Dẫn nhập
Thiên “Ngũ sắc” bàn về phép xem sắc ở mặt để xét tạng phủ, kinh lạc, trong ngoài, hàn nhiệt, hư thực, nặng nhẹ và thuận nghịch của bệnh. “Ngũ sắc” là xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, ứng với ngũ tạng: xanh thuộc can, đỏ thuộc tâm, vàng thuộc tỳ, trắng thuộc phế, đen thuộc thận. Thiên này đặc biệt nói đến “Minh đường”, tức vùng mũi và các khu vực trên mặt, xem đó là nơi khí sắc của tạng phủ hiện ra. Người thầy thuốc giỏi phải biết xét sắc sáng hay tối, nhuận hay khô, nổi hay chìm, tán hay tụ, đi lên hay đi xuống, để suy ra bệnh ở ngoài hay trong, mới phát hay đã lâu, dễ trị hay khó trị.
1
雷公問於黃帝曰:五色獨決於明堂乎?小子未知其所謂也。
Lôi Công vấn ư Hoàng Đế viết: Ngũ sắc độc quyết ư Minh đường hồ? Tiểu tử vị tri kỳ sở vị dã.
Lôi Công hỏi Hoàng Đế rằng: Năm sắc có phải chỉ quyết đoán ở Minh đường hay không? Kẻ học trò nhỏ này chưa biết ý nghĩa ấy là gì.
Giải thích
“Minh đường” trong thiên này chủ yếu chỉ vùng mũi, là nơi khí sắc tạng phủ biểu hiện rõ. Lôi Công hỏi: phép xem năm sắc để đoán bệnh có phải lấy Minh đường làm then chốt hay không.
黃帝曰:明堂者,鼻也;闕者,眉間也;庭者,顏也;蕃者,頰側也;蔽者,耳門也。
Hoàng Đế viết: Minh đường giả, tỵ dã; khuyết giả, mi gian dã; đình giả, nhan dã; phiên giả, giáp trắc dã; tế giả, nhĩ môn dã.
Hoàng Đế đáp: Minh đường là mũi; Khuyết là khoảng giữa hai lông mày; Đình là vùng trán; Phiên là hai bên má; Tế là cửa tai.
Giải thích
Đây là cách phân khu trên mặt để xem sắc. Mũi là Minh đường; giữa hai mày là Khuyết; trán là Đình; hai bên má là Phiên; cửa tai là Tế. Mỗi khu vực đều có ý nghĩa chẩn đoán riêng.
其間欲方大,去之十步,皆見於外,如是者壽,必中百歲。
Kỳ gian dục phương đại, khứ chi thập bộ, giai kiến ư ngoại, như thị giả thọ, tất trung bách tuế.
Khoảng giữa các vùng ấy nên vuông rộng. Cách xa mười bước vẫn thấy rõ biểu hiện bên ngoài. Người như vậy thì thọ, ắt có thể đến trăm tuổi.
Giải thích
“Phương đại” là hình thể đầy đặn, ngay ngắn, rộng rãi. Sắc diện rõ ràng, hình mạo sáng sủa, từ xa vẫn thấy thần khí đầy đủ, đó là biểu hiện chính khí sung túc, tạng phủ ổn định, nên được xem là tướng trường thọ.
2
雷公曰:五言之辨,奈何?
Lôi Công viết: Ngũ ngôn chi biện, nại hà?
Lôi Công hỏi: Sự phân biệt của năm điều ấy như thế nào?
Giải thích
“Năm điều” ở đây tiếp nối các khu vực đã nêu: Minh đường, Khuyết, Đình, Phiên, Tế, đồng thời cũng liên hệ ngũ sắc và ngũ tạng.
黃帝曰:明堂骨高以起,平以直,五藏次於中央,六府挾其兩側,首面上於闕庭,王宮在於下極,五藏安於胸中,真色以致,病色不見,明堂潤澤以清,五官惡得無辨乎?
Hoàng Đế viết: Minh đường cốt cao dĩ khởi, bình dĩ trực, ngũ tạng thứ ư trung ương, lục phủ hiệp kỳ lưỡng trắc, thủ diện thượng ư Khuyết Đình, vương cung tại ư hạ cực, ngũ tạng an ư hung trung, chân sắc dĩ trí, bệnh sắc bất kiến, Minh đường nhuận trạch dĩ thanh, ngũ quan ô đắc vô biện hồ?
Hoàng Đế đáp: Xương Minh đường cao mà nổi, bằng mà thẳng; ngũ tạng sắp đặt ở trung ương, lục phủ kèm hai bên; phần đầu mặt ở trên thuộc Khuyết Đình, vương cung ở nơi hạ cực. Ngũ tạng yên ổn trong ngực, chân sắc hiện đến, bệnh sắc không lộ; Minh đường nhuận trạch mà trong sáng, thì năm quan làm sao lại không phân biệt được?
Giải thích
“Chân sắc” là sắc bình thường, có thần, có nhuận, ứng với khí tạng phủ khỏe. “Bệnh sắc” là sắc xấu, khô, tối, thô, lộ ra khi tạng phủ có bệnh. Nếu Minh đường cao thẳng, nhuận sáng, khí sắc điều hòa thì năm vùng trên mặt có thể phân biệt rõ, biểu hiện tạng phủ yên ổn.
