Bàn về các chứng đau
Câu 1
《举痛论》
黄帝问曰:余闻善言天者,必有验于人;善言古者,必有合于今;善言人者,必有厌于己。如此,则道不惑而要数极,所谓明也。今余问于夫子,令言而可知,视而可见,扪而可得,令验于己而发蒙解惑,可得而闻乎。歧伯再拜稽首对曰:何道之问也。
Hán Việt
Cử Thống luận.
Hoàng Đế vấn viết: Dư văn thiện ngôn thiên giả, tất hữu nghiệm vu nhân; thiện ngôn cổ giả, tất hữu hợp vu kim; thiện ngôn nhân giả, tất hữu yếm vu kỷ. Như thử, tắc đạo bất hoặc nhi yếu số cực, sở vị minh dã.
Kim dư vấn vu phu tử, linh ngôn nhi khả tri, thị nhi khả kiến, môn nhi khả đắc, linh nghiệm vu kỷ nhi phát mông giải hoặc, khả đắc nhi văn hồ?
Kỳ Bá tái bái khể thủ đối viết: Hà đạo chi vấn dã.
Dịch nghĩa
Cử Thống luận.
Hoàng Đế hỏi:
Ta nghe rằng người giỏi nói về trời thì tất phải có chứng nghiệm ở con người; người giỏi nói về xưa thì tất phải hợp với nay; người giỏi nói về người khác thì tất phải nghiệm lại nơi chính mình.
Được như vậy thì đạo không còn mê hoặc, những yếu lĩnh và con số của đạo đạt đến chỗ cùng cực, đó gọi là sáng rõ.
Nay ta hỏi phu tử, mong lời nói ra có thể hiểu được, nhìn thì có thể thấy được, sờ thì có thể nắm được; khiến điều ấy nghiệm được ở chính mình, mở chỗ ngu tối, giải điều nghi hoặc. Có thể được nghe chăng?
Kỳ Bá lạy hai lạy, cúi đầu sát đất mà đáp:
Đây là câu hỏi về đạo gì vậy!
Giải thích từ ngữ
Cử thống (举痛): “cử” là nêu lên, gom lại để bàn; “thống” là đau. Cử Thống luận là thiên bàn tổng quát về các loại đau, nguyên nhân, hình trạng và cách phân biệt.
Thiện ngôn thiên, nghiệm vu nhân (善言天,验于人): nói về trời đất, âm dương, khí hóa, nhưng phải có thể chứng nghiệm trong thân người.
Thiện ngôn cổ, hợp vu kim (善言古,合于今): hiểu cổ đạo nhưng phải có thể ứng dụng vào hiện tại.
Thiện ngôn nhân, yếm vu kỷ (善言人,厌于己): nói về người thì phải tự nghiệm nơi mình, không nói suông.
Ngôn nhi khả tri, thị nhi khả kiến, môn nhi khả đắc (言而可知,视而可见,扪而可得): lời nói có thể hiểu, nhìn có thể thấy, sờ có thể biết. Đây là ba tầng chẩn đoán: nghe lý, quan sát sắc, sờ nắn mạch và thân.
Phát mông giải hoặc (发蒙解惑): mở sự che tối, giải điều nghi ngờ.
Câu 2
帝曰:愿闻人之五藏卒痛,何气使然。歧伯对曰:经脉流行不止,环周不休,寒气入经而稽迟,泣而不行,客于脉外则血少,客于脉中则气不通,故卒然而痛。
Hán Việt
Đế viết: Nguyện văn nhân chi ngũ tạng tốt thống, hà khí sử nhiên?
Kỳ Bá đối viết: Kinh mạch lưu hành bất chỉ, hoàn chu bất hưu. Hàn khí nhập kinh nhi kê trì, sáp nhi bất hành. Khách vu mạch ngoại tắc huyết thiểu; khách vu mạch trung tắc khí bất thông, cố tốt nhiên nhi thống.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta muốn nghe về chứng đau đột ngột ở năm tạng của con người, do khí gì gây nên?
