Bàn về những bệnh chứng rất khác thường và mạch tượng quyết đoán sống chết
Đoạn 1
肝满肾满肺满皆实,即为肿。肺之雍喘而两胠满,肝雍两胠满,卧则惊,不得小便;肾雍脚下至少腹满,胫有大小,髀䯒大跛,易偏枯。
Hán Việt
Can mãn, Thận mãn, Phế mãn giai thực, tức vi thũng. Phế chi ung, suyễn nhi lưỡng khư mãn; Can ung, lưỡng khư mãn, ngọa tắc kinh, bất đắc tiểu tiện; Thận ung, cước hạ chí thiểu phúc mãn, hành hữu đại tiểu, bễ hành đại bả, dị thiên khô.
Dịch nghĩa
Can đầy, Thận đầy, Phế đầy mà đều thuộc thực, thì thành chứng sưng thũng.
Phế bị ủng tắc thì sinh suyễn, hai bên hông sườn đầy.
Can bị ủng tắc thì hai bên hông sườn đầy, nằm xuống thì kinh sợ, tiểu tiện không thông.
Thận bị ủng tắc thì từ dưới chân lên đến bụng dưới đều đầy; cẳng chân có bên lớn bên nhỏ, đùi và cẳng chân sưng to, đi khập khiễng, dễ thành thiên khô.
Giải thích từ ngữ
Mãn (满): đầy, trướng, khí huyết hoặc thủy tà uất lại.
Thực (实): tà khí thịnh, có sự ứ trệ, bế tắc, không phải hư suy đơn thuần.
Thũng (肿): sưng, phù, thũng trướng.
Ung (雍): ủng tắc, khí không thông, huyết không hành, thủy không hóa.
Lưỡng khư (两胠): hai bên hông sườn, vùng dưới nách, bên thân.
Thiên khô (偏枯): một bên thân thể khô yếu, liệt yếu, thiên lệch, gần với chứng bán thân bất toại trong cách hiểu lâm sàng.
Đoạn 2
心脉满大,痫瘛筋挛。肝脉小急,痫瘛筋挛。肝脉骛暴,有所惊骇,脉不至若喑,不治自已。肾脉小急,肝脉小急,心脉小急,不鼓皆为瘕。肾肝并沈为石水,并浮为风水,并虚为死,并小弦欲惊。
Hán Việt
Tâm mạch mãn đại, giản khiết cân luyến. Can mạch tiểu cấp, giản khiết cân luyến. Can mạch vụ bạo, hữu sở kinh hãi, mạch bất chí nhược âm, bất trị tự dĩ.
Thận mạch tiểu cấp, Can mạch tiểu cấp, Tâm mạch tiểu cấp, bất cổ giai vi hà. Thận Can tịnh trầm vi thạch thủy, tịnh phù vi phong thủy, tịnh hư vi tử, tịnh tiểu huyền dục kinh.
Dịch nghĩa
Mạch Tâm đầy lớn thì sinh chứng giản khiết, gân co rút.
Mạch Can nhỏ mà gấp thì cũng sinh chứng giản khiết, gân co rút.
Mạch Can bỗng nhiên chạy nhanh, dữ dội, là có điều kinh hãi. Nếu mạch không đến hoặc như người mất tiếng, thì không cần trị cũng tự khỏi.
Mạch Thận nhỏ mà gấp, mạch Can nhỏ mà gấp, mạch Tâm nhỏ mà gấp, nhưng không có sức động mạnh, đều là chứng hà.
Mạch Thận và mạch Can cùng trầm thì thành thạch thủy. Cùng phù thì thành phong thủy. Cùng hư thì chết. Cùng nhỏ mà huyền thì người bệnh muốn kinh sợ.
Giải thích từ ngữ
Giản khiết (痫瘛): chứng co giật, kinh giản, gân cơ co rút không tự chủ.
Cân luyến (筋挛): gân co rút, co cứng.
Mạch mãn đại (脉满大): mạch đầy và lớn, khí huyết thịnh, dễ bốc động.
Mạch tiểu cấp (脉小急): mạch nhỏ mà gấp, thường chỉ khí huyết bị bức, gân mạch không thư.
Mạch vụ bạo (脉骛暴): mạch bỗng chạy gấp, dữ, có vẻ hoảng loạn.
Hà (瘕): khối tích, tích tụ trong bụng hoặc trong mạch khí, có khi ẩn hiện không cố định.
Thạch thủy (石水): thủy bệnh sâu, nặng, cứng chắc như đá, thường liên hệ Thận.
Phong thủy (风水): thủy thũng do phong tà phối hợp với thủy khí, thường phù và biểu hiện ở phần ngoài.
Đoạn 3
肾脉大急沈,肝脉大急沈,皆为疝,心脉搏滑急为心疝。肺脉沈搏为肺疝。三阳急为瘕,三阴急为疝,二阴急为痫厥,二阳急为惊。
Hán Việt
Thận mạch đại cấp trầm, Can mạch đại cấp trầm, giai vi sán. Tâm mạch bác hoạt cấp vi Tâm sán. Phế mạch trầm bác vi Phế sán. Tam dương cấp vi hà, tam âm cấp vi sán, nhị âm cấp vi giản quyết, nhị dương cấp vi kinh.
