Bàn về huyết lạc và các biến hóa khi chích huyết
1
黄帝曰:愿闻其奇邪而不在经者。歧伯曰:血络是也。
Hoàng Đế viết: Nguyện văn kỳ kỳ tà nhi bất tại kinh giả. Kỳ Bá viết: Huyết lạc thị dã.
Hoàng Đế nói: Ta muốn nghe về loại kỳ tà không ở trong kinh mạch chính.
Kỳ Bá đáp: Đó là huyết lạc.
Giải thích từ ngữ
血络, Huyết lạc: lạc mạch có huyết ứ hoặc huyết khí hiện rõ; thường là mạch nhỏ ở ngoài kinh chính, có thể thấy nổi lên, đỏ, cứng, đầy.
奇邪, Kỳ tà: tà lạ, tà không theo đường bệnh thường, không ở ngay kinh chính.
不在经, Bất tại kinh: không ở trong đường kinh chính, mà ở lạc mạch, huyết lạc hoặc vùng nông hơn.
2
黄帝曰:刺血络而仆者,何也?血出而射者,何也?血少黑而浊者,何也?血出清而半为汁者,何也?拔针而肿者,何也?血出若多若少而面色苍苍者,何也?拔针而面色不变而烦悗者,何也?多出血而不动摇者,何也?愿闻其故。
Hoàng Đế viết: Thích huyết lạc nhi phó giả, hà dã? Huyết xuất nhi xạ giả, hà dã? Huyết thiểu hắc nhi trọc giả, hà dã? Huyết xuất thanh nhi bán vi trấp giả, hà dã? Bạt châm nhi thũng giả, hà dã? Huyết xuất nhược đa nhược thiểu nhi diện sắc thương thương giả, hà dã? Bạt châm nhi diện sắc bất biến nhi phiền muộn giả, hà dã? Đa xuất huyết nhi bất động dao giả, hà dã? Nguyện văn kỳ cố.
Hoàng Đế hỏi: Châm huyết lạc mà người bệnh ngã lăn là vì sao? Máu ra mà bắn vọt là vì sao? Máu ra ít, đen và đục là vì sao? Máu ra trong mà một nửa như nước dịch là vì sao? Rút kim rồi sưng là vì sao? Máu ra hoặc nhiều hoặc ít mà sắc mặt xanh xám là vì sao? Rút kim rồi sắc mặt không đổi nhưng người bệnh phiền muộn là vì sao? Máu ra nhiều mà người bệnh không lay động, không choáng váng là vì sao? Ta muốn nghe nguyên do.
Giải thích từ ngữ
刺血络, Thích huyết lạc: châm vào huyết lạc để cho huyết ra, tức phép chích huyết.
仆, Phó: ngã lăn, ngất, choáng ngã.
血出而射, Huyết xuất nhi xạ: máu ra bắn vọt, do huyết khí thịnh hoặc mạch khí mạnh.
血少黑而浊, Huyết thiểu hắc nhi trọc: máu ít, đen, đục; thường biểu hiện ứ trệ lâu ngày.
半为汁, Bán vi trấp: một nửa giống nước dịch, huyết và dịch chưa hòa hợp.
拔针而肿, Bạt châm nhi thũng: rút kim rồi sưng lên.
面色苍苍, Diện sắc thương thương: sắc mặt xanh xám, nhợt tối.
烦悗, Phiền muộn: trong người bứt rứt, khó chịu, tâm khí không yên.
不动摇, Bất động dao: không choáng, không lay động, không ngã.
3
歧伯曰:脉气盛而血虚者,刺之则脱气,脱气则仆。
Kỳ Bá viết: Mạch khí thịnh nhi huyết hư giả, thích chi tắc thoát khí, thoát khí tắc phó.
Kỳ Bá nói: Mạch khí thịnh mà huyết hư, châm vào thì khí thoát; khí thoát thì người bệnh ngã lăn.
Giải thích từ ngữ
脉气盛, Mạch khí thịnh: khí trong mạch biểu hiện mạnh, mạch có vẻ thịnh.
血虚, Huyết hư: huyết không đủ, không giữ và nuôi được khí.
