,必有明法,以起度数,法式检押,乃后可传焉。故匠人不能释尺寸而意短长,废绳墨而起平水也,工人不能置规而为圆,去矩而为方。知用此者,固自然之物,易用之教,逆顺之常也。
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Dư văn châm đạo ư phu tử, chúng đa tất tất hĩ. Phu tử chi đạo, ứng nhược thất, nhi cứ vị hữu kiên nhiên giả dã. Phu tử chi vấn học thục hồ, tương thẩm sát ư vật nhi tâm sinh chi hồ? Kỳ Bá viết: Thánh nhân chi vi đạo giả, thượng hợp ư thiên, hạ hợp ư địa, trung hợp ư nhân sự, tất hữu minh pháp, dĩ khởi độ số, pháp thức kiểm áp, nãi hậu khả truyền yên. Cố tượng nhân bất năng thích xích thốn nhi ý đoản trường, phế thằng mặc nhi khởi bình thủy dã, công nhân bất năng trí quy nhi vi viên, khứ củ nhi vi phương. Tri dụng thử giả, cố tự nhiên chi vật, dị dụng chi giáo, nghịch thuận chi thường dã.
Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Ta nghe thầy giảng về đạo dùng kim, rất nhiều điều đã biết hết. Đạo của thầy ứng biến như bóng mất, mà chỗ dựa dường như chưa có điều gì thật chắc. Vậy sự học hỏi của thầy đã thuần thục chăng, hay là do xét kỹ sự vật rồi trong tâm tự sinh ra hiểu biết?
Kỳ Bá nói: Bậc thánh nhân làm đạo, trên hợp với trời, dưới hợp với đất, ở giữa hợp với việc người. Tất phải có pháp rõ ràng để lập ra độ số; có phép tắc, khuôn mẫu, chuẩn mực rồi sau mới có thể truyền lại.
Cho nên người thợ mộc không thể bỏ thước tấc mà tùy ý đo dài ngắn; không thể bỏ dây mực và mực nước mà dựng mặt phẳng. Người thợ không thể bỏ compa mà làm tròn, bỏ thước vuông mà làm vuông. Biết dùng những phép ấy thì hiểu được vật tự nhiên, nắm được lời dạy dễ dùng, và biết được lẽ thường của nghịch thuận.
Giải thích từ ngữ
逆顺肥瘦, Nghịch thuận phì sấu: “nghịch thuận” là chiều đi thuận hay nghịch của khí mạch; “phì sấu” là béo gầy. Thiên này bàn phép châm tùy người béo, gầy, thường nhân, tráng sĩ, trẻ nhỏ và tùy khí huyết thanh trọc, hoạt sáp.
针道, Châm đạo: đạo lý dùng kim châm.
应若失, Ứng nhược thất: ứng biến linh hoạt, như có như không, khó nắm nếu không hiểu pháp.
明法, Minh pháp: phép rõ ràng, nguyên tắc sáng tỏ.
度数, Độ số: phép đo, số lượng, chuẩn mực.
法式检押, Pháp thức kiểm áp: khuôn phép, quy củ, sự kiểm thúc để không sai lệch.
尺寸, Xích thốn: thước tấc, đơn vị đo dài ngắn.
绳墨, Thằng mặc: dây mực, dụng cụ lấy đường thẳng.
规, Quy: compa, dụng cụ vẽ tròn.
矩, Củ: thước vuông, dụng cụ lấy góc vuông.
自然之物, Tự nhiên chi vật: vật và quy luật tự nhiên.
逆顺之常, Nghịch thuận chi thường: quy luật thường hằng của khí mạch đi thuận hay đi nghịch.
2
黄帝曰:愿闻自然奈何?歧伯曰:临深决水,不用功力,而水可竭也。循拙决冲,而经可通也。此言气之滑涩,血水清浊,行之逆顺也。
Hoàng Đế viết: Nguyện văn tự nhiên nại hà? Kỳ Bá viết: Lâm thâm quyết thủy, bất dụng công lực, nhi thủy khả kiệt dã. Tuần chuyết quyết xung, nhi kinh khả thông dã. Thử ngôn khí chi hoạt sáp, huyết thủy thanh trọc, hành chi nghịch thuận dã.
Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe tự nhiên là thế nào?