Kỳ Bá đáp:
Kinh mạch lưu hành không ngừng, tuần hoàn quanh thân không nghỉ. Khi hàn khí vào kinh thì làm cho khí huyết chậm trệ, rít sáp mà không lưu hành.
Nếu hàn khí trú ở ngoài mạch thì huyết ít. Nếu trú ở trong mạch thì khí không thông. Vì vậy bỗng nhiên sinh đau.
Giải thích từ ngữ
Ngũ tạng tốt thống (五藏卒痛): đau đột ngột ở vùng liên hệ năm tạng, thường do hàn khí làm khí huyết ngưng trệ.
Kinh mạch lưu hành bất chỉ (经脉流行不止): kinh mạch vốn vận hành liên tục, khí huyết đi không ngừng.
Hàn khí nhập kinh (寒气入经): hàn tà vào kinh mạch, làm co rút, ngưng trệ.
Kê trì, sáp nhi bất hành (稽迟,泣而不行): chậm lại, rít lại, không thông hành. Chữ “泣” ở đây đọc theo nghĩa sáp trệ, không phải khóc.
Khách vu mạch ngoại, khách vu mạch trung (客于脉外,客于脉中): hàn khí trú ngoài mạch hoặc trong mạch. Ngoài mạch thì huyết không đầy đủ; trong mạch thì khí không thông, đều có thể gây đau.
Câu 3
帝曰:其痛或卒然而止者,或痛甚不休者,或痛甚不可按者,或按之而痛止者,或按之无益者,或喘动应手者,或心与背相引而痛者,或脇肋与少腹相引而痛者,或腹痛引阴股者,或痛宿昔而成积者,或卒然痛死不知人,有少闲复生者,或痛而呕者,或腹痛而后泄者,或痛而闭不通者,凡此诸痛,各不同形,别之柰何。
Hán Việt
Đế viết: Kỳ thống hoặc tốt nhiên nhi chỉ giả, hoặc thống thậm bất hưu giả, hoặc thống thậm bất khả án giả, hoặc án chi nhi thống chỉ giả, hoặc án chi vô ích giả, hoặc suyễn động ứng thủ giả, hoặc Tâm dữ bối tương dẫn nhi thống giả, hoặc hiếp lặc dữ thiểu phúc tương dẫn nhi thống giả, hoặc phúc thống dẫn âm cổ giả, hoặc thống túc tích nhi thành tích giả, hoặc tốt nhiên thống tử bất tri nhân, hữu thiểu gian phục sinh giả, hoặc thống nhi ẩu giả, hoặc phúc thống nhi hậu tiết giả, hoặc thống nhi bế bất thông giả. Phàm thử chư thống, các bất đồng hình, biệt chi nại hà?
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Các chứng đau ấy, có khi bỗng nhiên dừng lại; có khi đau dữ dội không thôi; có khi đau dữ dội không thể ấn; có khi ấn vào thì đau dừng; có khi ấn vào không ích gì; có khi có động khí như suyễn, chạm tay thì ứng.
Có khi Tâm và lưng kéo nhau mà đau; có khi hông sườn và bụng dưới kéo nhau mà đau; có khi đau bụng kéo xuống âm bộ và đùi trong; có khi đau lâu ngày qua đêm mà thành tích; có khi đột ngột đau đến như chết, không biết người, một lát sau lại sống lại.
Có khi đau mà nôn; có khi đau bụng rồi sau đó tiêu chảy; có khi đau mà bế tắc không thông.
Phàm các chứng đau ấy, hình trạng đều không giống nhau. Phải phân biệt như thế nào?
Giải thích từ ngữ
Tốt nhiên nhi chỉ (卒然而止): đau bỗng nhiên dừng, thường do hàn tà nông, gặp ấm thì tan.
Thống thậm bất hưu (痛甚不休): đau dữ dội không dừng, thường do hàn khí lưu lại sâu hoặc chính tà giao tranh mạnh.
