Bàn về phép châm trị đau lưng eo
Câu 1
足太阳脉,令人腰痛,引项脊尻背如重状;刺其郄中太阳正经出血,春无见血。
Hán Việt
Túc Thái dương mạch, linh nhân yêu thống, dẫn hạng tích khảo bối như trọng trạng; thích kỳ khích trung Thái dương chính kinh xuất huyết, xuân vô kiến huyết.
Dịch nghĩa
Mạch Túc Thái dương làm người bệnh đau lưng eo, đau kéo lên gáy, cột sống, xương cùng và lưng, cảm giác như mang vật nặng. Nên châm khích trung của chính kinh Thái dương cho ra máu; mùa xuân thì không để thấy máu.
Giải thích từ ngữ
Yêu thống: đau lưng eo.
Túc Thái dương: kinh Bàng quang, đi dọc đầu gáy, lưng, eo, mông và mặt sau chân, nên đau có thể kéo từ eo lên gáy, xuống xương cùng.
Khích trung: vùng khe khích ở sau gối, thường dùng để chích huyết khi tà ứ ở kinh Thái dương.
Xuân vô kiến huyết: mùa xuân không nên làm ra máu, vì xuân chủ sinh phát, huyết khí mới phát, chích huyết quá mức dễ tổn chính khí.
Câu 2
少阳令人腰痛,如以针刺其皮中,循循然不可以俛仰,不可以顾。刺少阳成骨之端出血,成骨在膝外廉之骨独起者,夏无见血。
Hán Việt
Thiếu dương linh nhân yêu thống, như dĩ châm thích kỳ bì trung, tuần tuần nhiên bất khả dĩ phủ ngưỡng, bất khả dĩ cố. Thích Thiếu dương thành cốt chi đoan xuất huyết, thành cốt tại tất ngoại liêm chi cốt độc khởi giả, hạ vô kiến huyết.
Dịch nghĩa
Thiếu dương làm người bệnh đau lưng eo, đau như có kim châm trong da, cảm giác âm ỉ kéo dài, không thể cúi ngửa, không thể quay nhìn. Nên châm đầu xương thành cốt thuộc Thiếu dương cho ra máu. Thành cốt là chỗ xương nhô riêng ở bờ ngoài gối. Mùa hạ thì không để thấy máu.
Giải thích từ ngữ
Thiếu dương: kinh Đởm, đi bên hông sườn, mặt ngoài thân và chân, nên đau thường làm khó xoay trở.
Tuần tuần nhiên: cảm giác đau dai dẳng, lẩn quẩn, không dứt khoát.
Phủ ngưỡng: cúi xuống và ngửa lên.
Cố: quay đầu, quay thân nhìn lại.
Thành cốt: mốc xương nhô ở bờ ngoài gối, thuộc vùng kinh Thiếu dương.
Hạ vô kiến huyết: mùa hạ dương khí thịnh, chích huyết quá mức dễ làm hao khí huyết đang phát ra ngoài.
Câu 3
阳明令人腰痛,不可以顾顾如有见者,善悲;刺阳明于䯒前三痏,上下和之出血。秋无见血。
Hán Việt
Dương minh linh nhân yêu thống, bất khả dĩ cố, cố như hữu kiến giả, thiện bi; thích Dương minh vu hành tiền tam vĩ, thượng hạ hòa chi xuất huyết. Thu vô kiến huyết.
Dịch nghĩa
Dương minh làm người bệnh đau lưng eo, không thể quay nhìn; khi quay nhìn thì như thấy vật gì, lại hay buồn. Nên châm Dương minh ở phía trước cẳng chân ba chỗ, điều hòa trên dưới rồi cho ra máu. Mùa thu thì không để thấy máu.
Giải thích từ ngữ
Dương minh: kinh Vị, nhiều khí nhiều huyết, đi ở mặt trước thân và chân.
Hành tiền: phía trước cẳng chân.
Tam vĩ: châm ba chỗ.
Thiện bi: hay buồn. Dương minh khí nghịch hoặc tà quấy thần chí có thể làm cảm xúc biến đổi.
Thu vô kiến huyết: mùa thu chủ thu liễm, Phế Kim chủ huyết khí thu vào; chích huyết dễ trái thời.