Dịch nghĩa
Mạch Thận lớn, gấp mà trầm; mạch Can lớn, gấp mà trầm, đều là chứng sán.
Mạch Tâm đập mạnh, hoạt mà gấp, là Tâm sán.
Mạch Phế trầm mà đập mạnh, là Phế sán.
Ba dương mạch gấp thì thành hà. Ba âm mạch gấp thì thành sán. Hai âm mạch gấp thì thành giản quyết. Hai dương mạch gấp thì thành kinh sợ.
Giải thích từ ngữ
Sán (疝): chứng sán, thường chỉ đau co kéo ở bụng dưới, âm nang, hạ tiêu; trong Nội Kinh phạm vi rộng hơn chứng thoát vị hiện đại.
Tâm sán, Phế sán (心疝、肺疝): tên bệnh cổ, chỉ khí của Tâm hoặc Phế nghịch kết, đau co kéo theo đường tạng khí, không nên hiểu hẹp là sán ở bộ phận sinh dục.
Mạch bác (脉搏): mạch đập mạnh, xung kích dưới tay.
Hoạt cấp (滑急): mạch trơn mà gấp, khí huyết động nhanh, có đàm nhiệt hoặc thực tà.
Tam dương, tam âm, nhị âm, nhị dương: chỉ hệ kinh âm dương theo cách phân loại trong Nội Kinh. Mạch cấp ở mỗi hệ dẫn đến bệnh khác nhau.
Giản quyết (痫厥): co giật, kinh giản kèm khí quyết nghịch, có thể hôn ngất.
Đoạn 4
脾脉外鼓,沈为肠澼,久自已,肝脉小缓为肠澼易治。肾脉小搏,沈为肠澼,下血血温身热者死。心肝澼亦下血,二藏同病者可治。其脉小沈涩为肠澼,其身热者死,热见七日死。
Hán Việt
Tỳ mạch ngoại cổ, trầm vi trường tích, cửu tự dĩ. Can mạch tiểu hoãn vi trường tích, dị trị. Thận mạch tiểu bác, trầm vi trường tích, hạ huyết, huyết ôn, thân nhiệt giả tử.
Tâm Can tích diệc hạ huyết, nhị tạng đồng bệnh giả khả trị. Kỳ mạch tiểu trầm sáp vi trường tích, kỳ thân nhiệt giả tử, nhiệt kiến thất nhật tử.
Dịch nghĩa
Mạch Tỳ bên ngoài động nổi như đánh trống, mà bên trong trầm, là chứng trường tích; lâu ngày có thể tự khỏi.
Mạch Can nhỏ mà hoãn là trường tích, dễ trị.
Mạch Thận nhỏ mà đập mạnh, lại trầm, là trường tích; nếu đi ngoài ra máu, máu ấm, thân nóng thì chết.
Tâm và Can bị tích cũng có thể đi ngoài ra máu. Hai tạng cùng bệnh thì còn có thể trị.
Mạch nhỏ, trầm, sáp là trường tích. Nếu thân nóng thì chết; nhiệt hiện ra bảy ngày thì chết.
Giải thích từ ngữ
Trường tích (肠澼): bệnh đường ruột, thường có tiêu chảy, lỵ, đi ngoài ra máu hoặc chất nhầy; là tên bệnh cổ.
Ngoại cổ (外鼓): bên ngoài mạch nổi động như đánh trống.
Tiểu hoãn (小缓): mạch nhỏ mà hoãn, bệnh thế chưa quá cấp, nên dễ trị hơn.
Tiểu bác trầm (小搏沈): mạch nhỏ nhưng đập mạnh, lại trầm, cho thấy bệnh sâu mà khí còn xung kích.
Hạ huyết (下血): đi ngoài ra máu.
Huyết ôn thân nhiệt (血温身热): máu nóng, thân nóng, là dấu nhiệt độc sâu trong huyết phận, tiên lượng xấu.
Mạch sáp (涩): mạch rít, không trơn, thường do huyết ứ, huyết hư hoặc tân dịch tổn.
Đoạn 5
胃脉沈鼓涩胃外鼓大,心脉小坚急,皆鬲偏枯。男子发左,女子发右,不喑舌转,可治,三十日起。其从者喑,三岁起。年不满二十者,三岁死。
Hán Việt
Vị mạch trầm cổ sáp, Vị ngoại cổ đại, Tâm mạch tiểu kiên cấp, giai cách thiên khô. Nam tử phát tả, nữ tử phát hữu. Bất âm, thiệt chuyển, khả trị, tam thập nhật khởi. Kỳ tòng giả âm, tam tuế khởi. Niên bất mãn nhị thập giả, tam tuế tử.
