1
Nguyên văn
黃帝曰:夫百病之所始生者,必起於燥溫寒暑風雨陰陽喜怒飲食居處,氣合而有形,得藏而有名,余知其然也。夫百病者,多以旦慧晝安,夕加夜甚,何也?歧伯曰:四時之氣使然。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Phù bách bệnh chi sở thủy sinh giả, tất khởi ư táo, ôn, hàn, thử, phong, vũ, âm dương, hỷ nộ, ẩm thực, cư xứ, khí hợp nhi hữu hình, đắc tạng nhi hữu danh, dư tri kỳ nhiên dã. Phù bách bệnh giả, đa dĩ đán tuệ, trú an, tịch gia, dạ thậm, hà dã? Kỳ Bá viết: Tứ thời chi khí sử nhiên.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói: Phàm nơi khởi đầu của trăm bệnh, tất do táo, ôn, hàn, thử, phong, vũ, âm dương, vui giận, ăn uống, nơi ở mà sinh ra. Các yếu tố ấy hợp với khí thì thành hình bệnh; khi nhập vào tạng thì có tên bệnh. Ta biết điều ấy là như vậy. Nhưng trăm bệnh phần nhiều sáng sớm thì nhẹ, ban ngày thì yên, chiều tối thì tăng, ban đêm thì nặng, là vì sao?
Kỳ Bá thưa: Đó là do khí của bốn mùa khiến nên như vậy.
Giải thích
Đoạn này nêu nguyên nhân phát sinh bệnh gồm cả ngoại nhân, nội nhân và sinh hoạt thường ngày. Táo, ôn, hàn, thử, phong, vũ là khí hậu bên ngoài; hỷ nộ là tình chí bên trong; ẩm thực, cư xứ là ăn uống và hoàn cảnh sinh sống. Khi các yếu tố ấy hợp với khí cơ của thân người thì bệnh thành hình; khi liên hệ đến tạng phủ thì có tên gọi cụ thể.
“Đán tuệ, trú an, tịch gia, dạ thậm” là quy luật thường thấy: sáng bệnh nhẹ hơn, ban ngày tương đối yên, chiều tối nặng lên, ban đêm càng nặng. Nội Kinh giải thích điều này bằng sự thịnh suy của khí trong một ngày, tương ứng với bốn mùa.
2
Nguyên văn
黃帝曰:願聞四時之氣。歧伯曰:春生,夏長,秋收,冬藏,是氣之常也,人亦應之,以一日分為四時,朝則為春,日中為夏,日入為秋,夜半為冬。朝則人氣始生,病氣衰,故旦慧;日中人氣長,長則勝邪,故安;夕則人氣始衰,邪氣始生,故加;夜半人氣入藏,邪氣獨居於身,故甚也。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Nguyện văn tứ thời chi khí. Kỳ Bá viết: Xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng, thị khí chi thường dã, nhân diệc ứng chi, dĩ nhất nhật phân vi tứ thời, triêu tắc vi xuân, nhật trung vi hạ, nhật nhập vi thu, dạ bán vi đông. Triêu tắc nhân khí thủy sinh, bệnh khí suy, cố đán tuệ; nhật trung nhân khí trưởng, trưởng tắc thắng tà, cố an; tịch tắc nhân khí thủy suy, tà khí thủy sinh, cố gia; dạ bán nhân khí nhập tàng, tà khí độc cư ư thân, cố thậm dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Ta muốn nghe về khí của bốn mùa.
Kỳ Bá thưa: Mùa xuân thì sinh, mùa hạ thì trưởng, mùa thu thì thu, mùa đông thì tàng. Đó là quy luật thường của khí. Con người cũng ứng theo quy luật ấy. Lấy một ngày chia làm bốn mùa: buổi sáng là xuân, giữa trưa là hạ, lúc mặt trời lặn là thu, nửa đêm là đông.