脱气, Thoát khí: khí thoát ra, chính khí đột nhiên suy, dễ gây choáng ngất.
气脱则仆, Khí thoát tắc phó: khí thoát thì người bệnh ngã, vì khí không nâng đỡ được thần và hình.
4
血气俱盛而阴气多者,其血滑,刺之则射;阳气蓄积,久留而不写者,其血黑以浊,故不能射。
Huyết khí câu thịnh nhi âm khí đa giả, kỳ huyết hoạt, thích chi tắc xạ; dương khí súc tích, cửu lưu nhi bất tả giả, kỳ huyết hắc dĩ trọc, cố bất năng xạ.
Huyết và khí đều thịnh mà âm khí nhiều, thì huyết trơn lợi; châm vào thì máu bắn vọt ra. Dương khí tích chứa, lưu lâu mà không được tả, thì huyết đen và đục, cho nên không thể bắn vọt.
Giải thích từ ngữ
血气俱盛, Huyết khí câu thịnh: huyết và khí đều đầy.
阴气多, Âm khí đa: âm khí nhiều, huyết phần đầy, có sức đẩy ra.
血滑, Huyết hoạt: huyết trơn, dễ chảy.
刺之则射, Thích chi tắc xạ: châm vào thì huyết phun bắn.
阳气蓄积, Dương khí súc tích: dương khí tích lại, uất lâu.
久留而不写, Cửu lưu nhi bất tả: lưu lâu mà không được tả ra.
血黑以浊, Huyết hắc dĩ trọc: huyết đen và đục, thường do ứ lâu.
不能射, Bất năng xạ: không bắn vọt, vì huyết trệ, đặc, không hoạt.
5
新饮而液渗于络,而未合和于血也,故血出而汁别焉;其不新饮者,身中有水,久则为肿。
Tân ẩm nhi dịch thấm ư lạc, nhi vị hợp hòa ư huyết dã, cố huyết xuất nhi trấp biệt yên; kỳ bất tân ẩm giả, thân trung hữu thủy, cửu tắc vi thũng.
Mới uống nước, dịch thấm vào lạc mạch nhưng chưa hòa hợp với huyết, cho nên khi huyết ra thì nước dịch tách riêng. Nếu không phải mới uống mà vẫn có hiện tượng ấy, là trong thân vốn có thủy; lâu ngày thì thành sưng phù.
Giải thích từ ngữ
新饮, Tân ẩm: vừa mới uống nước.
液渗于络, Dịch thấm ư lạc: dịch thấm vào lạc mạch.
未合和于血, Vị hợp hòa ư huyết: chưa hòa hợp với huyết.
血出而汁别, Huyết xuất nhi trấp biệt: huyết ra mà nước dịch tách riêng.
身中有水, Thân trung hữu thủy: trong thân có thủy thấp đình lại.
久则为肿, Cửu tắc vi thũng: lâu ngày thì sinh sưng phù.
6
阴气积于阳,其气因于络,故刺之血未出而气先行,故肿。
Âm khí tích ư dương, kỳ khí nhân ư lạc, cố thích chi huyết vị xuất nhi khí tiên hành, cố thũng.
Âm khí tích ở phần dương, khí ấy nương theo lạc mạch. Vì vậy khi châm, huyết chưa ra mà khí đã đi trước, cho nên sinh sưng.
Giải thích từ ngữ
阴气积于阳, Âm khí tích ư dương: âm khí tích lại ở phần dương, âm dương không ở đúng vị trí.
气因于络, Khí nhân ư lạc: khí nương theo lạc mạch mà động.
血未出而气先行, Huyết vị xuất nhi khí tiên hành: huyết chưa ra mà khí đã chạy trước.
故肿, Cố thũng: vì khí và dịch bị đẩy ra, không thoát cùng huyết, nên sưng.
7
阴阳之气,其新相得而未和合,因而写之,则阴阳俱脱,表里相离,故脱色而苍苍然。
Âm dương chi khí, kỳ tân tương đắc nhi vị hòa hợp, nhân nhi tả chi, tắc âm dương câu thoát, biểu lý tương ly, cố thoát sắc nhi thương thương nhiên.