Kỳ Bá nói: Đứng trước chỗ nước sâu mà mở đường cho nước thoát, không cần dùng nhiều công sức mà nước có thể cạn. Theo chỗ bế tắc mà khai thông dòng xung, thì kinh mạch có thể thông. Đây là nói khí có hoạt có sáp, huyết và thủy có trong có đục, sự vận hành có thuận có nghịch.
Giải thích từ ngữ
临深决水, Lâm thâm quyết thủy: đứng trước nơi nước sâu mà mở lối tháo nước; ví trị bệnh phải biết thuận thế mà dẫn.
不用功力, Bất dụng công lực: không cần cưỡng ép nhiều, vì làm đúng thế thì hiệu quả tự nhiên.
水可竭, Thủy khả kiệt: nước có thể cạn, ví tà khí, ứ trệ có thể được tháo giải.
循拙决冲, Tuần chuyết quyết xung: theo chỗ vụng tắc, bế nghẽn mà khai thông đường xung; chữ “拙” ở đây có thể hiểu là chỗ trở ngại, không thông.
经可通, Kinh khả thông: kinh mạch có thể thông.
气之滑涩, Khí chi hoạt sáp: khí có khi trơn lợi, có khi rít trệ.
血水清浊, Huyết thủy thanh trọc: huyết và thủy dịch có khi trong sạch, có khi đục trệ.
行之逆顺, Hành chi nghịch thuận: đường vận hành có thuận chiều hoặc nghịch chiều.
3
黄帝曰:愿闻人之白黑肥瘦小长,各有数乎?歧伯曰:年质壮大,血气充盈,肤革坚固,因加以邪,刺此者,深而留之,此肥人也。广肩腋项,肉薄厚皮而黑色,唇临临然,其血黑以浊,其气涩以迟。其为人也,贪于取与,刺此者,深而留之,多益其数也。
Hoàng Đế viết: Nguyện văn nhân chi bạch hắc phì sấu tiểu trường, các hữu số hồ? Kỳ Bá viết: Niên chất tráng đại, huyết khí sung doanh, phu cách kiên cố, nhân gia dĩ tà, thích thử giả, thâm nhi lưu chi, thử phì nhân dã. Quảng kiên dịch hạng, nhục bạc hậu bì nhi hắc sắc, thần lâm lâm nhiên, kỳ huyết hắc dĩ trọc, kỳ khí sáp dĩ trì. Kỳ vi nhân dã, tham ư thủ dữ, thích thử giả, thâm nhi lưu chi, đa ích kỳ số dã.
Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe con người có trắng, đen, béo, gầy, nhỏ, cao, mỗi loại có phép số riêng chăng?
Kỳ Bá nói: Người tuổi và chất đều tráng thịnh, huyết khí đầy đủ, da thịt bền chắc, nếu lại bị tà xâm, khi châm người ấy thì nên châm sâu và lưu kim. Đó là loại người béo.
Người vai rộng, nách rộng, cổ lớn, thịt dày, da dày mà sắc đen, môi đầy trề; huyết của họ đen và đục, khí của họ sáp và chậm. Con người ấy thường tham lấy và cho. Châm loại người này phải châm sâu và lưu kim, đồng thời có thể tăng thêm số lần hoặc thời gian.
Giải thích từ ngữ
白黑肥瘦小长, Bạch hắc phì sấu tiểu trường: trắng, đen, béo, gầy, thấp nhỏ, cao dài; chỉ các thể chất và hình thái khác nhau.
各有数, Các hữu số: mỗi loại có phép số, độ sâu, thời gian, số lần châm khác nhau.
年质壮大, Niên chất tráng đại: tuổi và thể chất đều mạnh.
血气充盈, Huyết khí sung doanh: huyết khí đầy đủ.
肤革坚固, Phu cách kiên cố: da và lớp bì phu chắc bền.
深而留之, Thâm nhi lưu chi: châm sâu và lưu kim lâu.
肥人, Phì nhân: người béo, hình thể đầy, da thịt dày.
广肩腋项, Quảng kiên dịch hạng: vai, nách, gáy cổ rộng lớn.
唇临临然, Thần lâm lâm nhiên: môi đầy, dày, trề ra.
血黑以浊, Huyết hắc dĩ trọc: huyết sẫm và đục.
气涩以迟, Khí sáp dĩ trì: khí rít trệ và chậm.
多益其数, Đa ích kỳ số: tăng thêm số châm, số lần hoặc thời gian lưu kim.