Bất khả án (不可按): không thể ấn, ấn vào đau tăng, thường nghiêng về thực, khí huyết đầy bế.
Án chi thống chỉ (按之痛止): ấn vào thì đau giảm, thường do khí huyết tán ra khi được ấn, hoặc hàn tà ở nông, được ấm và thông.
Suyễn động ứng thủ (喘动应手): dưới tay có cảm giác động, khí xung, liên hệ Xung mạch hoặc khí nghịch.
Túc tích thành tích (宿昔而成积): đau lưu lại lâu ngày, khí huyết kết tụ thành tích khối.
Tốt nhiên thống tử bất tri nhân (卒然痛死不知人): đau đột ngột dữ dội đến mức ngất, không biết người.
Bế bất thông (闭不通): đại tiện, tiểu tiện hoặc khí cơ bế tắc không thông.
Câu 4
歧伯曰:寒气客于脉外,则脉寒,脉寒则缩蜷,缩蜷则脉绌急,则外引小络,故卒然而痛,得炅则痛立止,因重中于寒,则痛久矣。寒气客于经脉之中,与炅气相薄,则脉满,满则痛而不可按也。寒气稽留,炅气从上,则脉充大而血气乱,故痛甚不可按也。寒气客于肠胃之闲,膜原之下,血不得散,小络急引故痛,按之则血气散,故按之痛止。寒气客于侠脊之脉,则深按之不能及,故按之无益也。寒气客于冲脉,冲脉起于关元,随腹直上,寒气客则脉不通,脉不通则气因之,故喘动应手矣。寒气客于背俞之脉则脉泣,脉泣则血虚,血虚则痛,其俞注于心,故相引而痛,按之则热气至,热气至则痛止矣。
Hán Việt
Kỳ Bá viết: Hàn khí khách vu mạch ngoại, tắc mạch hàn. Mạch hàn tắc súc quyền, súc quyền tắc mạch truất cấp, tắc ngoại dẫn tiểu lạc, cố tốt nhiên nhi thống. Đắc quýnh tắc thống lập chỉ; nhân trùng trúng vu hàn, tắc thống cửu hĩ.
Hàn khí khách vu kinh mạch chi trung, dữ quýnh khí tương bạc, tắc mạch mãn; mãn tắc thống nhi bất khả án dã. Hàn khí kê lưu, quýnh khí tòng thượng, tắc mạch sung đại nhi huyết khí loạn, cố thống thậm bất khả án dã.
Hàn khí khách vu Trường Vị chi gian, mạc nguyên chi hạ, huyết bất đắc tán, tiểu lạc cấp dẫn cố thống. Án chi tắc huyết khí tán, cố án chi thống chỉ.
Hàn khí khách vu hiệp tích chi mạch, tắc thâm án chi bất năng cập, cố án chi vô ích dã.
Hàn khí khách vu Xung mạch. Xung mạch khởi vu Quan nguyên, tùy phúc trực thượng. Hàn khí khách tắc mạch bất thông, mạch bất thông tắc khí nhân chi, cố suyễn động ứng thủ hĩ.
Hàn khí khách vu bối du chi mạch tắc mạch sáp; mạch sáp tắc huyết hư, huyết hư tắc thống. Kỳ du chú vu Tâm, cố tương dẫn nhi thống. Án chi tắc nhiệt khí chí, nhiệt khí chí tắc thống chỉ hĩ.
Dịch nghĩa
Kỳ Bá nói:
Hàn khí trú ở ngoài mạch thì mạch bị lạnh. Mạch lạnh thì co rút cuộn lại; co rút cuộn lại thì mạch bị co gấp, kéo dẫn các tiểu lạc ở ngoài, cho nên bỗng nhiên đau. Gặp hơi ấm thì đau lập tức dừng. Nếu lại bị hàn xâm phạm thêm lần nữa, thì đau sẽ kéo dài.
Hàn khí trú ở trong kinh mạch, cùng với khí nóng chống nhau, thì mạch đầy. Mạch đã đầy thì đau mà không thể ấn.