Khí âm dương vừa mới gặp nhau mà chưa hòa hợp, nhân lúc ấy lại tả, thì âm dương đều thoát, biểu lý lìa nhau, cho nên mất sắc mà xanh xám.
Giải thích từ ngữ
新相得, Tân tương đắc: vừa mới gặp nhau, vừa mới tương giao.
未和合, Vị hòa hợp: chưa hòa hợp ổn định.
因而写之, Nhân nhi tả chi: nhân lúc ấy mà tả, chích huyết hoặc châm tả quá mức.
阴阳俱脱, Âm dương câu thoát: âm và dương đều thoát.
表里相离, Biểu lý tương ly: phần ngoài và phần trong rời nhau, chính khí mất sự liên hệ.
脱色, Thoát sắc: sắc mặt mất đi vẻ bình thường.
苍苍然, Thương thương nhiên: xanh xám, tối nhợt, biểu hiện khí huyết suy thoát.
8
刺之血出多,色不变而烦悗者,刺络而虚经,虚经之属于阴者,阴脱,故烦悗。
Thích chi huyết xuất đa, sắc bất biến nhi phiền muộn giả, thích lạc nhi hư kinh, hư kinh chi thuộc ư âm giả, âm thoát, cố phiền muộn.
Châm mà huyết ra nhiều, sắc mặt không đổi nhưng người bệnh phiền muộn, là do châm lạc làm kinh bị hư. Kinh bị hư ấy thuộc âm, âm thoát nên sinh phiền muộn.
Giải thích từ ngữ
血出多, Huyết xuất đa: máu ra nhiều.
色不变, Sắc bất biến: sắc mặt không đổi rõ.
刺络而虚经, Thích lạc nhi hư kinh: châm vào lạc nhưng làm tổn hư kinh chính.
虚经之属于阴, Hư kinh chi thuộc ư âm: kinh bị hư thuộc phần âm.
阴脱, Âm thoát: âm khí, âm huyết hao thoát.
烦悗, Phiền muộn: bứt rứt khó chịu do âm bị tổn, thần không yên.
9
阴阳相得而合为痹者,此为内溢于经,外注于络。如是者,阴阳俱有馀,虽多出血而弗能虚也。
Âm dương tương đắc nhi hợp vi tý giả, thử vi nội dật ư kinh, ngoại chú ư lạc. Như thị giả, âm dương câu hữu dư, tuy đa xuất huyết nhi phất năng hư dã.
Âm dương gặp nhau mà hợp lại thành tý, đó là bên trong tràn vào kinh, bên ngoài rót vào lạc. Trường hợp như vậy, âm dương đều hữu dư, tuy cho ra nhiều huyết cũng không làm hư được.
Giải thích từ ngữ
合为痹, Hợp vi tý: hợp lại thành chứng tý, tức bế tắc đau nhức.
内溢于经, Nội dật ư kinh: bên trong tràn vào kinh chính.
外注于络, Ngoại chú ư lạc: bên ngoài rót vào lạc mạch.
阴阳俱有馀, Âm dương câu hữu dư: âm dương đều thừa, tà thực đầy.
多出血而弗能虚, Đa xuất huyết nhi phất năng hư: cho ra nhiều huyết mà vẫn không làm người bệnh hư, vì tà thực, huyết khí đều thịnh.
10
黄帝曰:相之奈何?歧伯曰:血脉者,盛坚横以赤,上下无常处,小者如针,大者如筋,则而写之万全也,故无失数矣。失数而反,各如其度。
Hoàng Đế viết: Tướng chi nại hà? Kỳ Bá viết: Huyết mạch giả, thịnh kiên hoành dĩ xích, thượng hạ vô thường xứ, tiểu giả như châm, đại giả như cân, tắc nhi tả chi vạn toàn dã, cố vô thất số hĩ. Thất số nhi phản, các như kỳ độ.
Hoàng Đế hỏi: Quan sát huyết lạc như thế nào?