Câu 4
足少阴令人腰痛,痛引脊内廉;刺少阴于内踝上二痏,春无见血,出血太多,不可复也。
Hán Việt
Túc Thiếu âm linh nhân yêu thống, thống dẫn tích nội liêm; thích Thiếu âm vu nội khỏa thượng nhị vĩ, xuân vô kiến huyết, xuất huyết thái đa, bất khả phục dã.
Dịch nghĩa
Túc Thiếu âm làm người bệnh đau lưng eo, đau kéo vào phía trong cột sống. Nên châm Thiếu âm ở phía trên mắt cá trong hai chỗ; mùa xuân thì không để thấy máu. Nếu ra máu quá nhiều thì không thể phục hồi được.
Giải thích từ ngữ
Túc Thiếu âm: kinh Thận. Thận chủ lưng eo, chủ xương tủy, nên đau lưng eo sâu thường liên hệ Thiếu âm.
Tích nội liêm: bờ trong của cột sống, chỉ cảm giác đau sâu ở phía trong sống lưng.
Nội khỏa: mắt cá trong.
Bất khả phục: khó phục hồi, vì Thiếu âm liên hệ Thận tinh, huyết và căn bản âm dương, không nên làm hao huyết quá mức.
Câu 5
厥阴之脉,令人腰痛,腰中如张弓弩弦;刺厥阴之脉,在腨踵鱼腹之外,循之累累然,乃刺之,其病令人善言,默默然不慧,刺之三痏。
Hán Việt
Quyết âm chi mạch, linh nhân yêu thống, yêu trung như trương cung nỗ huyền; thích Quyết âm chi mạch, tại thuyên chủng ngư phúc chi ngoại, tuần chi lũy lũy nhiên, nãi thích chi. Kỳ bệnh linh nhân thiện ngôn, mặc mặc nhiên bất tuệ, thích chi tam vĩ.
Dịch nghĩa
Mạch Quyết âm làm người bệnh đau lưng eo, trong lưng như dây cung dây nỏ đang bị kéo căng. Nên châm mạch Quyết âm ở phía ngoài vùng bắp chân và gót, ngoài chỗ như bụng cá; lần theo thấy nổi từng hạt liên tiếp thì châm. Bệnh ấy khiến người bệnh hay nói, hoặc lặng lẽ mà không sáng suốt. Châm ba chỗ.
Giải thích từ ngữ
Quyết âm: kinh Can, chủ cân. Can mạch bị bệnh thì gân co rút, nên lưng eo cảm giác căng như dây cung.
Ngư phúc: chỗ bắp chân nổi như bụng cá.
Lũy lũy nhiên: nổi từng hạt, từng nút liên tiếp dưới tay.
Thiện ngôn, mặc mặc bất tuệ: có thể nói nhiều bất thường, hoặc trầm mặc không sáng suốt; đều là dấu Can khí, thần chí bị khí nghịch quấy nhiễu.
Câu 6
解脉令人腰痛,痛引肩,目䀮䀮然,时遗溲;刺解脉,在膝筋肉分闲郄外廉之横脉出血,血变而止。
Hán Việt
Giải mạch linh nhân yêu thống, thống dẫn kiên, mục hoang hoang nhiên, thời di sưu; thích Giải mạch, tại tất cân nhục phân gian khích ngoại liêm chi hoành mạch xuất huyết, huyết biến nhi chỉ.
Dịch nghĩa
Giải mạch làm người bệnh đau lưng eo, đau kéo lên vai, mắt mờ mờ, thỉnh thoảng són tiểu. Nên châm Giải mạch ở khoảng phân chia giữa gân và thịt vùng gối, nơi hoành mạch ở bờ ngoài khích, cho ra máu; khi sắc máu biến đổi thì dừng.
Giải thích từ ngữ
Giải mạch: tên mạch cổ, thuộc hệ mạch liên hệ vùng gối, lưng eo và vai.
Mục hoang hoang nhiên: mắt mờ, không sáng rõ.
Di sưu: són tiểu, tiểu tiện không tự chủ.
Hoành mạch: mạch chạy ngang.
Huyết biến nhi chỉ: chích đến khi máu đổi từ sắc ứ trệ sang sắc bình hơn thì dừng.