3
雷公曰:其不辨者,可得聞乎?
Lôi Công viết: Kỳ bất biện giả, khả đắc văn hồ?
Lôi Công hỏi: Những trường hợp không thể phân biệt rõ, có thể được nghe chăng?
黃帝曰:五色之見也,各出其色部。部骨陷者,必不免於病矣。其色部乘襲者,雖病甚,不死矣。
Hoàng Đế viết: Ngũ sắc chi kiến dã, các xuất kỳ sắc bộ. Bộ cốt hãm giả, tất bất miễn ư bệnh hĩ. Kỳ sắc bộ thừa tập giả, tuy bệnh thậm, bất tử hĩ.
Hoàng Đế đáp: Khi năm sắc hiện ra, mỗi sắc đều xuất hiện ở bộ vị của nó. Nếu xương ở bộ vị ấy lõm xuống, ắt không tránh khỏi bệnh. Nếu sắc ở các bộ vị thừa tiếp nhau, tuy bệnh nặng cũng không chết.
Giải thích
“Bộ” là vùng tương ứng trên mặt. Bộ xương lõm cho thấy nền tảng không đầy đủ, chính khí dễ suy nên khó tránh bệnh. “Thừa tập” là các sắc có sự nối tiếp, còn có trật tự sinh hóa, chưa đến mức tuyệt khí, nên dù bệnh nặng vẫn còn cơ sống.
4
雷公曰:官五色奈何?
Lôi Công viết: Quan ngũ sắc nại hà?
Lôi Công hỏi: Quan sát năm sắc như thế nào?
黃帝曰:青黑為痛,黃赤為熱,白為寒,是謂五官。
Hoàng Đế viết: Thanh hắc vi thống, hoàng xích vi nhiệt, bạch vi hàn, thị vị ngũ quan.
Hoàng Đế đáp: Sắc xanh đen chủ đau; sắc vàng đỏ chủ nhiệt; sắc trắng chủ hàn. Đó gọi là phép xem năm sắc.
Giải thích
Xanh và đen thường liên hệ huyết khí ngưng trệ, hàn ngưng hoặc đau. Vàng đỏ thường có nhiệt, thấp nhiệt hoặc huyết nhiệt. Trắng thường là hàn, hư, khí huyết không đủ. Đây là quy tắc đại cương, khi dùng phải phối hợp với mạch và chứng.
5
雷公曰:病之益甚,與其方衰,如何?
Lôi Công viết: Bệnh chi ích thậm, dữ kỳ phương suy, như hà?
Lôi Công hỏi: Làm sao biết bệnh đang nặng thêm hay đang suy giảm?
黃帝曰:外內皆在焉。切其脈口,滑小緊以沉者,病益甚,在中;人迎氣大緊以浮者,其病益甚,在外。
Hoàng Đế viết: Ngoại nội giai tại yên. Thiết kỳ mạch khẩu, hoạt tiểu khẩn dĩ trầm giả, bệnh ích thậm, tại trung; Nhân nghênh khí đại khẩn dĩ phù giả, kỳ bệnh ích thậm, tại ngoại.
Hoàng Đế đáp: Trong ngoài đều có thể xét được. Chẩn mạch khẩu mà thấy mạch hoạt, nhỏ, khẩn và trầm thì bệnh nặng thêm ở bên trong. Nhân nghênh khí lớn, khẩn mà phù thì bệnh nặng thêm ở bên ngoài.
Giải thích
“Mạch khẩu” thường chỉ Thốn khẩu, chủ xét phần trong. “Nhân nghênh” ở vùng cổ, chủ xét phần ngoài. Trầm là bệnh vào trong; phù là bệnh ở ngoài; khẩn thường chủ hàn, đau, co gấp; hoạt có thể chủ đàm, thực, nhiệt hoặc tà khí lưu động. Phải phối hợp vị trí mạch để biết bệnh ở trong hay ngoài.
其脈口浮滑者,病日進;人迎沉而滑者,病日損。
Kỳ mạch khẩu phù hoạt giả, bệnh nhật tiến; Nhân nghênh trầm nhi hoạt giả, bệnh nhật tổn.
Mạch khẩu phù hoạt thì bệnh ngày càng tiến. Nhân nghênh trầm mà hoạt thì bệnh ngày càng giảm.
Giải thích
Ở đây cần xét sự thuận nghịch của trong ngoài. Mạch khẩu vốn chủ trong mà lại phù hoạt, cho thấy khí bệnh không yên, bệnh đang tiến. Nhân nghênh vốn chủ ngoài mà trầm hoạt, cho thấy tà ở ngoài đã bớt nổi, thế bệnh giảm dần.
其脈口滑以沉者,病日進,在內;其人迎脈滑盛以浮者,其病日進,在外。
Kỳ mạch khẩu hoạt dĩ trầm giả, bệnh nhật tiến, tại nội; kỳ Nhân nghênh mạch hoạt thịnh dĩ phù giả, kỳ bệnh nhật tiến, tại ngoại.