Buổi sáng, nhân khí bắt đầu sinh, bệnh khí suy, nên sáng sớm bệnh nhẹ. Giữa trưa, nhân khí lớn mạnh; đã lớn mạnh thì thắng được tà, nên bệnh yên. Chiều tối, nhân khí bắt đầu suy, tà khí bắt đầu sinh, nên bệnh tăng. Nửa đêm, nhân khí nhập vào tạng để tàng chứa, tà khí riêng ở trong thân, nên bệnh nặng.
Giải thích
Đây là đoạn rất quan trọng về “thiên nhân tương ứng”. Một năm có xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng; một ngày cũng có sinh, trưởng, thu, tàng. Buổi sáng như mùa xuân, khí người bắt đầu phát sinh; giữa trưa như mùa hạ, khí người sung thịnh; chiều tối như mùa thu, khí người bắt đầu thu lại; nửa đêm như mùa đông, khí người ẩn vào trong.
Vì chính khí ban sáng và ban ngày còn có khả năng vươn lên chống tà, nên bệnh thường nhẹ hoặc yên. Đến chiều tối và ban đêm, chính khí thu vào, tà khí dễ lấn, nên bệnh tăng hoặc nặng. Đây không chỉ là quan sát lâm sàng, mà còn là nguyên tắc xem bệnh theo thời khắc.
3
Nguyên văn
黃帝曰:有時有反者何也?歧伯曰:是不應四時之氣,藏獨主其病者,是必以藏氣之所不勝時者甚,以其所勝時者起也。黃帝曰:治之奈何?歧伯曰:順天之時,而病可與期。順者為工,逆者為麤。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Hữu thời hữu phản giả hà dã? Kỳ Bá viết: Thị bất ứng tứ thời chi khí, tạng độc chủ kỳ bệnh giả, thị tất dĩ tạng khí chi sở bất thắng thời giả thậm, dĩ kỳ sở thắng thời giả khởi dã. Hoàng Đế viết: Trị chi nại hà? Kỳ Bá viết: Thuận thiên chi thời, nhi bệnh khả dữ kỳ. Thuận giả vi công, nghịch giả vi thô.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Có khi bệnh lại trái với quy luật ấy là vì sao?
Kỳ Bá thưa: Đó là vì bệnh không ứng theo khí của bốn mùa, mà do riêng một tạng chủ bệnh. Khi ấy, bệnh tất nặng vào thời mà tạng khí ấy không thắng được, và sẽ khởi sắc vào thời mà tạng khí ấy có thể thắng.
Hoàng Đế hỏi: Vậy trị như thế nào?
Kỳ Bá thưa: Phải thuận theo thời của trời, thì có thể dự đoán được kỳ hạn của bệnh. Người biết thuận theo đó là thầy thuốc giỏi; người làm trái lại là thầy thuốc thô sơ.
Giải thích
Không phải mọi bệnh đều theo đúng quy luật sáng nhẹ, ngày yên, chiều tăng, đêm nặng. Có những bệnh do một tạng riêng làm chủ. Khi ấy phải xét quan hệ ngũ hành sinh khắc và thời khí tương ứng với tạng đó. Tạng khí gặp thời không thắng được thì bệnh nặng; gặp thời mình thắng được thì bệnh bớt.
“Thuận thiên chi thời” nghĩa là trị bệnh phải biết thuận theo thời khí. Người thầy thuốc giỏi không chỉ xem chứng trạng trước mắt, mà còn biết xét giờ, ngày, mùa, tạng khí và sự thịnh suy của chính tà để dự đoán bệnh thế.
4
Nguyên văn
黃帝曰:善,余聞刺有五變,以主五輸。願聞其數。歧伯曰:人有五藏,五藏有五變。五變有五輸,故五五二十五輸,以應五時。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Thiện, dư văn thích hữu ngũ biến, dĩ chủ ngũ du. Nguyện văn kỳ số. Kỳ Bá viết: Nhân hữu ngũ tạng, ngũ tạng hữu ngũ biến. Ngũ biến hữu ngũ du, cố ngũ ngũ nhị thập ngũ du, dĩ ứng ngũ thời.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói: Hay thay. Ta nghe nói phép châm có năm biến, dùng để chủ năm du huyệt. Xin được nghe về con số ấy.