Câu 7
解脉令人腰痛如引带,常如折腰状,善恐,刺解脉,在郄中结络如黍米,刺之血射以黑,见赤血而已。
Hán Việt
Giải mạch linh nhân yêu thống như dẫn đái, thường như chiết yêu trạng, thiện khủng. Thích Giải mạch, tại khích trung kết lạc như thử mễ, thích chi huyết xạ dĩ hắc, kiến xích huyết nhi dĩ.
Dịch nghĩa
Giải mạch làm người bệnh đau lưng eo như bị dây đai kéo siết, thường như lưng bị gãy, hay sợ. Nên châm Giải mạch ở khích trung, nơi lạc kết như hạt kê. Châm vào thì máu đen bắn ra; thấy máu đỏ thì dừng.
Giải thích từ ngữ
Như dẫn đái: như có dây đai kéo siết quanh lưng.
Chiết yêu: lưng như bị gãy, đau dữ và không vững.
Kết lạc như thử mễ: lạc mạch kết lại nhỏ như hạt kê.
Huyết xạ dĩ hắc: máu ứ đen bắn ra, chỉ huyết ứ ở lạc mạch.
Kiến xích huyết nhi dĩ: khi máu đỏ tươi xuất hiện thì biết ứ huyết đã được tiết, nên dừng.
Câu 8
同阴之脉,令人腰痛,痛如小锤居其中,怫然肿;刺同阴之脉,在外踝上绝骨之端,为三痏。
Hán Việt
Đồng âm chi mạch, linh nhân yêu thống, thống như tiểu chùy cư kỳ trung, phất nhiên thũng; thích Đồng âm chi mạch, tại ngoại khỏa thượng Tuyệt cốt chi đoan, vi tam vĩ.
Dịch nghĩa
Mạch Đồng âm làm người bệnh đau lưng eo, đau như có cái búa nhỏ nằm ở trong, bỗng nhiên sưng lên. Nên châm mạch Đồng âm ở đầu xương Tuyệt cốt phía trên mắt cá ngoài, châm ba chỗ.
Giải thích từ ngữ
Đồng âm chi mạch: tên mạch cổ, liên hệ vùng ngoài mắt cá và đau lưng eo.
Tiểu chùy: búa nhỏ, ví cảm giác đau nặng, đóng cục ở trong.
Phất nhiên thũng: sưng đột ngột, khí huyết tụ lại.
Tuyệt cốt: mốc xương ở vùng ngoài cẳng chân, trên mắt cá ngoài.
Câu 9
阳维之脉,令人腰痛,痛上怫然肿,刺阳维之脉,脉与太阳合腨下间,去地一尺所。
Hán Việt
Dương duy chi mạch, linh nhân yêu thống, thống thượng phất nhiên thũng. Thích Dương duy chi mạch, mạch dữ Thái dương hợp thuyên hạ gian, khứ địa nhất xích sở.
Dịch nghĩa
Mạch Dương duy làm người bệnh đau lưng eo, đau lan lên trên và bỗng nhiên sưng. Nên châm mạch Dương duy ở nơi mạch này hợp với Thái dương, khoảng dưới bắp chân, cách mặt đất khoảng một thước.
Giải thích từ ngữ
Dương duy mạch: kỳ kinh có chức năng duy trì, liên lạc các kinh dương.
Đau lan lên trên: Dương duy liên hệ phần dương, biểu, vùng lưng vai đầu, nên đau có thể kéo lên.
Khứ địa nhất xích: cách mặt đất một thước, là cách định vị cổ theo chiều cao thân thể.
Câu 10
衡络之脉,令人腰痛,不可以俛仰,仰则恐仆,得之举重伤腰,衡络绝,恶血归之;刺之在郄阳筋之间,上郄数寸,衡居为二痏出血。
Hán Việt
Hoành lạc chi mạch, linh nhân yêu thống, bất khả dĩ phủ ngưỡng, ngưỡng tắc khủng phó. Đắc chi cử trọng thương yêu, Hoành lạc tuyệt, ác huyết quy chi. Thích chi tại khích dương cân chi gian, thượng khích sổ thốn, hoành cư vi nhị vĩ xuất huyết.