Mạch khẩu hoạt mà trầm thì bệnh ngày càng tiến ở bên trong. Mạch Nhân nghênh hoạt, thịnh mà phù thì bệnh ngày càng tiến ở bên ngoài.
Giải thích
Nếu mạch khẩu trầm hoạt, tức tà khí ở bên trong còn đang thịnh. Nếu Nhân nghênh phù thịnh hoạt, tức tà khí ở biểu, ở dương phận còn đang mạnh. Vì vậy đều là bệnh tiến, chỉ khác một bên ở trong, một bên ở ngoài.
脈之浮沉及人迎與寸口氣小大等者,病難已;病之在藏,沉而大者,易已,小為逆;病在府,浮而大者,其病易已。人迎盛堅者,傷於寒,氣口盛堅者,傷於食。
Mạch chi phù trầm cập Nhân nghênh dữ Thốn khẩu khí tiểu đại đẳng giả, bệnh nan dĩ; bệnh chi tại tạng, trầm nhi đại giả, dị dĩ, tiểu vi nghịch; bệnh tại phủ, phù nhi đại giả, kỳ bệnh dị dĩ. Nhân nghênh thịnh kiên giả, thương ư hàn; khí khẩu thịnh kiên giả, thương ư thực.
Mạch phù trầm, cùng với khí của Nhân nghênh và Thốn khẩu lớn nhỏ bằng nhau, thì bệnh khó khỏi. Bệnh ở tạng, mạch trầm mà đại thì dễ khỏi, mạch nhỏ là nghịch. Bệnh ở phủ, mạch phù mà đại thì dễ khỏi. Nhân nghênh thịnh mà cứng là bị thương bởi hàn; khí khẩu thịnh mà cứng là bị thương bởi ăn uống.
Giải thích
Bệnh ở tạng thuộc trong, mạch trầm mà đại còn có khí, nên dễ khỏi; nếu nhỏ là chính khí suy, nên nghịch. Bệnh ở phủ thuộc ngoài hơn, mạch phù đại là tà có đường phát ra, nên dễ khỏi. Nhân nghênh chủ ngoài, thịnh kiên thường là hàn tà bó ở biểu. Khí khẩu chủ trong, thịnh kiên thường liên hệ thực tích, thương thực ở trung tiêu.
6
雷公曰:以色言食之間甚,奈何?
Lôi Công viết: Dĩ sắc ngôn thực chi gian thậm, nại hà?
Lôi Công hỏi: Dựa vào sắc để nói bệnh do ăn uống khi nhẹ khi nặng thì như thế nào?
黃帝曰:其色麤以明,沉夭者為甚,其色上行者,病益甚;其色下行,如雲徹散者,病方已。
Hoàng Đế viết: Kỳ sắc thô dĩ minh, trầm yểu giả vi thậm, kỳ sắc thượng hành giả, bệnh ích thậm; kỳ sắc hạ hành, như vân triệt tán giả, bệnh phương dĩ.
Hoàng Đế đáp: Sắc thô mà sáng, lại chìm tối, là bệnh nặng. Sắc đi lên thì bệnh càng nặng. Sắc đi xuống, như mây tan dần, là bệnh đang khỏi.
Giải thích
“Sắc thô” là sắc không nhuận, không mịn; “trầm yểu” là chìm tối, mất sáng. Sắc bệnh đi lên thường biểu hiện tà thế nghịch thượng, bệnh tăng. Sắc đi xuống và tan ra như mây tản là tà khí suy, bệnh sắp giải.
五色各有藏部,有外部有內部也。色從外部走內部者,其病從外走內;其色從內走外者,其病從內走外。
Ngũ sắc các hữu tạng bộ, hữu ngoại bộ hữu nội bộ dã. Sắc tùng ngoại bộ tẩu nội bộ giả, kỳ bệnh tùng ngoại tẩu nội; kỳ sắc tùng nội tẩu ngoại giả, kỳ bệnh tùng nội tẩu ngoại.
Năm sắc đều có bộ vị tạng riêng, lại có bộ ngoài và bộ trong. Sắc từ bộ ngoài đi vào bộ trong thì bệnh từ ngoài vào trong. Sắc từ bộ trong đi ra bộ ngoài thì bệnh từ trong ra ngoài.
Giải thích
Sự di chuyển của sắc phản ánh đường đi của bệnh. Từ ngoài vào trong là tà khí nhập lý, thường nặng thêm. Từ trong ra ngoài là bệnh có xu hướng xuất biểu, thường là đường giải, nhưng vẫn phải xét sắc nhuận hay xấu, mạch thuận hay nghịch.
病生於內者,先治其陰,後治其陽,反者益甚。其病生於陽者,先治其外,後治其內,反者益甚。
Bệnh sinh ư nội giả, tiên trị kỳ âm, hậu trị kỳ dương, phản giả ích thậm. Kỳ bệnh sinh ư dương giả, tiên trị kỳ ngoại, hậu trị kỳ nội, phản giả ích thậm.
