1
原文
黃帝曰:余聞天為陽,地為陰,日為陽,月為陰,其合之於人,奈何?歧伯曰:腰以上為天,腰以下為地,故天為陽,地為陰,故足之十二經脈,以應十二月,月生於水,故在下者為陰;手之十指,以應十日,日主火,故在上者為陽。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Dư văn thiên vi dương, địa vi âm, nhật vi dương, nguyệt vi âm, kỳ hợp chi ư nhân, nại hà? Kỳ Bá viết: Yêu dĩ thượng vi thiên, yêu dĩ hạ vi địa, cố thiên vi dương, địa vi âm, cố túc chi thập nhị kinh mạch, dĩ ứng thập nhị nguyệt, nguyệt sinh ư thủy, cố tại hạ giả vi âm; thủ chi thập chỉ, dĩ ứng thập nhật, nhật chủ hỏa, cố tại thượng giả vi dương.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Ta nghe nói trời là dương, đất là âm; mặt trời là dương, mặt trăng là âm. Những điều ấy hợp vào thân người thì như thế nào?
Kỳ Bá thưa: Từ thắt lưng trở lên ứng với trời, từ thắt lưng trở xuống ứng với đất. Vì vậy trời là dương, đất là âm. Cho nên mười hai kinh mạch ở chân ứng với mười hai tháng; mặt trăng sinh từ thủy, nên những gì ở dưới thuộc âm. Mười ngón tay của tay ứng với mười ngày; mặt trời chủ hỏa, nên những gì ở trên thuộc dương.
Giải thích
Đoạn này lấy thân người làm một tiểu thiên địa. Phần trên thân ứng với trời, thuộc dương; phần dưới thân ứng với đất, thuộc âm. Chân ở dưới nên kinh mạch ở chân liên hệ với tháng và nguyệt, thuộc âm. Tay ở trên nên mười ngón tay liên hệ với ngày và nhật, thuộc dương. Đây là cách Nội Kinh dùng thiên tượng để giải thích quy luật âm dương trong thân người.
2
原文
黃帝曰:合之於脈,奈何?歧伯曰:寅者,正月之生陽也,主左足之少陽;未者,六月,主右足之少陽。卯者,二月,主左足之太陽;午者,五月,主右足之太陽。辰者,三月,主左足之陽明;巳者,四月,主右足之陽明。此兩陽合於前,故曰陽明。申者,七月之生陰也,主右足之少陰;丑者,十二月,主左足之少陰;酉者,八月,主右足之太陰;子者,十一月,主左足之太陰;戌者,九月,主右足之厥陰;亥者,十月,主左足之厥陰;此兩陰交盡,故曰厥陽。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Hợp chi ư mạch, nại hà? Kỳ Bá viết: Dần giả, chính nguyệt chi sinh dương dã, chủ tả túc chi Thiếu dương; Mùi giả, lục nguyệt, chủ hữu túc chi Thiếu dương. Mão giả, nhị nguyệt, chủ tả túc chi Thái dương; Ngọ giả, ngũ nguyệt, chủ hữu túc chi Thái dương. Thìn giả, tam nguyệt, chủ tả túc chi Dương minh; Tỵ giả, tứ nguyệt, chủ hữu túc chi Dương minh. Thử lưỡng dương hợp ư tiền, cố viết Dương minh. Thân giả, thất nguyệt chi sinh âm dã, chủ hữu túc chi Thiếu âm; Sửu giả, thập nhị nguyệt, chủ tả túc chi Thiếu âm; Dậu giả, bát nguyệt, chủ hữu túc chi Thái âm; Tý giả, thập nhất nguyệt, chủ tả túc chi Thái âm; Tuất giả, cửu nguyệt, chủ hữu túc chi Quyết âm; Hợi giả, thập nguyệt, chủ tả túc chi Quyết âm; thử lưỡng âm giao tận, cố viết Quyết dương.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Nếu đem những điều ấy hợp với mạch thì như thế nào?