Dịch nghĩa
Mạch Hoành lạc làm người bệnh đau lưng eo, không thể cúi ngửa; nếu ngửa thì sợ ngã. Bệnh này do nâng vật nặng làm tổn thương lưng eo, khiến Hoành lạc bị đứt, ác huyết tụ về đó. Nên châm ở giữa gân dương vùng khích, trên khích vài thốn, ở vị trí ngang, châm hai chỗ cho ra máu.
Giải thích từ ngữ
Hoành lạc: lạc mạch đi ngang, nếu bị tổn thương thì huyết ứ dễ tụ tại eo lưng.
Cử trọng thương yêu: nâng nặng làm tổn thương lưng, một nguyên nhân thường gặp của đau eo cấp.
Ác huyết: huyết xấu, huyết ứ, máu tụ không lưu thông.
Xuất huyết: chích huyết để tiết ứ, thông lạc.
Câu 11
会阴之脉,令人腰痛,痛上漯漯然汗出,汗乾令人欲饮,饮已欲走。刺直阳之脉,上三痏在蹻上郄下五寸横居,视其盛者出血。
Hán Việt
Hội âm chi mạch, linh nhân yêu thống, thống thượng lũy lũy nhiên hãn xuất, hãn can linh nhân dục ẩm, ẩm dĩ dục tẩu. Thích Trực dương chi mạch, thượng tam vĩ tại Kiều thượng, khích hạ ngũ thốn hoành cư, thị kỳ thịnh giả xuất huyết.
Dịch nghĩa
Mạch Hội âm làm người bệnh đau lưng eo, đau lan lên trên, mồ hôi ra rịn rịn. Khi mồ hôi khô thì người bệnh muốn uống; uống xong lại muốn chạy. Nên châm mạch Trực dương, ở phía trên ba chỗ, tại trên Kiều, dưới khích năm thốn, nằm ngang; xem chỗ nào thịnh thì cho ra máu.
Giải thích từ ngữ
Hội âm chi mạch: mạch liên hệ vùng hội âm, hạ tiêu và đường khí đi lên lưng eo.
Lũy lũy nhiên hãn xuất: mồ hôi ra từng giọt, rịn rịn.
Hãn can dục ẩm: mồ hôi làm hao tân dịch, khô thì khát muốn uống.
Ẩm dĩ dục tẩu: uống xong muốn chạy, do khí dương bị kích động, khí cơ không yên.
Trực dương chi mạch: tên mạch cổ, cần hiểu theo hệ thống định vị châm thời Nội Kinh.
Câu 12
飞阳之脉,令人腰痛,痛上拂拂然,甚则悲以恐;刺飞阳之脉,在内踝上五寸,少阴之前,与阴维之会。
Hán Việt
Phi dương chi mạch, linh nhân yêu thống, thống thượng phất phất nhiên, thậm tắc bi dĩ khủng. Thích Phi dương chi mạch, tại nội khỏa thượng ngũ thốn, Thiếu âm chi tiền, dữ Âm duy chi hội.
Dịch nghĩa
Mạch Phi dương làm người bệnh đau lưng eo, đau lan lên trên, cảm giác phất phất khó chịu. Nặng thì sinh buồn và sợ. Nên châm mạch Phi dương ở trên mắt cá trong năm thốn, phía trước Thiếu âm, nơi hội với Âm duy.
Giải thích từ ngữ
Phi dương chi mạch: tên mạch lạc cổ, liên hệ khí dương bay động, đau lan lên.
Phất phất nhiên: cảm giác nhẹ động, phất qua, khó nắm rõ nhưng khó chịu.
Bi dĩ khủng: buồn và sợ, cho thấy bệnh mạch ảnh hưởng đến thần chí.
Âm duy: kỳ kinh liên lạc các kinh âm, khi hội với Phi dương thì đau eo có thể kèm cảm xúc uất sợ.
Câu 13
昌阳之脉,令人腰痛,痛引膺,目䀮䀮然,甚则反折,舌卷不能言;刺内筋为二痏,在内踝上大筋前,太阴后上踝二寸所。
Hán Việt
Xương dương chi mạch, linh nhân yêu thống, thống dẫn ưng, mục hoang hoang nhiên, thậm tắc phản chiết, thiệt quyển bất năng ngôn. Thích nội cân vi nhị vĩ, tại nội khỏa thượng đại cân tiền, Thái âm hậu, thượng khỏa nhị thốn sở.