Bệnh sinh từ bên trong thì trước trị phần âm, sau mới trị phần dương; làm ngược lại thì bệnh càng nặng. Bệnh sinh từ dương phận thì trước trị phần ngoài, sau mới trị phần trong; làm ngược lại thì bệnh càng nặng.
Giải thích
Đây là nguyên tắc thứ tự trị bệnh. Bệnh từ trong sinh thì gốc ở âm, ở tạng, ở lý, nên trước phải trị âm. Bệnh từ ngoài, từ dương phận sinh thì trước phải giải ngoại, sau mới điều nội. Trị sai thứ tự có thể làm tà khí lún sâu hoặc chính khí thêm tổn.
其脈滑大,以代而長者,病從外來,目有所見,志有所惡,此陽氣之並也,可變而已。
Kỳ mạch hoạt đại, dĩ đại nhi trường giả, bệnh tùng ngoại lai, mục hữu sở kiến, chí hữu sở ố, thử dương khí chi tính dã, khả biến nhi dĩ.
Mạch hoạt đại, lại có dạng thay đổi mà dài, là bệnh từ ngoài đến. Mắt từng thấy điều gì đó, chí ý có điều ghét sợ, đây là dương khí cùng dồn lại, có thể biến hóa mà khỏi.
Giải thích
Đoạn này nói bệnh từ ngoài đến, có liên hệ cảm xúc, kinh sợ, điều mắt thấy và tâm chí chán ghét. “Dương khí chi tính” là dương khí bị dồn tụ, không điều đạt. Nếu nhận đúng nguồn gốc và thuận thế điều giải thì còn có thể chuyển biến mà khỏi.
7
雷公曰:小子聞風者,百病之始也;厥逆者,寒濕之起也,別之奈何?
Lôi Công viết: Tiểu tử văn phong giả, bách bệnh chi thủy dã; quyết nghịch giả, hàn thấp chi khởi dã, biệt chi nại hà?
Lôi Công thưa: Kẻ học trò nhỏ này nghe rằng phong là khởi đầu của trăm bệnh; quyết nghịch là sự phát khởi của hàn thấp. Làm sao phân biệt?
黃帝曰:常候闕中,薄澤為風,沖濁為痺。在地為厥。此其常也;各以其色言其病。
Hoàng Đế viết: Thường hậu Khuyết trung, bạc trạch vi phong, xung trọc vi tý. Tại địa vi quyết. Thử kỳ thường dã; các dĩ kỳ sắc ngôn kỳ bệnh.
Hoàng Đế đáp: Thường nên quan sát vùng Khuyết trung. Sắc mỏng mà nhuận là phong; sắc xung động mà đục là tý. Ở phần đất thì là quyết. Đó là quy luật thường; mỗi bệnh đều dựa vào sắc của nó mà nói.
Giải thích
“Khuyết trung” là vùng giữa hai lông mày. Phong thường nhẹ, động, ở phần trên và ngoài, nên sắc mỏng mà nhuận. Tý do hàn thấp làm khí huyết bế trở, nên sắc xung mà đục. “Tại địa vi quyết” có thể hiểu bệnh ở phần dưới, thuộc hàn thấp nghịch trệ, thì thành quyết nghịch.
8
雷公曰:人不病卒死,何以知之?
Lôi Công viết: Nhân bất bệnh tốt tử, hà dĩ tri chi?
Lôi Công hỏi: Người không có bệnh mà đột nhiên chết, làm sao biết trước?
黃帝曰:大氣入于藏府者,不病而卒死矣。
Hoàng Đế viết: Đại khí nhập vu tạng phủ giả, bất bệnh nhi tốt tử hĩ.
Hoàng Đế đáp: Đại khí nhập vào tạng phủ thì có thể không bệnh mà đột nhiên chết.
Giải thích
“Đại khí” ở đây chỉ một loại khí biến động mạnh, tà khí hoặc khí nghịch lớn xâm nhập sâu vào tạng phủ, làm khí cơ đột ngột tuyệt. Cách nói này thuộc ngôn ngữ cổ y, nhằm chỉ những biến cố nguy cấp xảy ra rất nhanh.
雷公曰:病小愈而卒死者,何以知之?
Lôi Công viết: Bệnh tiểu dũ nhi tốt tử giả, hà dĩ tri chi?
Lôi Công hỏi: Người bệnh vừa hơi khỏi mà đột nhiên chết, làm sao biết?
黃帝曰:赤色出兩顴,大如拇指者,病雖小愈,必卒死。黑色出於庭,大如拇指,必不病而卒死。
Hoàng Đế viết: Xích sắc xuất lưỡng quyền, đại như mẫu chỉ giả, bệnh tuy tiểu dũ, tất tốt tử. Hắc sắc xuất ư Đình, đại như mẫu chỉ, tất bất bệnh nhi tốt tử.
Hoàng Đế đáp: Sắc đỏ hiện ở hai gò má, lớn bằng ngón tay cái, dù bệnh hơi khỏi cũng ắt đột nhiên chết. Sắc đen hiện ở vùng Đình, lớn bằng ngón tay cái, ắt không bệnh mà đột nhiên chết.