Hàn khí lưu lại, khí nóng từ trên theo xuống hoặc bức lên, khiến mạch sung đầy, huyết khí rối loạn, cho nên đau dữ dội, không thể ấn.
Hàn khí trú giữa Trường Vị, dưới mạc nguyên, làm huyết không tán được, tiểu lạc bị co kéo gấp nên sinh đau. Khi ấn vào thì huyết khí tản ra, cho nên ấn vào thì đau dừng.
Hàn khí trú ở mạch hai bên cột sống, dù ấn sâu cũng không chạm tới được, cho nên ấn vào không ích gì.
Hàn khí trú ở Xung mạch. Xung mạch khởi từ Quan nguyên, theo bụng đi thẳng lên. Khi hàn khí trú ở đó thì mạch không thông; mạch không thông thì khí cũng theo đó mà nghẽn, cho nên có cảm giác động như suyễn, chạm tay thì ứng.
Hàn khí trú ở mạch bối du thì mạch sáp trệ. Mạch sáp thì huyết hư, huyết hư thì đau. Bối du ấy rót vào Tâm, cho nên Tâm và lưng kéo nhau mà đau. Ấn vào thì nhiệt khí đến; nhiệt khí đến thì đau dừng.
Giải thích từ ngữ
Súc quyền (缩蜷): co rút, cuộn lại. Hàn làm mạch co rút.
Mạch truất cấp (脉绌急): mạch co hẹp, căng gấp.
Đắc quýnh (得炅): được hơi ấm, nhiệt khí. Chữ “炅” là sáng nóng, ở đây chỉ ôn nhiệt.
Kinh mạch chi trung (经脉之中): bên trong kinh mạch, nơi khí huyết đang vận hành chính.
Mạch mãn (脉满): mạch đầy do hàn và nhiệt giao tranh, khí huyết bị bế.
Mạc nguyên (膜原): vùng màng mạc giữa trong ngoài, giữa Trường Vị và cơ nhục; là nơi tà khí có thể lưu trú.
Hiệp tích chi mạch (侠脊之脉): mạch dọc hai bên cột sống, vị trí sâu, nên ấn ngoài da không tới.
Xung mạch (冲脉): một kỳ kinh quan trọng, khởi từ vùng Quan nguyên, đi lên theo bụng, được gọi là biển của huyết.
Quan nguyên (关元): huyệt ở bụng dưới, nơi nguyên khí hội tụ.
Bối du (背俞): huyệt du vùng lưng, liên hệ tạng phủ. Bối du của Tâm liên hệ đau kéo giữa Tâm và lưng.
Câu 5
寒气客于厥阴之脉,厥阴之脉者,络阴器系于肝,寒气客于脉中,则血泣脉急,故脇肋与少腹相引痛矣。厥气客于阴股,寒气上及少腹,血泣在下相引,故腹痛引阴股。寒气客于小肠膜原之间,络血之中,血泣不得注于大经,血气稽留不得行,故宿昔而成积矣。寒气客于五藏,厥逆上泄,阴气竭,阳气未入,故卒然痛死不知人,气复反,则生矣。寒气客于肠胃,厥逆上出,故痛而呕也。寒气客于小肠,小肠不得成聚,故后泄腹痛矣。热气留于小肠,肠中痛,瘅热焦渴,则坚乾不得出,故痛而闭不通矣。帝曰:所谓言而可知者也。
Hán Việt
Hàn khí khách vu Quyết âm chi mạch. Quyết âm chi mạch giả, lạc âm khí, hệ vu Can. Hàn khí khách vu mạch trung, tắc huyết sáp mạch cấp, cố hiếp lặc dữ thiểu phúc tương dẫn thống hĩ.
Quyết khí khách vu âm cổ, hàn khí thượng cập thiểu phúc, huyết sáp tại hạ tương dẫn, cố phúc thống dẫn âm cổ.