Kỳ Bá thưa: Con người có năm tạng, năm tạng có năm biến. Năm biến ấy có năm du huyệt tương ứng. Vì vậy năm lần năm là hai mươi lăm du huyệt, để ứng với năm thời.
Giải thích
“Năm du” tức năm loại du huyệt trọng yếu trên đường kinh: Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp. Mỗi tạng có năm du huyệt, năm tạng cộng lại thành hai mươi lăm huyệt. “Năm thời” ở đây không chỉ là bốn mùa thông thường, mà gồm xuân, hạ, trưởng hạ, thu, đông. Đoạn này mở đầu cho phép lấy huyệt theo ngũ tạng, ngũ biến, ngũ thời.
5
Nguyên văn
黃帝曰:願聞五變。歧伯曰:肝為牡藏,其色青,其時春,其音角,其味酸,其日甲乙;心為牡藏,其色赤,其時夏,其日丙丁,其音徵,其味苦;脾為牝藏,其色黃,其時長夏,其日戊己,其音宮,其味甘;肺為牝藏,其色白,其音商,其時徵,其日庚辛,其味辛;腎為牝藏,其色黑,其時冬,其日壬癸,其音羽,其味鹹。是為五變。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Nguyện văn ngũ biến. Kỳ Bá viết: Can vi mẫu tạng, kỳ sắc thanh, kỳ thời xuân, kỳ âm giác, kỳ vị toan, kỳ nhật Giáp Ất; tâm vi mẫu tạng, kỳ sắc xích, kỳ thời hạ, kỳ nhật Bính Đinh, kỳ âm chủy, kỳ vị khổ; tỳ vi tẫn tạng, kỳ sắc hoàng, kỳ thời trưởng hạ, kỳ nhật Mậu Kỷ, kỳ âm cung, kỳ vị cam; phế vi tẫn tạng, kỳ sắc bạch, kỳ âm thương, kỳ thời thu, kỳ nhật Canh Tân, kỳ vị tân; thận vi tẫn tạng, kỳ sắc hắc, kỳ thời đông, kỳ nhật Nhâm Quý, kỳ âm vũ, kỳ vị hàm. Thị vi ngũ biến.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Xin được nghe về năm biến.
Kỳ Bá thưa: Can là mẫu tạng, sắc của nó là xanh, thời của nó là xuân, âm của nó là giác, vị của nó là chua, ngày của nó là Giáp Ất. Tâm là mẫu tạng, sắc của nó là đỏ, thời của nó là hạ, ngày của nó là Bính Đinh, âm của nó là chủy, vị của nó là đắng. Tỳ là tẫn tạng, sắc của nó là vàng, thời của nó là trưởng hạ, ngày của nó là Mậu Kỷ, âm của nó là cung, vị của nó là ngọt. Phế là tẫn tạng, sắc của nó là trắng, âm của nó là thương, thời của nó là thu, ngày của nó là Canh Tân, vị của nó là cay. Thận là tẫn tạng, sắc của nó là đen, thời của nó là đông, ngày của nó là Nhâm Quý, âm của nó là vũ, vị của nó là mặn. Đó gọi là năm biến.
Giải thích
“Năm biến” là năm hệ thống quy loại của ngũ tạng theo sắc, thời, âm, vị và ngày. Can ứng màu xanh, mùa xuân, âm giác, vị chua, Giáp Ất. Tâm ứng màu đỏ, mùa hạ, âm chủy, vị đắng, Bính Đinh. Tỳ ứng màu vàng, trưởng hạ, âm cung, vị ngọt, Mậu Kỷ. Phế ứng màu trắng, mùa thu, âm thương, vị cay, Canh Tân. Thận ứng màu đen, mùa đông, âm vũ, vị mặn, Nhâm Quý.