Kỳ Bá thưa: Dần là lúc dương sinh trong tháng Giêng, chủ Thiếu dương ở chân trái. Mùi là tháng Sáu, chủ Thiếu dương ở chân phải. Mão là tháng Hai, chủ Thái dương ở chân trái. Ngọ là tháng Năm, chủ Thái dương ở chân phải. Thìn là tháng Ba, chủ Dương minh ở chân trái. Tỵ là tháng Tư, chủ Dương minh ở chân phải. Hai khí dương cùng hợp ở phía trước, nên gọi là Dương minh.
Thân là lúc âm sinh trong tháng Bảy, chủ Thiếu âm ở chân phải. Sửu là tháng Mười hai, chủ Thiếu âm ở chân trái. Dậu là tháng Tám, chủ Thái âm ở chân phải. Tý là tháng Mười một, chủ Thái âm ở chân trái. Tuất là tháng Chín, chủ Quyết âm ở chân phải. Hợi là tháng Mười, chủ Quyết âm ở chân trái. Hai khí âm giao nhau đến chỗ cùng tận, nên gọi là Quyết âm.
Giải thích
Đoạn này đem địa chi, tháng trong năm và kinh mạch ở chân phối hợp với nhau. Ba tháng đầu xuân là dương khí mới sinh, nên phối với kinh dương ở chân trái. Các tháng tiếp theo dương khí chuyển sang bên phải. Từ tháng Bảy trở đi âm khí bắt đầu sinh, nên phối với các kinh âm. Ý chính không phải để hiểu theo số học cứng nhắc, mà để thấy khí âm dương trong trời đất có sự thăng giáng, qua lại trái phải, rồi ứng vào kinh mạch con người.
Chú ý
Trong bản chép có câu cuối ghi “故曰厥陽”, nhưng theo nghĩa mạch lạc của đoạn văn và tên kinh thì nên hiểu là “Quyết âm”. Có thể là dị văn hoặc lỗi chép trong văn bản.
3
原文
甲主左手之少陽;己主右手之少陽;乙主左手之太陽,戊主右手之太陽;丙主左手之陽明,丁主右手之陽明,此兩火并合,故為陽明。庚主右手之少陰,癸主左手之少陰,辛主右手之太陰,壬主左手之太陰。
Hán Việt
Giáp chủ tả thủ chi Thiếu dương; Kỷ chủ hữu thủ chi Thiếu dương; Ất chủ tả thủ chi Thái dương, Mậu chủ hữu thủ chi Thái dương; Bính chủ tả thủ chi Dương minh, Đinh chủ hữu thủ chi Dương minh, thử lưỡng hỏa tịnh hợp, cố vi Dương minh. Canh chủ hữu thủ chi Thiếu âm, Quý chủ tả thủ chi Thiếu âm, Tân chủ hữu thủ chi Thái âm, Nhâm chủ tả thủ chi Thái âm.
Dịch nghĩa
Giáp chủ Thiếu dương ở tay trái. Kỷ chủ Thiếu dương ở tay phải. Ất chủ Thái dương ở tay trái, Mậu chủ Thái dương ở tay phải. Bính chủ Dương minh ở tay trái, Đinh chủ Dương minh ở tay phải. Hai hỏa cùng hợp lại, cho nên gọi là Dương minh. Canh chủ Thiếu âm ở tay phải, Quý chủ Thiếu âm ở tay trái. Tân chủ Thái âm ở tay phải, Nhâm chủ Thái âm ở tay trái.
Giải thích
Ở đoạn trước, địa chi được dùng để phối với kinh ở chân; đến đoạn này, thiên can được dùng để phối với kinh ở tay. Tay thuộc phần trên của thân, ứng với dương, cho nên lấy mười thiên can để phối với mười ngón tay và các kinh ở tay. Cách phối hợp này biểu thị quan hệ giữa thiên can, nhật khí, hỏa khí và kinh mạch phần trên cơ thể.