Hàn khí khách vu Tiểu trường mạc nguyên chi gian, lạc huyết chi trung, huyết sáp bất đắc chú vu đại kinh, huyết khí kê lưu bất đắc hành, cố túc tích nhi thành tích hĩ.
Hàn khí khách vu ngũ tạng, quyết nghịch thượng tiết, âm khí kiệt, dương khí vị nhập, cố tốt nhiên thống tử bất tri nhân. Khí phục phản, tắc sinh hĩ.
Hàn khí khách vu Trường Vị, quyết nghịch thượng xuất, cố thống nhi ẩu dã.
Hàn khí khách vu Tiểu trường, Tiểu trường bất đắc thành tụ, cố hậu tiết phúc thống hĩ.
Nhiệt khí lưu vu Tiểu trường, trường trung thống, đản nhiệt tiêu khát, tắc kiên can bất đắc xuất, cố thống nhi bế bất thông hĩ.
Đế viết: Sở vị ngôn nhi khả tri giả dã.
Dịch nghĩa
Hàn khí trú ở mạch Quyết âm. Mạch Quyết âm liên lạc với âm khí và hệ thuộc Can. Khi hàn khí trú trong mạch thì huyết bị sáp trệ, mạch căng gấp, cho nên hông sườn và bụng dưới kéo nhau mà đau.
Quyết khí trú ở đùi trong, hàn khí đi lên đến bụng dưới, huyết sáp trệ ở dưới rồi kéo dẫn nhau, cho nên đau bụng kéo xuống âm bộ và đùi trong.
Hàn khí trú giữa mạc nguyên của Tiểu trường, trong phần lạc huyết, khiến huyết sáp trệ, không rót vào đại kinh được; huyết khí lưu trệ, không vận hành, cho nên lâu ngày qua đêm mà thành tích khối.
Hàn khí trú ở năm tạng, làm khí quyết nghịch tiết lên trên, âm khí kiệt, dương khí chưa vào, cho nên đột ngột đau như chết, không biết người. Khi khí quay trở lại thì sống lại.
Hàn khí trú ở Trường Vị, làm khí quyết nghịch đi lên, cho nên đau mà nôn.
Hàn khí trú ở Tiểu trường, khiến Tiểu trường không thể thành sự tụ hợp và phân hóa bình thường, cho nên về sau tiêu chảy kèm đau bụng.
Nhiệt khí lưu ở Tiểu trường thì trong ruột đau. Đản nhiệt làm khô cháy, khát nhiều, khiến phân cứng khô không ra được, cho nên đau mà bế tắc không thông.
Hoàng Đế nói:
Đó chính là điều gọi là nói ra thì có thể hiểu được.
Giải thích từ ngữ
Quyết âm chi mạch (厥阴之脉): kinh Can Quyết âm, đi quanh âm khí, liên hệ Can, hông sườn, bụng dưới.
Lạc âm khí, hệ vu Can (络阴器,系于肝): kinh Quyết âm liên lạc bộ phận sinh dục và thuộc về Can, nên bệnh có thể đau hông sườn, bụng dưới, âm bộ.
Âm cổ (阴股): mặt trong đùi, vùng kinh Can đi qua.
Tiểu trường mạc nguyên (小肠膜原): vùng màng mạc quanh Tiểu trường, nơi khí huyết lạc mạch dễ bị hàn tà lưu trệ.
Thành tích (成积): thành khối tích, do huyết khí lưu lại lâu ngày không thông.
Quyết nghịch thượng tiết (厥逆上泄): khí nghịch lên trên, thoát tiết bất thường, làm thần khí mất điều hòa.
Âm khí kiệt, dương khí vị nhập (阴气竭,阳气未入): âm khí đã cạn, dương khí chưa trở về, nên có lúc ngất như chết.
Đản nhiệt tiêu khát (瘅热焦渴): nhiệt thịnh nung đốt, khát khô, làm tân dịch hao.
Kiên can bất đắc xuất (坚乾不得出): phân cứng khô không ra được, thành bế tắc.