4
黄帝曰:刺瘦人奈何?歧伯曰:瘦人者,皮薄色少,肉廉廉然,薄唇轻言,其血清气滑,易脱于气,易损于血,刺此者,浅而疾之。
Hoàng Đế viết: Thích sấu nhân nại hà? Kỳ Bá viết: Sấu nhân giả, bì bạc sắc thiểu, nhục liêm liêm nhiên, bạc thần khinh ngôn, kỳ huyết thanh khí hoạt, dị thoát ư khí, dị tổn ư huyết, thích thử giả, thiển nhi tật chi.
Hoàng Đế hỏi: Châm người gầy thì thế nào?
Kỳ Bá nói: Người gầy thì da mỏng, sắc ít, thịt gầy mảnh, môi mỏng, nói nhẹ. Huyết của họ trong, khí của họ hoạt lợi; dễ thoát khí, dễ tổn huyết. Châm loại người này nên châm nông và nhanh.
Giải thích từ ngữ
瘦人, Sấu nhân: người gầy, da thịt mỏng, khí huyết dễ hao.
皮薄, Bì bạc: da mỏng.
色少, Sắc thiểu: sắc khí ít, không đầy.
肉廉廉然, Nhục liêm liêm nhiên: thịt mỏng, gầy, không đầy đặn.
薄唇, Bạc thần: môi mỏng.
轻言, Khinh ngôn: nói nhẹ, hơi khí không mạnh.
血清气滑, Huyết thanh khí hoạt: huyết trong, khí đi trơn lợi.
易脱于气, Dị thoát ư khí: dễ bị thoát khí nếu châm quá mạnh.
易损于血, Dị tổn ư huyết: dễ tổn huyết nếu châm sâu hoặc lưu lâu.
浅而疾之, Thiển nhi tật chi: châm nông, rút nhanh.
5
黄帝曰:刺常人奈何?歧伯曰:视其白黑,各为调之,其端正敦厚者,其血气和调,刺此者,无失常数也。
Hoàng Đế viết: Thích thường nhân nại hà? Kỳ Bá viết: Thị kỳ bạch hắc, các vi điều chi, kỳ đoan chính đôn hậu giả, kỳ huyết khí hòa điều, thích thử giả, vô thất thường số dã.
Hoàng Đế hỏi: Châm người bình thường thì thế nào?
Kỳ Bá nói: Xem sắc trắng hay đen của họ mà điều chỉnh riêng. Người hình thể đoan chính, dày dặn, huyết khí hòa điều; châm loại người này thì không được làm sai phép số thường.
Giải thích từ ngữ
常人, Thường nhân: người bình thường, không quá béo, không quá gầy, khí huyết tương đối điều hòa.
视其白黑, Thị kỳ bạch hắc: xem sắc da trắng hay đen để biết khí huyết thanh trọc, hàn nhiệt, dày mỏng.
端正敦厚, Đoan chính đôn hậu: hình thể ngay ngắn, đầy đặn, chắc bền.
血气和调, Huyết khí hòa điều: huyết và khí điều hòa.
常数, Thường số: phép số bình thường của châm, gồm độ sâu, thời gian lưu kim, số lần.
6
黄帝曰:刺壮士真骨者,奈何?歧伯曰:刺壮士真骨,坚肉缓节,监监然,此人重则气涩血浊,刺此者,深而留之,多益其数;劲则气滑血清,刺此者,浅而疾之。
Hoàng Đế viết: Thích tráng sĩ chân cốt giả, nại hà? Kỳ Bá viết: Thích tráng sĩ chân cốt, kiên nhục hoãn tiết, giám giám nhiên, thử nhân trọng tắc khí sáp huyết trọc, thích thử giả, thâm nhi lưu chi, đa ích kỳ số; kính tắc khí hoạt huyết thanh, thích thử giả, thiển nhi tật chi.
Hoàng Đế hỏi: Châm người tráng sĩ có chân cốt thì thế nào?
Kỳ Bá nói: Châm người tráng sĩ chân cốt, thịt chắc, khớp rộng, dáng mạnh mẽ. Nếu người ấy nặng nề thì khí sáp, huyết trọc; châm loại này nên châm sâu, lưu kim, tăng thêm số. Nếu người ấy rắn mạnh, linh hoạt thì khí hoạt, huyết trong; châm loại này nên châm nông và nhanh.
Giải thích từ ngữ
壮士, Tráng sĩ: người khỏe mạnh, thân thể cường tráng.