Giải thích
Hai gò má ứng với khí huyết phần trên; đỏ bất thường như mảng lớn có thể là hư dương bốc lên, huyết nhiệt bạo lộ hoặc khí huyết sắp tuyệt theo cách nhìn cổ y. Sắc đen ở trán là dấu hiệu thận khí, âm hàn hoặc tử khí hiện ra. Đây là lời cổ văn nói về sắc chết, khi giảng hiện nay nên trình bày thận trọng, không dùng một dấu hiệu đơn lẻ để quyết đoán sinh tử.
9
雷公再拜曰:善哉!其死有期乎?
Lôi Công tái bái viết: Thiện tai! Kỳ tử hữu kỳ hồ?
Lôi Công lạy hai lạy rồi thưa: Hay thay! Cái chết ấy có kỳ hạn nhất định không?
黃帝曰:察色以言其時。
Hoàng Đế viết: Sát sắc dĩ ngôn kỳ thời.
Hoàng Đế đáp: Xét sắc thì có thể nói thời điểm của nó.
Giải thích
Cổ nhân cho rằng sắc có vị trí, hướng đi, độ sáng tối, tán tụ khác nhau, từ đó có thể suy đoán bệnh thế và thời kỳ. Nhưng đây là phép chẩn cổ, cần phối hợp toàn bộ mạch chứng.
雷公曰:善乎!願卒聞之。
Lôi Công viết: Thiện hồ! Nguyện tốt văn chi.
Lôi Công thưa: Hay thay! Con xin được nghe trọn vẹn.
黃帝曰:庭者,首面也;闕上者,咽喉也;闕中者,肺也;下極者,心也;直下者,肝也;肝左者,膽也;下者,脾也;方上者,胃也;中央者,大腸也;挾大腸者,腎也;當腎者,臍也;面王以上者,小腸也,面王以下者,膀胱子處也。
Hoàng Đế viết: Đình giả, thủ diện dã; Khuyết thượng giả, yết hầu dã; Khuyết trung giả, phế dã; hạ cực giả, tâm dã; trực hạ giả, can dã; can tả giả, đởm dã; hạ giả, tỳ dã; phương thượng giả, vị dã; trung ương giả, đại trường dã; hiệp đại trường giả, thận dã; đương thận giả, tề dã; diện vương dĩ thượng giả, tiểu trường dã, diện vương dĩ hạ giả, bàng quang tử xứ dã.
Hoàng Đế nói: Đình là phần đầu mặt. Trên Khuyết là yết hầu. Giữa Khuyết là phế. Hạ cực là tâm. Thẳng xuống dưới là can. Bên trái của can là đởm. Xuống dưới nữa là tỳ. Vùng vuông phía trên là vị. Trung ương là đại trường. Hai bên kèm đại trường là thận. Vùng ứng với thận là rốn. Phía trên Diện vương là tiểu trường; phía dưới Diện vương là bàng quang và tử xứ.
Giải thích
Đây là bản đồ phân khu tạng phủ trên mặt. “Diện vương” là một vùng trung tâm trên mặt dùng trong phép sắc chẩn cổ. “Tử xứ” ở nữ giới chỉ vùng tử cung, bào cung; ở đây đi cùng bàng quang để chỉ vùng hạ tiêu.
顴者,肩也;顴後者,臂也;臂下者,手也;目內眥上者,膺乳也;挾繩而上者,背也;循牙車以下者,股也;中央者,膝也;膝以下者,脛也;當脛以下者,足也;巨分者,股裏也;巨屈者,膝臏也。
Quyền giả, kiên dã; quyền hậu giả, tý dã; tý hạ giả, thủ dã; mục nội tý thượng giả, ưng nhũ dã; hiệp thằng nhi thượng giả, bối dã; tuần nha xa dĩ hạ giả, cổ dã; trung ương giả, tất dã; tất dĩ hạ giả, hĩnh dã; đương hĩnh dĩ hạ giả, túc dã; cự phân giả, cổ lý dã; cự khuất giả, tất tẫn dã.
Gò má ứng với vai. Sau gò má ứng với cánh tay. Dưới vùng cánh tay ứng với bàn tay. Phía trên khóe mắt trong ứng với ngực và vú. Hai bên đường dây đi lên ứng với lưng. Theo xương hàm đi xuống ứng với đùi. Trung ương ứng với gối. Dưới gối ứng với cẳng chân. Dưới cẳng chân ứng với bàn chân. Cự phân ứng với mặt trong đùi. Cự khuất ứng với xương bánh chè.
Giải thích
Đoạn này mở rộng sắc chẩn từ tạng phủ sang chi thể. Mặt không chỉ ứng với ngũ tạng lục phủ, mà còn ứng với vai, tay, lưng, đùi, gối, cẳng chân, bàn chân. Đây là hệ thống quy chiếu cổ để xem sắc ở mặt mà đoán bệnh ở thân thể.
此五藏六府肢節之部也,各有部分。有部分,用陰和陽,用陽和陰,當明部分,萬舉萬當。
Thử ngũ tạng lục phủ chi tiết chi bộ dã, các hữu bộ phận. Hữu bộ phận, dụng âm hòa dương, dụng dương hòa âm, đương minh bộ phận, vạn cử vạn đương.