Câu 6
视而可见,柰何。歧伯曰:五藏六府,固尽有部,视其五色,黄赤为热,白为寒,青黑为痛,此所谓视而可见者也。帝曰:扪而可得,柰何。歧伯曰:视其主病之脉坚而血,及陷下者,皆可扪而得也。
Hán Việt
Thị nhi khả kiến, nại hà?
Kỳ Bá viết: Ngũ tạng lục phủ, cố tận hữu bộ. Thị kỳ ngũ sắc, hoàng xích vi nhiệt, bạch vi hàn, thanh hắc vi thống. Thử sở vị thị nhi khả kiến giả dã.
Đế viết: Môn nhi khả đắc, nại hà?
Kỳ Bá viết: Thị kỳ chủ bệnh chi mạch kiên nhi huyết, cập hãm hạ giả, giai khả môn nhi đắc dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Nhìn thì có thể thấy, là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Năm tạng sáu phủ vốn đều có bộ vị biểu hiện. Quan sát năm sắc: sắc vàng và đỏ là nhiệt; sắc trắng là hàn; sắc xanh và đen là đau. Đó gọi là nhìn thì có thể thấy.
Hoàng Đế hỏi:
Sờ thì có thể nắm được, là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Xem mạch chủ bệnh của nó, nếu mạch cứng và đầy huyết, hoặc có chỗ lõm xuống, đều có thể sờ mà nắm được.
Giải thích từ ngữ
Ngũ tạng lục phủ tận hữu bộ (五藏六府尽有部): mỗi tạng phủ đều có vùng phản ánh trên thân, sắc mặt, mạch và bộ vị.
Ngũ sắc (五色): xanh, đỏ, vàng, trắng, đen. Ở đây dùng để phân biệt hàn, nhiệt, thống.
Hoàng xích vi nhiệt (黄赤为热): sắc vàng đỏ thường chỉ nhiệt, thấp nhiệt, khí huyết bốc lên.
Bạch vi hàn (白为寒): sắc trắng thường thuộc hàn, hư hàn, khí huyết không sung.
Thanh hắc vi thống (青黑为痛): sắc xanh đen thường do hàn, ứ, đau, khí huyết không thông.
Mạch kiên nhi huyết (脉坚而血): mạch cứng, đầy huyết, có ứ trệ hoặc thực tà.
Hãm hạ (陷下): chỗ lõm xuống, hư, khí huyết không đầy, hoặc vùng bệnh có sự suy lõm.
Câu 7
帝曰:善。余知百病生于气也,怒则气上,喜则气缓,悲则气消,恐则气下,寒则气收,炅则气泄,惊则气乱,劳则气耗,思则气结,九气不同,何病之生。歧伯曰:怒则气逆,甚则呕血及飱泄,故气上矣。喜则气和志达,荣卫通利,故气缓矣。悲则心系急,肺布叶举,而上焦不通,荣卫不散,热气在中,故气消矣。恐则精却,却则上焦闭,闭则气还,还则下焦胀,故气不行矣。寒则腠理闭,气不行,故气收矣。炅则腠理开,荣卫通汗大泄,故气泄。惊则心无所倚,神无所归,虑无所定,故气乱矣。劳则喘息汗出,外内皆越,故气耗矣。思则心有所存,神有所归,正气留而不行,故气结矣。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Dư tri bách bệnh sinh vu khí dã. Nộ tắc khí thượng, hỷ tắc khí hoãn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, hàn tắc khí thu, quýnh tắc khí tiết, kinh tắc khí loạn, lao tắc khí háo, tư tắc khí kết. Cửu khí bất đồng, hà bệnh chi sinh?
Kỳ Bá viết: Nộ tắc khí nghịch, thậm tắc ẩu huyết cập sôn tiết, cố khí thượng hĩ.
Hỷ tắc khí hòa chí đạt, vinh vệ thông lợi, cố khí hoãn hĩ.
Bi tắc Tâm hệ cấp, Phế bố diệp cử, nhi thượng tiêu bất thông, vinh vệ bất tán, nhiệt khí tại trung, cố khí tiêu hĩ.