真骨, Chân cốt: xương thật chắc, cốt cách rõ và mạnh.
坚肉, Kiên nhục: cơ thịt chắc.
缓节, Hoãn tiết: khớp rộng, không co bó.
监监然, Giám giám nhiên: dáng vững, nổi bật, mạnh mẽ.
重, Trọng: nặng nề, trì trệ, thân thể nặng.
气涩血浊, Khí sáp huyết trọc: khí rít trệ, huyết đục.
劲, Kính: mạnh, rắn, linh hoạt.
气滑血清, Khí hoạt huyết thanh: khí đi trơn lợi, huyết trong.
7
黄帝曰:刺婴儿奈何?歧伯曰:婴儿者,其肉脆,血少气弱,刺此者,以豪刺,浅刺而疾拔针,日再可也。
Hoàng Đế viết: Thích anh nhi nại hà? Kỳ Bá viết: Anh nhi giả, kỳ nhục thúy, huyết thiểu khí nhược, thích thử giả, dĩ hào thích, thiển thích nhi tật bạt châm, nhật tái khả dã.
Hoàng Đế hỏi: Châm trẻ nhỏ thì thế nào?
Kỳ Bá nói: Trẻ nhỏ thịt mềm non, huyết ít, khí yếu. Châm loại này dùng hào châm, châm nông rồi rút kim nhanh; mỗi ngày hai lần là được.
Giải thích từ ngữ
婴儿, Anh nhi: trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh hoặc trẻ còn rất bé.
肉脆, Nhục thúy: thịt non mềm, dễ tổn thương.
血少气弱, Huyết thiểu khí nhược: huyết ít, khí yếu.
豪刺, Hào thích: dùng kim rất nhỏ, nhẹ như lông tơ; cũng có thể hiểu là phép châm rất tinh tế, nhẹ.
浅刺, Thiển thích: châm nông.
疾拔针, Tật bạt châm: rút kim nhanh.
日再可也, Nhật tái khả dã: mỗi ngày hai lần là vừa, không nên quá mức.
8
黄帝曰:临深决水,奈何?歧伯曰:血清气浊,疾写之则气竭焉。黄帝曰:循拙决冲,奈何?歧伯曰:血浊气涩,疾写之,则经可通也。
Hoàng Đế viết: Lâm thâm quyết thủy, nại hà? Kỳ Bá viết: Huyết thanh khí trọc, tật tả chi tắc khí kiệt yên. Hoàng Đế viết: Tuần chuyết quyết xung, nại hà? Kỳ Bá viết: Huyết trọc khí sáp, tật tả chi, tắc kinh khả thông dã.
Hoàng Đế hỏi: “Đứng trước chỗ sâu mà tháo nước” là thế nào?
Kỳ Bá nói: Huyết trong mà khí đục, nếu tả nhanh thì khí sẽ kiệt.
Hoàng Đế hỏi: “Theo chỗ bế mà khai thông xung” là thế nào?
Kỳ Bá nói: Huyết đục, khí sáp, nếu tả nhanh thì kinh có thể thông.
Giải thích từ ngữ
血清气浊, Huyết thanh khí trọc: huyết còn trong, nhưng khí đục trệ.
疾写之则气竭, Tật tả chi tắc khí kiệt: tả nhanh quá làm khí hao kiệt; không phải mọi chứng trệ đều nên tả mạnh.
血浊气涩, Huyết trọc khí sáp: huyết đục, khí rít trệ, kinh mạch bế tắc.
疾写之则经可通, Tật tả chi tắc kinh khả thông: trong trường hợp thực trệ rõ, tả nhanh có thể thông kinh.
9
黄帝曰:脉行之逆顺,奈何?歧伯曰:手之三阴,从藏走手;手之三阳,从手走头;足之三阳,从头走足;足之三阴,从足走腹。
Hoàng Đế viết: Mạch hành chi nghịch thuận, nại hà? Kỳ Bá viết: Thủ chi tam âm, tòng tạng tẩu thủ; thủ chi tam dương, tòng thủ tẩu đầu; túc chi tam dương, tòng đầu tẩu túc; túc chi tam âm, tòng túc tẩu phúc.
Hoàng Đế hỏi: Sự nghịch thuận của đường đi mạch là thế nào?