4
原文
故足之陽者,陰中之少陽也;足之陰者,陰中之太陰也。手之陽者,陽中之太陽也;手之陰者,陽中之少陰也。腰以上者為陽,腰以下者為陰。
Hán Việt
Cố túc chi dương giả, âm trung chi Thiếu dương dã; túc chi âm giả, âm trung chi Thái âm dã. Thủ chi dương giả, dương trung chi Thái dương dã; thủ chi âm giả, dương trung chi Thiếu âm dã. Yêu dĩ thượng giả vi dương, yêu dĩ hạ giả vi âm.
Dịch nghĩa
Cho nên dương ở chân là Thiếu dương trong âm; âm ở chân là Thái âm trong âm. Dương ở tay là Thái dương trong dương; âm ở tay là Thiếu âm trong dương. Từ thắt lưng trở lên là dương, từ thắt lưng trở xuống là âm.
Giải thích
Chân ở phần dưới nên lấy âm làm nền. Trong phần âm ấy, kinh dương của chân gọi là Thiếu dương trong âm; kinh âm của chân gọi là Thái âm trong âm. Tay ở phần trên nên lấy dương làm nền. Trong phần dương ấy, kinh dương của tay gọi là Thái dương trong dương; kinh âm của tay gọi là Thiếu âm trong dương. Đây là phép phân âm dương trong âm dương, cho thấy âm dương không đứng riêng lẻ, mà trong âm có dương, trong dương có âm.
5
原文
其於五藏也,心為陽中之太陽,肺為陰中之少陰,肝為陰中之少陽,脾為陰中之至陰,腎為陰中之太陰。
Hán Việt
Kỳ ư ngũ tạng dã, tâm vi dương trung chi Thái dương, phế vi âm trung chi Thiếu âm, can vi âm trung chi Thiếu dương, tỳ vi âm trung chi Chí âm, thận vi âm trung chi Thái âm.
Dịch nghĩa
Đối với ngũ tạng, tâm là Thái dương trong dương; phế là Thiếu âm trong âm; can là Thiếu dương trong âm; tỳ là Chí âm trong âm; thận là Thái âm trong âm.
Giải thích
Tâm ở thượng tiêu, chủ hỏa, thông với thần minh, nên được gọi là Thái dương trong dương. Phế tuy ở trên nhưng tính thanh túc, chủ khí, có tính thu liễm nên được xếp là Thiếu âm trong âm. Can chủ sinh phát, có khí thăng động, nên là Thiếu dương trong âm. Tỳ ở trung tiêu, chủ vận hóa, là gốc của hậu thiên, ở vào nơi trung ương, nên gọi là Chí âm trong âm. Thận tàng tinh, chủ thủy, ở hạ tiêu, nên là Thái âm trong âm.
6
原文
黃帝曰:以治之奈何?歧伯曰:正月二月三月,人氣在左,無刺左足之陽;四月五月六月,人氣在右,無刺右足之陽,七月八月九月,人氣在右,無刺右足之陰,十月十一月十二月,人氣在左,無刺左足之陰。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Dĩ trị chi nại hà? Kỳ Bá viết: Chính nguyệt, nhị nguyệt, tam nguyệt, nhân khí tại tả, vô thích tả túc chi dương; tứ nguyệt, ngũ nguyệt, lục nguyệt, nhân khí tại hữu, vô thích hữu túc chi dương; thất nguyệt, bát nguyệt, cửu nguyệt, nhân khí tại hữu, vô thích hữu túc chi âm; thập nguyệt, thập nhất nguyệt, thập nhị nguyệt, nhân khí tại tả, vô thích tả túc chi âm.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Vận dụng vào phép trị thì như thế nào?
Kỳ Bá thưa: Tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba, nhân khí ở bên trái, không nên châm các kinh dương ở chân trái. Tháng Tư, tháng Năm, tháng Sáu, nhân khí ở bên phải, không nên châm các kinh dương ở chân phải. Tháng Bảy, tháng Tám, tháng Chín, nhân khí ở bên phải, không nên châm các kinh âm ở chân phải. Tháng Mười, tháng Mười một, tháng Mười hai, nhân khí ở bên trái, không nên châm các kinh âm ở chân trái.