Khủng tắc tinh khước, khước tắc thượng tiêu bế, bế tắc khí hoàn, hoàn tắc hạ tiêu trướng, cố khí bất hành hĩ.
Hàn tắc tấu lý bế, khí bất hành, cố khí thu hĩ.
Quýnh tắc tấu lý khai, vinh vệ thông, hãn đại tiết, cố khí tiết.
Kinh tắc Tâm vô sở ỷ, thần vô sở quy, lự vô sở định, cố khí loạn hĩ.
Lao tắc suyễn tức hãn xuất, ngoại nội giai việt, cố khí háo hĩ.
Tư tắc Tâm hữu sở tồn, thần hữu sở quy, chính khí lưu nhi bất hành, cố khí kết hĩ.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Ta biết trăm bệnh đều sinh từ khí. Giận thì khí đi lên; vui thì khí hoãn; buồn thì khí tiêu; sợ thì khí đi xuống; lạnh thì khí thu lại; nóng thì khí tiết ra; kinh hãi thì khí loạn; lao nhọc thì khí hao; suy nghĩ thì khí kết.
Chín loại khí không giống nhau ấy sinh bệnh như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Giận thì khí nghịch, nặng thì nôn ra máu và tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu. Vì vậy nói khí đi lên.
Vui thì khí hòa, chí đạt, vinh vệ thông lợi. Vì vậy nói khí hoãn.
Buồn thì hệ của Tâm co gấp, lá Phế giương lên, thượng tiêu không thông, vinh vệ không tán, nhiệt khí ở bên trong. Vì vậy nói khí tiêu.
Sợ thì tinh lùi lại. Tinh lùi thì thượng tiêu bế; thượng tiêu bế thì khí quay trở lại; khí quay trở lại thì hạ tiêu trướng. Vì vậy khí không vận hành.
Lạnh thì tấu lý đóng, khí không vận hành. Vì vậy khí thu lại.
Nóng thì tấu lý mở, vinh vệ thông, mồ hôi tiết ra nhiều. Vì vậy khí tiết ra ngoài.
Kinh hãi thì Tâm không có chỗ nương, thần không có nơi quy về, suy nghĩ không ổn định. Vì vậy khí loạn.
Lao nhọc thì thở suyễn, mồ hôi ra, trong ngoài đều vượt thoát. Vì vậy khí hao.
Suy nghĩ thì Tâm có chỗ giữ, thần có nơi quy về, chính khí lưu lại mà không đi. Vì vậy khí kết.
Giải thích từ ngữ
Bách bệnh sinh vu khí (百病生于气): trăm bệnh sinh từ sự biến động của khí. Khí ở đây bao gồm khí cơ, tình chí, hàn nhiệt, lao nhọc và sự vận hành của vinh vệ.
Nộ tắc khí thượng (怒则气上): giận làm Can khí nghịch lên, nặng có thể nôn máu, tiêu chảy.
Hỷ tắc khí hoãn (喜则气缓): vui làm khí hòa hoãn, vinh vệ thông lợi. Nếu vui quá mức cũng có thể làm khí tán, nhưng đoạn này nói mặt hòa hoãn của hỷ.
Bi tắc khí tiêu (悲则气消): buồn làm Phế khí tiêu tán, thượng tiêu không thông, khí bị hao.
Khủng tắc khí hạ (恐则气下): sợ làm tinh khí thu rút xuống dưới, khí cơ bế và hạ tiêu trướng.
Hàn tắc khí thu (寒则气收): lạnh làm tấu lý đóng, khí thu liễm, vận hành chậm.
Quýnh tắc khí tiết (炅则气泄): nóng làm tấu lý mở, mồ hôi ra, khí theo đó tiết.
Kinh tắc khí loạn (惊则气乱): kinh hãi làm Tâm thần không ổn, khí cơ rối loạn.