Dịch nghĩa
Mạch Xương dương làm người bệnh đau lưng eo, đau kéo ra vùng ngực trước, mắt mờ mờ. Nặng thì thân cong ngược, lưỡi co lại không nói được. Nên châm gân trong hai chỗ, ở phía trước gân lớn trên mắt cá trong, phía sau Thái âm, trên mắt cá khoảng hai thốn.
Giải thích từ ngữ
Xương dương chi mạch: tên mạch cổ, có liên hệ từ lưng eo lên ngực, mắt và lưỡi.
Ưng: vùng ngực trước.
Phản chiết: thân cong ngược, co cứng dữ.
Thiệt quyển bất năng ngôn: lưỡi co rút, nói không ra, dấu khí mạch nghịch nặng.
Nội cân: gân phía trong cẳng chân, vùng gần kinh Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm.
Câu 14
散脉令人腰痛而热,热甚生烦,腰下如有横木居其中,甚则遗溲,刺散脉,在膝前骨肉分间,络外廉束脉为三痏。
Hán Việt
Tán mạch linh nhân yêu thống nhi nhiệt, nhiệt thậm sinh phiền, yêu hạ như hữu hoành mộc cư kỳ trung, thậm tắc di sưu. Thích Tán mạch, tại tất tiền cốt nhục phân gian, lạc ngoại liêm thúc mạch vi tam vĩ.
Dịch nghĩa
Tán mạch làm người bệnh đau lưng eo kèm nóng; nóng nặng thì sinh phiền. Dưới lưng eo như có khúc gỗ nằm ngang ở trong. Nặng thì són tiểu. Nên châm Tán mạch ở khoảng phân chia giữa xương và thịt phía trước gối, nơi bó mạch ở bờ ngoài lạc, châm ba chỗ.
Giải thích từ ngữ
Tán mạch: tên mạch cổ, bệnh có tính tản nhiệt, gây đau nóng và phiền.
Yêu hạ như hữu hoành mộc: dưới lưng như có khúc gỗ ngang, chỉ cảm giác cứng, nặng, bế tắc.
Di sưu: són tiểu, do khí hóa hạ tiêu không giữ được.
Thúc mạch: bó mạch, nơi mạch tụ lại thành bó.
Câu 15
肉里之脉,令人腰痛,不可以咳,咳则筋缩急,刺肉里之脉为二痏,在太阳之外,少阳绝骨之后。
Hán Việt
Nhục lý chi mạch, linh nhân yêu thống, bất khả dĩ khái, khái tắc cân súc cấp. Thích Nhục lý chi mạch vi nhị vĩ, tại Thái dương chi ngoại, Thiếu dương Tuyệt cốt chi hậu.
Dịch nghĩa
Mạch Nhục lý làm người bệnh đau lưng eo, không thể ho; hễ ho thì gân co rút căng gấp. Nên châm mạch Nhục lý hai chỗ, ở ngoài Thái dương, phía sau Tuyệt cốt của Thiếu dương.
Giải thích từ ngữ
Nhục lý chi mạch: mạch ở trong phần cơ nhục, liên hệ đau lưng eo và co rút gân khi khí bị chấn động.
Bất khả dĩ khái: không thể ho, vì ho làm khí xung động, kéo gân mạch đau co.
Cân súc cấp: gân co rút căng gấp.
Thái dương chi ngoại, Thiếu dương Tuyệt cốt chi hậu: vùng định vị ở mặt ngoài sau chân, nơi Thái dương và Thiếu dương gần nhau.
Câu 16
腰痛侠脊而痛至头几几然,目䀮䀮欲僵仆;刺足太阳郄中出血,腰痛上寒,刺足太阳阳明;上热,刺足厥阴。不可以俛仰,刺足少阳。中热而喘,刺足少阴,刺郄中出血。
Hán Việt
Yêu thống hiệp tích nhi thống chí đầu cơ cơ nhiên, mục hoang hoang dục cương phó; thích Túc Thái dương khích trung xuất huyết. Yêu thống thượng hàn, thích Túc Thái dương Dương minh; thượng nhiệt, thích Túc Quyết âm. Bất khả dĩ phủ ngưỡng, thích Túc Thiếu dương. Trung nhiệt nhi suyễn, thích Túc Thiếu âm, thích khích trung xuất huyết.