Giải thích
Đây là nguyên tắc châm trị theo thời khí. Khi nhân khí đang vượng hoặc đang tụ ở một bên nào, một loại kinh nào, thì không nên dùng châm pháp làm tổn thương nơi ấy. Ý nghĩa căn bản là trị bệnh phải thuận theo khí của bốn mùa, theo sự thịnh suy của âm dương và theo vị trí khí huyết đang quy tụ. Đây là tinh thần “thuận thiên thời nhi trị nhân bệnh”, tức chữa bệnh phải thuận thời khí, không được làm trái với sinh khí của cơ thể.
7
原文
黃帝曰:五行以東方為甲乙木主春。春者,蒼色,主肝,肝者,足厥陰也。今乃以甲為左手之少陽,不合於數,何也?歧伯曰:此天地之陰陽也,非四時五行之以次行也。且夫陰陽者,有名而無形,故數之可十,離之可百,散之可千,推之可萬,此之謂也。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Ngũ hành dĩ Đông phương vi Giáp Ất mộc chủ xuân. Xuân giả, thương sắc, chủ can, can giả, túc Quyết âm dã. Kim nãi dĩ Giáp vi tả thủ chi Thiếu dương, bất hợp ư số, hà dã? Kỳ Bá viết: Thử thiên địa chi âm dương dã, phi tứ thời ngũ hành chi dĩ thứ hành dã. Thả phù âm dương giả, hữu danh nhi vô hình, cố số chi khả thập, ly chi khả bách, tán chi khả thiên, thôi chi khả vạn, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Theo ngũ hành, phương Đông là Giáp Ất mộc, chủ mùa xuân. Mùa xuân thuộc màu xanh, chủ can; can là túc Quyết âm. Nay lại lấy Giáp làm chủ Thiếu dương ở tay trái, như vậy không hợp với số lý, là vì sao?
Kỳ Bá thưa: Đây là âm dương của trời đất, không phải là thứ tự vận hành của bốn mùa và ngũ hành. Huống chi âm dương có tên mà không có hình cố định. Cho nên có thể đếm thành mười, chia ra thành trăm, tản ra thành nghìn, suy rộng ra thành muôn. Chính là nói ý ấy.
Giải thích
Hoàng Đế nêu nghi vấn rất quan trọng: cùng là Giáp, trong ngũ hành thì Giáp thuộc mộc, thuộc phương Đông, thuộc mùa xuân, thuộc can và túc Quyết âm; nhưng trong đoạn trên lại nói Giáp chủ Thiếu dương ở tay trái. Như vậy dường như không thống nhất. Kỳ Bá giải thích rằng đây là hai hệ thống quy loại khác nhau. Một bên là phép phối hợp theo bốn mùa ngũ hành; một bên là phép luận âm dương của trời đất. Âm dương không có hình thể cố định, chỉ là danh để nắm quy luật biến hóa. Vì vậy tùy theo góc nhìn mà có thể phân thành mười, thành trăm, thành nghìn, thành muôn, nhưng đều không rời nguyên lý âm dương biến hóa.
Tóm lại
Thiên “Âm dương hệ nhật nguyệt” lấy trời đất, nhật nguyệt, thiên can, địa chi, tháng ngày và kinh mạch để nói rõ thân người tương ứng với vũ trụ. Trên là dương, dưới là âm; tay ứng với nhật và thiên can; chân ứng với nguyệt và địa chi; ngũ tạng lại phân ra âm dương trong âm dương. Phép trị vì thế cũng không thể tách khỏi thời khí, vị trí khí huyết và sự thịnh suy của âm dương. Đây là một đoạn văn tiêu biểu cho tư tưởng “thiên nhân tương ứng” của Nội Kinh.