Kỳ Bá nói: Ba kinh âm ở tay đi từ tạng ra tay. Ba kinh dương ở tay đi từ tay lên đầu. Ba kinh dương ở chân đi từ đầu xuống chân. Ba kinh âm ở chân đi từ chân lên bụng.
Giải thích từ ngữ
手之三阴, Thủ chi tam âm: Thủ Thái âm Phế, Thủ Quyết âm Tâm bào, Thủ Thiếu âm Tâm.
从藏走手, Tòng tạng tẩu thủ: từ tạng đi ra tay.
手之三阳, Thủ chi tam dương: Thủ Dương minh Đại trường, Thủ Thiếu dương Tam tiêu, Thủ Thái dương Tiểu trường.
从手走头, Tòng thủ tẩu đầu: từ tay đi lên đầu.
足之三阳, Túc chi tam dương: Túc Dương minh Vị, Túc Thiếu dương Đởm, Túc Thái dương Bàng quang.
从头走足, Tòng đầu tẩu túc: từ đầu đi xuống chân.
足之三阴, Túc chi tam âm: Túc Thái âm Tỳ, Túc Quyết âm Can, Túc Thiếu âm Thận.
从足走腹, Tòng túc tẩu phúc: từ chân đi lên bụng.
10
黄帝曰:少阴之脉独下行,何也?歧伯曰:不然,夫冲脉者,五藏六府之海也,五藏六府皆禀焉。其上者,出于颃颡,渗诸阳,灌诸精;其下者,注少阴之大络,出于气街,循阴股内廉入膕中,伏行骭骨内,下至内踝之后属而别。其下者,并于少阴之经,渗三阴;其前者,伏行出跗属,下循跗,入大指间,渗诸络而温肌肉。故别络结则附上不动,不动则厥,厥则寒矣。黄帝曰:何以明之?歧伯曰:以言导之,切而验之,其非必动,然后仍可明逆顺之行也。黄帝曰:窘乎哉!圣人之为道也。明于日月,微于毫厘,其非夫子,孰能道之也。
Hoàng Đế viết: Thiếu âm chi mạch độc hạ hành, hà dã? Kỳ Bá viết: Bất nhiên, phu Xung mạch giả, ngũ tạng lục phủ chi hải dã, ngũ tạng lục phủ giai bẩm yên. Kỳ thượng giả, xuất ư hàng tảng, thấm chư dương, quán chư tinh; kỳ hạ giả, chú Thiếu âm chi đại lạc, xuất ư Khí nhai, tuần âm cổ nội liêm nhập quắc trung, phục hành hãn cốt nội, hạ chí nội khoả chi hậu thuộc nhi biệt. Kỳ hạ giả, tịnh ư Thiếu âm chi kinh, thấm tam âm; kỳ tiền giả, phục hành xuất phu thuộc, hạ tuần phu, nhập đại chỉ gian, thấm chư lạc nhi ôn cơ nhục. Cố biệt lạc kết tắc phụ thượng bất động, bất động tắc quyết, quyết tắc hàn hĩ. Hoàng Đế viết: Hà dĩ minh chi? Kỳ Bá viết: Dĩ ngôn đạo chi, thiết nhi nghiệm chi, kỳ phi tất động, nhiên hậu nhưng khả minh nghịch thuận chi hành dã. Hoàng Đế viết: Quẫn hồ tai! Thánh nhân chi vi đạo dã. Minh ư nhật nguyệt, vi ư hào ly, kỳ phi phu tử, thục năng đạo chi dã.
Hoàng Đế hỏi: Vì sao mạch Thiếu âm lại riêng đi xuống?
Kỳ Bá nói: Không phải vậy. Xung mạch là biển của ngũ tạng lục phủ, ngũ tạng lục phủ đều nhận sự nuôi dưỡng từ đó.
Nhánh đi lên của nó ra ở vùng Hàng tảng, thấm nhuận các dương kinh, tưới nuôi các tinh khí. Nhánh đi xuống của nó rót vào đại lạc của Thiếu âm, ra ở Khí nhai, theo bờ trong đùi, vào giữa khoeo, đi ẩn bên trong xương ống chân, xuống đến sau mắt cá trong rồi liên thuộc và phân nhánh. Nhánh đi xuống ấy đi cùng kinh Thiếu âm, thấm vào ba kinh âm. Nhánh phía trước đi ẩn, ra ở vùng mu bàn chân, xuống theo mu bàn chân, vào khoảng ngón cái, thấm vào các lạc mạch mà làm ấm cơ nhục.