Kỳ Bá nói: Huyết mạch thịnh, cứng, chạy ngang và đỏ; trên dưới không có chỗ cố định; nhỏ thì như cây kim, lớn thì như sợi gân. Theo đó mà tả, thì vạn toàn. Vì vậy không được làm sai phép số. Nếu làm sai phép số mà trái lại, thì mỗi chứng sẽ phát theo mức độ riêng của nó.
Giải thích từ ngữ
相之, Tướng chi: xem xét, quan sát hình trạng.
血脉盛坚, Huyết mạch thịnh kiên: huyết mạch đầy, cứng.
横以赤, Hoành dĩ xích: chạy ngang và đỏ.
上下无常处, Thượng hạ vô thường xứ: vị trí trên dưới không cố định.
小者如针,大者如筋, Tiểu giả như châm, đại giả như cân: lạc nhỏ như kim, lạc lớn như gân.
则而写之, Tắc nhi tả chi: theo đúng hình trạng ấy mà chích huyết, tả tà.
万全, Vạn toàn: rất an toàn, không sai.
无失数, Vô thất số: không sai phép số, không sai lượng châm và lượng huyết ra.
失数而反, Thất số nhi phản: sai phép số, làm ngược lại.
各如其度, Các như kỳ độ: mỗi chứng sẽ biểu hiện theo mức độ tổn hại tương ứng.
11
黄帝曰:针入而肉著者,何也?歧伯曰:热气因于针,则针热,热则内著于针,故坚焉。
Hoàng Đế viết: Châm nhập nhi nhục trước giả, hà dã? Kỳ Bá viết: Nhiệt khí nhân ư châm, tắc châm nhiệt, nhiệt tắc nội trước ư châm, cố kiên yên.
Hoàng Đế hỏi: Kim vào mà thịt dính vào kim là vì sao?
Kỳ Bá nói: Nhiệt khí theo kim, khiến kim nóng. Kim nóng thì bên trong thịt dính vào kim, cho nên cảm thấy chắc chặt.
Giải thích từ ngữ
针入而肉著, Châm nhập nhi nhục trước: kim châm vào mà thịt bám dính, kéo rít, khó động kim.
热气因于针, Nhiệt khí nhân ư châm: nhiệt khí theo kim mà tụ.
针热, Châm nhiệt: kim có cảm giác nóng do nhiệt khí tụ vào.
内著于针, Nội trước ư châm: bên trong thịt bám vào kim.
坚, Kiên: chắc, chặt, khó xoay chuyển, biểu hiện tà nhiệt hoặc khí huyết bám kết.
Kết luận
Thiên Huyết lạc luận《血络论》 bàn về huyết lạc, tức những lạc mạch có huyết khí hiện rõ, thường không nằm ngay trong kinh chính. Khi chích huyết lạc, phản ứng của người bệnh tùy vào khí huyết hư thực, thanh trọc, âm dương hòa hay chưa hòa. Mạch khí thịnh mà huyết hư thì châm dễ thoát khí, người bệnh ngất. Huyết khí đều thịnh, huyết hoạt thì máu có thể bắn vọt. Dương khí tích lâu không tả thì huyết đen đục, không bắn. Mới uống nước, dịch chưa hòa với huyết thì máu ra kèm nước dịch tách riêng; nếu không mới uống mà vẫn như vậy thì trong thân có thủy, lâu ngày dễ phù. Nếu âm dương vừa giao mà chưa hòa, lại tả vội, thì âm dương đều thoát, sắc mặt xanh xám. Nhưng nếu âm dương đều hữu dư, trong tràn vào kinh, ngoài rót vào lạc mà thành tý, thì dù ra nhiều huyết cũng chưa làm hư. Vì vậy, chích huyết phải xem đúng huyết lạc: đầy, cứng, đỏ, ngang, nhỏ như kim, lớn như gân; đúng thì an toàn, sai phép số thì tổn hại. Ý chính là: phép chích huyết không chỉ là cho máu ra, mà phải xét khí huyết hư thực, âm dương hòa hay nghịch, có thủy hay không, huyết thanh hay trọc, rồi mới quyết định tả nhiều hay ít.