Chú ý
Trong bản chữ Hán dòng “肺為牝藏,其色白,其音商,其時徵” có chữ “徵”. Theo hệ thống ngũ hành thông thường, phế ứng mùa thu, không ứng “chủy”. Ở đây nên hiểu là “kỳ thời thu”. Có thể bản chép bị sai chữ hoặc lẫn từ bản điện tử.
6
Nguyên văn
黃帝曰:以主五輸奈何?藏主冬,冬刺井;色主春,春刺滎;時主夏,夏刺輸;音主長夏,長夏刺經;味主秋,秋刺合。是謂五變,以主五輸。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Dĩ chủ ngũ du nại hà? Tạng chủ đông, đông thích Tỉnh; sắc chủ xuân, xuân thích Huỳnh; thời chủ hạ, hạ thích Du; âm chủ trưởng hạ, trưởng hạ thích Kinh; vị chủ thu, thu thích Hợp. Thị vị ngũ biến, dĩ chủ ngũ du.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Dùng năm biến để chủ năm du huyệt thì như thế nào?
Tạng chủ mùa đông, nên mùa đông châm huyệt Tỉnh. Sắc chủ mùa xuân, nên mùa xuân châm huyệt Huỳnh. Thời chủ mùa hạ, nên mùa hạ châm huyệt Du. Âm chủ trưởng hạ, nên trưởng hạ châm huyệt Kinh. Vị chủ mùa thu, nên mùa thu châm huyệt Hợp. Đó gọi là năm biến dùng để chủ năm du huyệt.
Giải thích
Đoạn này nói cách phối hợp năm biến với năm du huyệt. Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp là năm loại huyệt theo dòng khí của kinh mạch. Khí từ Tỉnh mà ra, qua Huỳnh, Du, Kinh, rồi vào Hợp, giống như dòng nước từ nguồn nhỏ dần dần thành lớn.
Ở đây Nội Kinh đem tạng, sắc, thời, âm, vị phối với đông, xuân, hạ, trưởng hạ, thu, rồi lại phối với Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp. Ý chính là châm trị phải thuận theo mùa, theo tạng, theo biến hóa của bệnh, không nên lấy huyệt một cách máy móc.
7
Nguyên văn
黃帝曰:諸原安和,以致五輸。歧伯曰:原獨不應五時,以經合之,以應其數,故六六三十六輸。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Chư nguyên an hòa, dĩ trí ngũ du. Kỳ Bá viết: Nguyên độc bất ứng ngũ thời, dĩ kinh hợp chi, dĩ ứng kỳ số, cố lục lục tam thập lục du.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Các huyệt Nguyên điều hòa như thế nào để dẫn đến năm du?
Kỳ Bá thưa: Riêng huyệt Nguyên không ứng với năm thời; phải đem hợp với kinh để ứng theo con số của nó. Vì vậy sáu lần sáu thành ba mươi sáu du huyệt.
Giải thích
“Huyệt Nguyên” là nơi nguyên khí của tạng phủ lưu trú và biểu hiện trên kinh mạch. Riêng Nguyên huyệt không phối đơn giản với năm mùa như Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp. Vì vậy phải đem Nguyên huyệt hợp với kinh mạch để tính số. “Lục lục tam thập lục du” là sáu kinh âm dương ở tay chân, mỗi kinh có sáu huyệt trọng yếu, hợp lại thành ba mươi sáu du huyệt.
Đoạn này cho thấy hệ thống huyệt không chỉ có năm du, mà còn có Nguyên huyệt, và cách phối hợp số mục phải tùy hệ thống kinh mạch.