Đó là các bộ vị của ngũ tạng, lục phủ và chi tiết, mỗi nơi đều có phần khu riêng. Đã có phần khu thì dùng âm để hòa dương, dùng dương để hòa âm. Nếu hiểu rõ các bộ phận, thì muôn lần xử trí đều có thể thích đáng.
Giải thích
“Dụng âm hòa dương, dụng dương hòa âm” là nguyên tắc điều hòa âm dương. Biết bệnh thuộc khu nào, tạng phủ nào, âm hay dương, trong hay ngoài, thì phép trị mới đúng.
能別左右,是謂大道;男女異位,故曰陰陽。審察澤夭,謂之良工。
Năng biệt tả hữu, thị vị đại đạo; nam nữ dị vị, cố viết âm dương. Thẩm sát trạch yểu, vị chi lương công.
Biết phân biệt trái phải, đó gọi là đại đạo. Nam nữ có vị trí khác nhau, cho nên gọi là âm dương. Xét kỹ sắc nhuận hay khô tối, thì gọi là thầy thuốc giỏi.
Giải thích
Trái phải, nam nữ, âm dương đều có quy luật riêng trong sắc chẩn. “Trạch” là nhuận sáng, còn sinh khí; “yểu” là tối héo, mất thần. Thầy thuốc giỏi phải xét được sắc còn thần hay mất thần.
10
沉濁為內,浮澤為外。
Trầm trọc vi nội, phù trạch vi ngoại.
Sắc chìm đục là bệnh ở trong; sắc nổi mà nhuận là bệnh ở ngoài.
Giải thích
“Trầm” là chìm sâu, “trọc” là đục tối, thường biểu hiện bệnh vào lý. “Phù trạch” là sắc nổi ở ngoài mà còn nhuận, thường bệnh còn ở biểu, ở ngoài, dễ giải hơn.
黃赤為風,青黑為痛,白為寒,黃而膏潤為膿,赤甚者為血痛,甚為攣,寒甚為皮不仁。
Hoàng xích vi phong, thanh hắc vi thống, bạch vi hàn, hoàng nhi cao nhuận vi nùng, xích thậm giả vi huyết thống, thậm vi luyến, hàn thậm vi bì bất nhân.
Sắc vàng đỏ là phong. Sắc xanh đen là đau. Sắc trắng là hàn. Sắc vàng mà nhờn nhuận như mỡ là có mủ. Sắc đỏ quá mức là huyết đau; nặng thì co quắp. Hàn quá mức thì da mất cảm giác.
Giải thích
Đây là phép quy nạp sắc và chứng. Vàng đỏ có thể là phong nhiệt hoặc khí huyết bị động. Xanh đen chủ đau do khí huyết bế trệ. Trắng chủ hàn. Vàng nhờn nhuận có thể ứng với thấp nhiệt hóa mủ. Đỏ cực thịnh liên hệ huyết nhiệt, đau, co rút. Hàn nặng làm dương khí không thông ra da, nên bì phu tê dại, không biết đau ngứa.
五色各見其部,察其浮沉,以知淺深;察其澤夭,以觀成敗;察其散搏,以知遠近;視色上下,以知病處;積神於心,以知往今。
Ngũ sắc các kiến kỳ bộ, sát kỳ phù trầm, dĩ tri thiển thâm; sát kỳ trạch yểu, dĩ quan thành bại; sát kỳ tán bác, dĩ tri viễn cận; thị sắc thượng hạ, dĩ tri bệnh xứ; tích thần ư tâm, dĩ tri vãng kim.
Năm sắc đều hiện ở bộ vị của nó. Xét nổi hay chìm để biết bệnh nông hay sâu. Xét nhuận sáng hay khô tối để biết bệnh thành hay bại. Xét tán hay tụ để biết bệnh xa hay gần. Nhìn sắc lên hay xuống để biết nơi bệnh ở. Gom thần vào tâm thì biết được bệnh trước nay.
Giải thích
Đây là đoạn rất quan trọng của sắc chẩn. Phù trầm biết nông sâu; trạch yểu biết thuận nghịch; tán tụ biết bệnh mới hay đã kết; thượng hạ biết hướng đi và vị trí bệnh; “tích thần ư tâm” là thầy thuốc phải tập trung thần khí, quan sát tinh vi, không hời hợt.
故相氣不微,不知是非,屬意勿去,乃知新故。
Cố tướng khí bất vi, bất tri thị phi; chúc ý vật khứ, nãi tri tân cố.
Cho nên xem khí sắc mà không tinh vi thì không biết đúng sai. Phải chuyên chú ý niệm không rời, mới biết bệnh mới hay bệnh cũ.
Giải thích
Sắc chẩn không phải nhìn thoáng qua là đủ. Phải nhìn kỹ sắc khí, thần khí, vị trí, độ nhuận, độ tối, tán tụ, lên xuống. “Tân cố” là bệnh mới hay bệnh cũ.
色明不麤,沉天為甚,不明不澤,其病不甚。
Sắc minh bất thô, trầm thiên vi thậm; bất minh bất trạch, kỳ bệnh bất thậm.