Lao tắc khí háo (劳则气耗): lao nhọc làm thở gấp, ra mồ hôi, khí hao cả trong lẫn ngoài.
Tư tắc khí kết (思则气结): suy nghĩ quá mức làm thần khí dừng lại, chính khí lưu mà không hành, thành khí kết.
Nhận xét chung
Thiên Cử Thống luận lấy chữ “đau” làm trung tâm, nhưng thực ra bàn rất rộng về khí. Đau do khí huyết không thông; khí huyết không thông phần nhiều do hàn khí, nhiệt khí, tình chí, lao nhọc làm khí cơ biến đổi. Vì vậy, thiên này không chỉ giải thích đau ở một chỗ, mà chỉ ra nguyên lý “trăm bệnh sinh từ khí”.
Phần đầu nói rất rõ cơ chế đau do hàn. Kinh mạch vốn lưu hành không nghỉ; hàn vào thì khí huyết chậm, sáp, co rút, không thông, cho nên đau. Nếu hàn ở ngoài mạch thì huyết ít; ở trong mạch thì khí không thông. Hàn nông gặp ấm thì đau dừng; hàn sâu, hàn lưu lại hoặc gặp khí nóng giao tranh thì mạch đầy, huyết khí loạn, đau dữ dội và không thể ấn.
Thiên này cũng phân biệt các dạng đau rất thực tế. Ấn vào đau giảm là do khí huyết được tán; ấn không ích là do hàn ở mạch sâu cạnh cột sống, tay không chạm tới. Có động dưới tay là do hàn ở Xung mạch, khí không thông nên xung động. Tâm và lưng kéo nhau đau là do hàn ở bối du. Hông sườn và bụng dưới kéo nhau đau là do hàn ở Quyết âm. Đau bụng kéo xuống âm bộ, đùi trong cũng thuộc đường Quyết âm và hạ tiêu.
Đau lâu ngày có thể thành tích, vì hàn ở mạc nguyên Tiểu trường, lạc huyết bị sáp, huyết khí lưu lại không vào đại kinh. Đau mà nôn là hàn ở Trường Vị làm khí nghịch lên. Đau rồi tiêu chảy là hàn ở Tiểu trường làm phân hóa không thành. Đau mà bế không thông lại do nhiệt lưu ở Tiểu trường, làm khô khát, phân cứng không ra. Như vậy, cùng là đau bụng nhưng hàn, nhiệt, nông, sâu, hư, thực hoàn toàn khác nhau.
Đoạn “nhìn thì thấy, sờ thì biết” rất quan trọng cho chẩn đoán. Vàng đỏ là nhiệt, trắng là hàn, xanh đen là đau; mạch cứng đầy huyết hoặc lõm xuống đều có thể sờ được. Nghĩa là lý luận phải trở về sắc, mạch, hình, cảm giác dưới tay, không nói suông.
Cuối thiên là phần nổi tiếng về chín khí: giận, vui, buồn, sợ, lạnh, nóng, kinh hãi, lao nhọc, suy nghĩ. Giận làm khí lên; buồn làm khí tiêu; sợ làm khí không hành; lạnh làm khí thu; nóng làm khí tiết; kinh hãi làm khí loạn; lao nhọc làm khí hao; suy nghĩ làm khí kết. Đây là nền tảng để hiểu bệnh do tình chí và sinh hoạt. Đau hay bệnh tật không chỉ do tà khí bên ngoài, mà còn do khí trong thân bị đẩy lên, hạ xuống, thu lại, tiết ra, hao, kết, loạn.
Tóm lại, Cử Thống luận dạy rằng muốn trị đau phải xét khí. Khí hàn hay nhiệt, ở mạch ngoài hay mạch trong, ở Trường Vị hay mạc nguyên, ở Xung mạch hay Quyết âm, ở bối du hay ngũ tạng; đồng thời phải xét tình chí và lao nhọc. Khi biết khí đi đâu, bế ở đâu, hư thực thế nào, thì mới hiểu vì sao đau, và mới có thể trị đúng đường.