Dịch nghĩa
Đau lưng eo kèm đau hai bên cột sống, đau lên đến đầu, cảm giác cứng gượng, mắt mờ mờ, muốn cứng người mà ngã, thì châm khích trung của Túc Thái dương cho ra máu.
Đau lưng eo mà phía trên lạnh thì châm Túc Thái dương và Túc Dương minh. Phía trên nóng thì châm Túc Quyết âm. Không thể cúi ngửa thì châm Túc Thiếu dương. Trong có nhiệt mà suyễn thì châm Túc Thiếu âm, lại châm khích trung cho ra máu.
Giải thích từ ngữ
Hiệp tích: hai bên cột sống.
Cơ cơ nhiên: cứng gượng, không linh hoạt.
Mục hoang hoang: mắt mờ, hoa mắt.
Thượng hàn, thượng nhiệt: phần trên cơ thể lạnh hoặc nóng, dùng để phân biệt kinh cần châm.
Trung nhiệt nhi suyễn: trong có nhiệt và thở suyễn, liên hệ Thiếu âm, Thận nạp khí và hạ tiêu khí hóa.
Câu 17
腰痛上寒不可顾,刺足阳明;上热,刺足太阴,中热而喘,刺足少阴。大便难刺足少阴。少腹满,刺足厥阴。如折不可以俛仰不可举,刺足太阳。引脊内廉,刺足少阴。腰痛引少腹控䏚,不可以仰,刺腰尻交者,两髁胂上。以月生死为痏数,发针立已,左取右,右取左。
Hán Việt
Yêu thống thượng hàn bất khả cố, thích Túc Dương minh; thượng nhiệt, thích Túc Thái âm; trung nhiệt nhi suyễn, thích Túc Thiếu âm. Đại tiện nan thích Túc Thiếu âm. Thiểu phúc mãn, thích Túc Quyết âm. Như chiết bất khả dĩ phủ ngưỡng bất khả cử, thích Túc Thái dương. Dẫn tích nội liêm, thích Túc Thiếu âm. Yêu thống dẫn thiểu phúc khống khư, bất khả dĩ ngưỡng, thích yêu khảo giao giả, lưỡng khỏa thân thượng. Dĩ nguyệt sinh tử vi vĩ số, phát châm lập dĩ, tả thủ hữu, hữu thủ tả.
Dịch nghĩa
Đau lưng eo mà phía trên lạnh, không thể quay nhìn, thì châm Túc Dương minh. Phía trên nóng thì châm Túc Thái âm. Trong có nhiệt mà suyễn thì châm Túc Thiếu âm.
Đại tiện khó thì châm Túc Thiếu âm. Bụng dưới đầy thì châm Túc Quyết âm. Đau như gãy, không thể cúi ngửa, không thể nâng lên, thì châm Túc Thái dương. Đau kéo vào bờ trong cột sống thì châm Túc Thiếu âm.
Đau lưng eo kéo xuống bụng dưới, co kéo vùng khư, không thể ngửa, thì châm nơi giao giữa lưng eo và xương cùng, ở phía trên hai khoả thân. Lấy sự sinh tử của mặt trăng để định số lần châm. Vừa phát kim thì bệnh lập tức khỏi. Bệnh bên trái thì lấy bên phải, bệnh bên phải thì lấy bên trái.
Giải thích từ ngữ
Đại tiện nan: đại tiện khó, có thể do Thiếu âm, Thận khí và hạ tiêu không thông.
Thiểu phúc mãn: bụng dưới đầy, thường liên hệ Quyết âm Can và hạ tiêu.
Như chiết: đau như gãy lưng, thường thuộc Thái dương bị tà hoặc tổn thương đường lưng.
Tích nội liêm: bờ trong cột sống, đau sâu, liên hệ Thiếu âm.
Khống khư: đau co kéo vùng hông sườn hoặc vùng khư ở bên thân.
Yêu khảo giao: chỗ giao giữa lưng eo và xương cùng.