Sắc sáng mà không thô, nếu chìm tối thì là nặng. Sắc không sáng, không nhuận, thì bệnh chưa hẳn đã rất nặng.
Giải thích
Câu này hơi khó. Ý chính là phải phân biệt sắc có thần hay không, thô hay mịn, sáng hay tối, chìm hay nổi. Có khi sắc sáng mà bên trong lại có màu chìm tối, đó là tà khí sâu nên nặng. Nếu chỉ không sáng, không nhuận nhưng chưa có sắc xấu tụ sâu, bệnh có thể chưa đến mức quá nặng.
其色散,駒駒然,未有聚;其病散而氣痛,聚未成也。
Kỳ sắc tán, câu câu nhiên, vị hữu tụ; kỳ bệnh tán nhi khí thống, tụ vị thành dã.
Sắc tản ra, lốm đốm như dáng ngựa con chạy tán, chưa có chỗ tụ. Bệnh ấy còn tản, chỉ là khí đau, sự kết tụ chưa thành.
Giải thích
“Tán” là bệnh khí chưa kết. Nếu sắc tản mác, chưa tụ thành mảng rõ, bệnh còn ở khí phận, đau do khí cơ không thông, chưa thành tích tụ cố định. Đây thường nhẹ hơn sắc tụ, sắc đậm, sắc chìm.
11
腎乘心,心先病,腎為應,色皆如是。
Thận thừa tâm, tâm tiên bệnh, thận vi ứng, sắc giai như thị.
Thận thừa tâm thì tâm bệnh trước, thận theo đó mà ứng; sắc đều theo quy luật như vậy.
Giải thích
“Thừa” là một tạng khắc lấn hoặc ảnh hưởng quá mức đến tạng khác. Thận thuộc thủy, tâm thuộc hỏa; thủy thừa hỏa thì tâm bị ảnh hưởng trước, rồi thận sắc ứng hiện. Khi xem sắc phải hiểu quan hệ sinh khắc, thừa vũ giữa ngũ tạng, không chỉ nhìn một màu đơn độc.
12
男子色在于面王,為小腹痛;下為卵痛;其圜直為莖痛,高為本,下為首,狐疝㿉陰之屬也。
Nam tử sắc tại vu Diện vương, vi tiểu phúc thống; hạ vi noãn thống; kỳ hoàn trực vi hành thống, cao vi bản, hạ vi thủ, hồ sán, đồi âm chi thuộc dã.
Ở nam giới, sắc hiện tại vùng Diện vương là đau bụng dưới; hiện xuống dưới là đau tinh hoàn. Sắc tròn mà thẳng là đau dương vật; phần cao là gốc, phần thấp là đầu. Những chứng ấy thuộc loại hồ sán, sưng đau âm bộ.
Giải thích
Đoạn này nói sắc vùng Diện vương ứng với hạ tiêu và bộ phận sinh dục nam. “Noãn” là tinh hoàn. “Hành” là dương vật. “Hồ sán” là một loại sán khí vùng bẹn, tinh hoàn; “đồi âm” là sưng sa vùng âm bộ.
女子在于面王,為膀胱子處之病,散為痛,搏為聚,方員左右,各如其色形。
Nữ tử tại vu Diện vương, vi bàng quang tử xứ chi bệnh, tán vi thống, bác vi tụ, phương viên tả hữu, các như kỳ sắc hình.
Ở nữ giới, sắc hiện tại vùng Diện vương là bệnh của bàng quang và tử xứ. Sắc tản là đau; sắc tụ là tích tụ. Hình vuông hay tròn, ở trái hay phải, đều căn cứ vào sắc và hình của nó mà xét.
Giải thích
“Tử xứ” là nơi liên hệ bào cung, tử cung. Với nữ giới, vùng này có thể chỉ bệnh hạ tiêu, bàng quang, tử cung. Sắc tản thường là khí đau, sắc tụ thường là khối kết hoặc bệnh tích tụ.
其隨而下至胝,為淫,有潤如膏狀,為暴食不潔。
Kỳ tùy nhi hạ chí chi, vi dâm; hữu nhuận như cao trạng, vi bạo thực bất khiết.
Nếu sắc theo đó đi xuống đến vùng chân thì là chứng dâm. Có sắc nhuận như mỡ thì là do ăn uống quá độ hoặc không sạch.
Giải thích
“Dâm” ở đây có thể hiểu là thấp trọc, khí bệnh lan xuống hạ bộ, có thể liên hệ đới hạ hoặc bệnh thấp ở hạ tiêu. “Nhuận như cao” là sắc nhờn bóng như mỡ, thường chỉ thấp trọc, thực trệ, ăn uống không điều độ hoặc không sạch.
13
左為左,右為右。其色有邪,聚散而不端,面色所指者也。
Tả vi tả, hữu vi hữu. Kỳ sắc hữu tà, tụ tán nhi bất đoan, diện sắc sở chỉ giả dã.
Bên trái ứng với bên trái, bên phải ứng với bên phải. Nếu sắc có tà, khi tụ khi tán mà không ngay chính, thì nơi sắc mặt chỉ đến chính là nơi bệnh.