8
Nguyên văn
黃帝曰:何謂藏主冬,時主夏,音主長夏,味主秋,色主春。願聞其故。歧伯曰:病在藏者,取之井;病變於色者,取之滎;病時間時甚者,取之輸;病變於音者,取之經;經滿而血者,病在胃;及以飲食不節得病者,取之於合,故命曰味主合。是謂五變也。
Hán Việt
Hoàng Đế viết: Hà vị tạng chủ đông, thời chủ hạ, âm chủ trưởng hạ, vị chủ thu, sắc chủ xuân? Nguyện văn kỳ cố. Kỳ Bá viết: Bệnh tại tạng giả, thủ chi Tỉnh; bệnh biến ư sắc giả, thủ chi Huỳnh; bệnh thời gian thời thậm giả, thủ chi Du; bệnh biến ư âm giả, thủ chi Kinh; kinh mãn nhi huyết giả, bệnh tại vị; cập dĩ ẩm thực bất tiết đắc bệnh giả, thủ chi ư Hợp, cố mệnh viết vị chủ Hợp. Thị vị ngũ biến dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi: Thế nào gọi là tạng chủ mùa đông, thời chủ mùa hạ, âm chủ trưởng hạ, vị chủ mùa thu, sắc chủ mùa xuân? Xin được nghe lý do.
Kỳ Bá thưa: Bệnh ở tạng thì lấy huyệt Tỉnh. Bệnh biến hiện ở sắc thì lấy huyệt Huỳnh. Bệnh khi đến thời nào đó thì nặng lên, thì lấy huyệt Du. Bệnh biến ở âm thanh, tiếng nói, thì lấy huyệt Kinh. Kinh mạch đầy mà có huyết, bệnh ở vị; cùng với những bệnh do ăn uống không điều độ mà sinh ra, thì lấy huyệt Hợp, nên gọi là vị chủ Hợp. Đó gọi là năm biến.
Giải thích
Đoạn cuối giải thích cách dùng năm du huyệt theo biểu hiện bệnh. Bệnh ở tạng sâu thì lấy Tỉnh. Bệnh hiện ra sắc mặt thì lấy Huỳnh. Bệnh có tính thời gian, đến lúc nào đó lại nặng thì lấy Du. Bệnh biểu hiện qua âm thanh, tiếng nói thì lấy Kinh. Bệnh do kinh mạch đầy, huyết ứ, hoặc do ăn uống không điều độ ảnh hưởng đến vị thì lấy Hợp.
Ý của đoạn này là phải nhìn nơi bệnh biểu hiện mà chọn loại huyệt tương ứng. Không phải hễ bệnh gan thì chỉ lấy huyệt của gan, hễ bệnh phế thì chỉ lấy huyệt của phế, mà phải xét bệnh ở tạng, ở sắc, ở thời, ở âm, ở vị, rồi mới định Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp.
Tóm lại
Thiên “Thuận khí một ngày chia làm bốn mùa” nói rằng khí trong một ngày cũng vận hành như khí của một năm. Buổi sáng như mùa xuân, nhân khí sinh nên bệnh nhẹ; giữa trưa như mùa hạ, nhân khí trưởng nên bệnh yên; chiều tối như mùa thu, nhân khí suy nên bệnh tăng; nửa đêm như mùa đông, nhân khí tàng nên bệnh nặng.
Thiên này cũng chỉ rõ người thầy thuốc phải thuận theo thời khí. Bệnh thường có quy luật theo sáng, trưa, chiều, đêm; nhưng có bệnh lại do một tạng riêng làm chủ, khi ấy phải xét tạng khí thắng hay không thắng thời khí. Biết thuận theo thiên thời thì có thể dự đoán bệnh thế; trái với thiên thời thì trị bệnh thô sơ.
Phần sau đem năm tạng, năm biến, năm thời và năm du huyệt phối hợp với nhau. Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp không chỉ là tên huyệt, mà là nơi khí của kinh mạch biến hóa theo nông sâu, thịnh suy. Châm trị cần xét bệnh ở tạng, ở sắc, ở thời, ở âm, ở vị, rồi chọn huyệt cho đúng. Đây là tinh thần “thuận khí nhi trị”, lấy thời khí và khí cơ làm gốc trong phép châm.