Vì vậy, nếu biệt lạc bị kết thì phần trên mắt cá không động; không động thì thành quyết; quyết thì lạnh.
Hoàng Đế hỏi: Làm sao làm sáng tỏ điều ấy?
Kỳ Bá nói: Dùng lời mà dẫn, dùng tay ấn nắn để nghiệm. Nếu chỗ ấy không thông thì tất có động ứng; sau đó mới có thể sáng tỏ đường đi nghịch thuận.
Hoàng Đế nói: Sâu kín thay! Đạo của thánh nhân sáng như mặt trời mặt trăng, mà vi tế đến từng hào ly. Nếu không phải thầy, ai có thể nói được điều ấy?
Giải thích từ ngữ
少阴之脉独下行, Thiếu âm chi mạch độc hạ hành: Hoàng Đế nghi rằng mạch Thiếu âm riêng đi xuống, trái với quy luật thường.
冲脉, Xung mạch: kỳ kinh, được gọi là biển của ngũ tạng lục phủ, biển của mười hai kinh.
五藏六府之海, Ngũ tạng lục phủ chi hải: nơi khí huyết của tạng phủ quy tụ và được nuôi dưỡng.
颃颡, Hàng tảng: vùng sau mũi, trên họng, thông lên đầu.
渗诸阳, Thấm chư dương: thấm nhuận các dương kinh.
灌诸精, Quán chư tinh: tưới nuôi tinh khí.
少阴之大络, Thiếu âm chi đại lạc: lạc mạch lớn của kinh Thiếu âm.
气街, Khí nhai: vùng bẹn, nơi khí của bụng và chi dưới giao hội.
阴股内廉, Âm cổ nội liêm: bờ trong của đùi.
膕中, Quắc trung: giữa khoeo chân.
骭骨, Hãn cốt: xương ống chân, xương chày.
内踝, Nội khoả: mắt cá trong.
并于少阴之经, Tịnh ư Thiếu âm chi kinh: đi cùng với kinh Thiếu âm.
渗三阴, Thấm tam âm: thấm vào ba kinh âm ở chân.
跗, Phu: mu bàn chân.
大指间, Đại chỉ gian: khoảng ngón chân cái.
别络结, Biệt lạc kết: lạc mạch nhánh bị kết tắc.
附上不动, Phụ thượng bất động: vùng phía trên mắt cá không động, khí huyết không thông.
厥, Quyết: khí không thông đến, âm dương không tiếp nhau, có thể lạnh hoặc mất vận động.
以言导之, Dĩ ngôn đạo chi: dùng lời hướng dẫn người bệnh, chỉ đường vận hành hoặc khiến họ cảm nhận.
切而验之, Thiết nhi nghiệm chi: ấn nắn để kiểm nghiệm.
毫厘, Hào ly: đơn vị rất nhỏ, ví sự vi tế của đạo lý kinh mạch.
Kết luận
Thiên Nghịch thuận phì sấu《逆顺肥瘦》 dạy rằng châm pháp không thể chỉ dựa vào một công thức, mà phải có phép đo, có chuẩn mực, như thợ dùng thước, dây mực, compa, thước vuông. Người béo, da thịt dày, khí sáp huyết trọc thì nên châm sâu, lưu kim, có thể tăng số. Người gầy, da mỏng, huyết trong khí hoạt, dễ thoát khí tổn huyết thì nên châm nông và nhanh. Người bình thường thì giữ phép số thường. Tráng sĩ cũng phải phân loại: nặng trệ thì châm sâu lưu lâu; mạnh mà khí huyết thanh hoạt thì châm nông nhanh. Trẻ nhỏ huyết ít khí yếu, da thịt non mềm, chỉ nên dùng kim nhỏ, châm nông, rút nhanh. Thiên này còn nhắc quy luật thuận hành của mười hai kinh và làm rõ vai trò của Xung mạch, vốn là biển của ngũ tạng lục phủ, đi lên tưới dương và tinh, đi xuống nhập Thiếu âm, thấm ba âm, ra bàn chân để ôn cơ nhục. Ý chính là: phép châm phải thuận tự nhiên, xét hình thể, khí huyết, thanh trọc, hoạt sáp, già trẻ, béo gầy, mạnh yếu; nếu biết đúng nghịch thuận thì châm mới không làm tổn chính khí mà lại thông được kinh mạch.