Giải thích
Sắc ở bên nào thì xét bệnh ở bên ấy. Sắc tà không ngay, tụ tán bất thường, lệch lạc không đoan chính, là dấu hiệu bệnh khí hiện ra. Đây là phép lấy vị trí sắc để tìm vị trí bệnh.
色者,青黑赤白黃,皆端滿有別鄉。
Sắc giả, thanh hắc xích bạch hoàng, giai đoan mãn hữu biệt hương.
Sắc gồm xanh, đen, đỏ, trắng, vàng; mỗi sắc đều phải đầy đặn ngay chính và có phương vị riêng.
Giải thích
Ngũ sắc không chỉ có màu, mà còn có vị trí, hình dạng, độ đầy, độ sáng và phương hướng. Sắc đúng vị, đầy mà nhuận là thuận; sắc sai vị, lệch, tụ, tối là tà.
別鄉赤者,其色赤,大如榆莢,在面王為不日。
Biệt hương xích giả, kỳ sắc xích, đại như du giáp, tại Diện vương vi bất nhật.
Ở phương vị riêng mà có sắc đỏ, sắc ấy đỏ, lớn như quả du giáp; nếu ở vùng Diện vương thì là bệnh không đợi ngày, tức sẽ phát rất gần.
Giải thích
“Bất nhật” nghĩa là không lâu, chẳng mấy ngày. Sắc đỏ rõ ở vùng Diện vương là dấu hiệu bệnh sắp phát hoặc bệnh thế cấp, cần xét kỹ hạ tiêu và huyết nhiệt.
其色上銳,首空上向,下銳下向,在左右如法。
Kỳ sắc thượng nhuệ, thủ không thượng hướng, hạ nhuệ hạ hướng, tại tả hữu như pháp.
Sắc ấy nếu nhọn ở trên, đầu rỗng hướng lên; hoặc nhọn ở dưới, hướng xuống; ở bên trái hay bên phải đều theo phép ấy mà xét.
Giải thích
Hướng nhọn của sắc cho biết hướng đi của bệnh khí. Hướng lên thì bệnh thế đi lên, hướng xuống thì bệnh thế đi xuống. Nằm trái hay phải thì ứng với bên trái hay bên phải của thân thể.
以五色命藏,青為肝,赤為心,白為肺,黃為脾,黑為腎。
Dĩ ngũ sắc mệnh tạng, thanh vi can, xích vi tâm, bạch vi phế, hoàng vi tỳ, hắc vi thận.
Lấy năm sắc để gọi tên tạng: xanh thuộc can, đỏ thuộc tâm, trắng thuộc phế, vàng thuộc tỳ, đen thuộc thận.
Giải thích
Đây là quy luật ngũ hành trong sắc chẩn. Can thuộc mộc nên ứng xanh; tâm thuộc hỏa ứng đỏ; phế thuộc kim ứng trắng; tỳ thuộc thổ ứng vàng; thận thuộc thủy ứng đen.
肝合筋,心合脈,肺合皮,脾合肉,腎合骨也。
Can hợp cân, tâm hợp mạch, phế hợp bì, tỳ hợp nhục, thận hợp cốt dã.
Can hợp với gân, tâm hợp với mạch, phế hợp với da, tỳ hợp với thịt, thận hợp với xương.
Giải thích
Ngũ tạng không chỉ ứng với ngũ sắc, mà còn ứng với năm loại hình thể: can chủ cân, tâm chủ mạch, phế chủ bì, tỳ chủ nhục, thận chủ cốt. Khi sắc hiện ở mặt, thầy thuốc phải liên hệ với tạng và phần thân thể tương ứng để xét bệnh.
Tiểu kết
Thiên “Ngũ sắc” trình bày phép sắc chẩn rất tinh vi. Xem sắc không phải chỉ nhìn xanh đỏ vàng trắng đen, mà phải xét đầy đủ bộ vị, trong ngoài, nổi chìm, nhuận khô, sáng tối, tán tụ, hướng lên xuống, trái phải, nam nữ. Sắc nổi mà nhuận thường thuộc ngoài; sắc chìm đục thường thuộc trong. Sắc tản là bệnh khí chưa kết; sắc tụ là bệnh đã thành hình. Sắc đi từ ngoài vào trong là bệnh tiến vào lý; sắc đi từ trong ra ngoài là bệnh có đường xuất ra.
Điều cốt yếu của thiên này là “xem ngoài để biết trong”. Mặt là nơi khí huyết tạng phủ hiện ra, nhưng phải nhìn bằng tâm thần chuyên chú, không được vội vàng. Nội kinh dạy rằng: nếu xem khí sắc không tinh vi thì không biết đúng sai; nếu chuyên chú không rời thì mới biết bệnh mới hay cũ, nặng hay nhẹ, thuận hay nghịch. Vì vậy, sắc chẩn là một phép rất quý, nhưng khi ứng dụng cần phối hợp với mạch, chứng, hỏi bệnh và toàn bộ tình trạng của người bệnh, không nên chỉ dựa vào một màu sắc đơn lẻ mà quyết đoán.