Dĩ nguyệt sinh tử vi vĩ số: căn cứ vào trăng mới sinh, trăng đầy, trăng khuyết để định số châm; đây là phép cổ hợp thiên thời.
Tả thủ hữu, hữu thủ tả: bệnh bên trái lấy bên phải, bệnh bên phải lấy bên trái; phép châm đối bên để điều khí qua kinh lạc.
Nhận xét chung
Thiên Thích Yêu Thống là một thiên chuyên bàn về đau lưng eo và phép châm theo từng kinh mạch, từng mạch lạc, từng vị trí đau. Điểm đặc biệt là Nội Kinh không xem đau lưng chỉ là một bệnh chung, mà phân ra rất nhiều đường mạch khác nhau: Thái dương, Thiếu dương, Dương minh, Thiếu âm, Quyết âm, Giải mạch, Đồng âm, Dương duy, Hoành lạc, Hội âm, Phi dương, Xương dương, Tán mạch, Nhục lý và các thể đau theo hàn nhiệt, đại tiện, bụng dưới, cột sống.
Điểm thứ nhất là vị trí đau chỉ đường kinh bệnh. Đau kéo gáy, cột sống, xương cùng, lưng như nặng thường thuộc Thái dương. Đau như kim châm trong da, khó cúi ngửa, khó quay nhìn thường thuộc Thiếu dương. Đau không quay nhìn được, kèm hay buồn, liên hệ Dương minh. Đau kéo vào trong cột sống thuộc Thiếu âm. Đau căng như dây cung thuộc Quyết âm, vì Can chủ cân.
Điểm thứ hai là đau lưng có thể do ứ huyết ở lạc. Những đoạn nói chích huyết ở khích trung, hoành mạch, kết lạc như hạt kê, máu đen bắn ra rồi thấy máu đỏ thì dừng, đều cho thấy cổ nhân rất chú ý ứ huyết trong lạc mạch. Đặc biệt đau do nâng nặng làm tổn thương lưng, Hoành lạc bị đứt, ác huyết tụ về, thì phép trị là châm cho ra máu ở đúng nơi ứ.
Điểm thứ ba là đau lưng không chỉ liên hệ xương khớp, mà còn liên hệ tiểu tiện, đại tiện, bụng dưới, mắt, thần chí, mồ hôi, khát, suyễn. Ví dụ Giải mạch đau lưng có thể kèm mắt mờ, són tiểu. Tán mạch đau lưng kèm nóng phiền, nặng thì són tiểu. Thiếu âm đau lưng có thể kéo sâu trong cột sống, kèm đại tiện khó hoặc trung nhiệt mà suyễn. Quyết âm đau lưng có thể kèm bụng dưới đầy.
Điểm thứ tư là phép châm phải theo mùa và theo khí huyết. Văn nhiều lần nói xuân, hạ, thu không để thấy máu; hoặc cảnh báo Thiếu âm nếu ra máu quá nhiều thì không thể phục hồi. Điều này cho thấy chích huyết tuy hữu hiệu với ứ trệ, nhưng phải xét mùa, kinh, hư thực, không được làm hao huyết bừa bãi.
Điểm thứ năm là nguyên tắc “trái lấy phải, phải lấy trái” và “theo trăng định số châm” cho thấy phép châm trong Nội Kinh đặt thân người vào quan hệ với âm dương, thiên thời, kinh khí đối ứng. Dù ngày nay không nhất thiết ứng dụng máy móc, nhưng ý nghĩa cốt lõi vẫn là: châm trị phải biết thời, biết bên, biết đường kinh và biết mức độ hư thực.
Tóm lại, Thích Yêu Thống dạy rằng đau lưng eo phải phân kinh luận trị. Cùng là đau lưng, nhưng đau như nặng, như kim châm, như dây cung căng, như gãy lưng, như có khúc gỗ ngang, đau kéo lên vai, xuống bụng dưới, vào cột sống hay ra chân đều thuộc bệnh cơ khác nhau. Nếu chỉ thấy “đau lưng” mà không hỏi đường đau, cảm giác đau, chỗ kéo dẫn, hàn nhiệt, tiểu tiện, đại tiện và khả năng cúi ngửa, thì chưa nắm được tinh thần của thiên này.