Dịch nghĩa
Mạch Vị trầm, động như đánh trống mà sáp; mạch Vị bên ngoài động lớn; mạch Tâm nhỏ, cứng mà gấp, đều là chứng cách và thiên khô.
Nam thì phát ở bên trái, nữ thì phát ở bên phải. Nếu không mất tiếng, lưỡi còn xoay chuyển được, thì có thể trị, ba mươi ngày sẽ dậy được.
Nếu bệnh thuận theo mà thành mất tiếng, thì ba năm mới dậy được.
Người chưa đầy hai mươi tuổi mắc bệnh ấy thì ba năm sẽ chết.
Giải thích từ ngữ
Cách (鬲): bế tắc ở vùng hoành cách, trên dưới không thông.
Thiên khô (偏枯): một bên thân thể khô yếu, liệt yếu, thiên lệch.
Bất âm (不喑): không mất tiếng. Trong bệnh thiên khô, còn nói được là dấu thần khí và kinh mạch chưa tuyệt.
Thiệt chuyển (舌转): lưỡi còn xoay chuyển linh hoạt, chứng tỏ kinh lạc liên hệ lưỡi, thần khí, Tâm Thận chưa bế nặng.
Tam thập nhật khởi (三十日起): khoảng ba mươi ngày có thể dậy, tức tiên lượng còn tốt.
Tam tuế khởi (三岁起): ba năm mới dậy, chỉ bệnh kéo dài, phục hồi rất chậm.
Niên bất mãn nhị thập (年不满二十): tuổi chưa đầy hai mươi mà mắc bệnh này thì tiên lượng xấu theo văn cổ.
Đoạn 6
脉至而搏,血衂身热者死,脉来悬钩浮为常脉。脉至如喘名曰暴厥,暴厥者,不知与人言。脉至如数,使人暴惊,三四日自已。
Hán Việt
Mạch chí nhi bác, huyết nục thân nhiệt giả tử. Mạch lai huyền câu phù vi thường mạch. Mạch chí như suyễn danh viết bạo quyết. Bạo quyết giả, bất tri dữ nhân ngôn. Mạch chí như sác, sử nhân bạo kinh, tam tứ nhật tự dĩ.
Dịch nghĩa
Mạch đến mà đập mạnh, lại có chảy máu cam, thân nóng, thì chết.
Mạch đến như huyền, như câu, như phù thì là mạch thường.
Mạch đến như hơi thở suyễn, gọi là bạo quyết. Người bị bạo quyết thì không biết nói chuyện với người.
Mạch đến như sác, khiến người bệnh đột ngột kinh sợ; ba bốn ngày thì tự khỏi.
Giải thích từ ngữ
Mạch chí nhi bác (脉至而搏): mạch đến dưới tay mà đập mạnh, xung kích.
Huyết nục (血衂): chảy máu cam, máu từ mũi ra.
Thân nhiệt giả tử (身热者死): trong bối cảnh mạch bác, nục huyết mà thân nóng, là nhiệt độc và huyết khí bạo loạn, tiên lượng xấu.
Huyền, câu, phù (悬、钩、浮): các hình thái mạch cổ. Ở đây văn nói nếu đến như vậy thì còn thuộc mạch thường trong ngữ cảnh ấy.
Bạo quyết (暴厥): quyết phát đột ngột, khí nghịch bạo phát, có thể hôn mê, không biết người.
Mạch chí như suyễn (脉至如喘): mạch đến như hơi thở gấp, lúc đến lúc dồn, không điều hòa.
Bạo kinh (暴惊): kinh sợ đột ngột.
Đoạn 7
脉至浮合,浮合如数,一息十至以上,是经气予不足也,微见九十日死,脉至如火薪然,是心精之予夺也,草乾而死;脉至如散叶,是肝气予虚也,木叶落而死;脉至如省客,省客者,脉塞而鼓,是肾气予不足也,悬去枣华而死;脉至如丸泥是胃精予不足也,榆荚落而死;脉至如横格,是胆气予不足也,禾熟而死;脉至如弦缕,是胞精予不足也,病善言,下霜而死,不言可治;脉至如交漆,交漆者,左右傍至也,微见三十日死;脉至如涌泉浮鼓,肌中太阳气予不足也,少气味,韭英而死。脉至如颓土之状,按之不得,是肌气予不足也,五色先见黑白垒发死;脉至如悬雍,悬雍者浮,揣切之益大,是十二俞之予不足也,水凝而死;脉至如偃刀,偃刀者,浮之小急,按之坚大急,五藏菀熟,寒热独并于肾也,如此其人不得坐,立春而死,脉至如丸滑不直手,不直手者,按之不可得也,是大肠气予不足也,枣叶生而死;脉至如华者,令人善恐,不欲坐卧,行立常听,是小肠气予不足也,季秋而死。
Hán Việt
Mạch chí phù hợp, phù hợp như sác, nhất tức thập chí dĩ thượng, thị kinh khí dự bất túc dã, vi kiến cửu thập nhật tử.
Mạch chí như hỏa tân nhiên, thị Tâm tinh chi dự đoạt dã, thảo can nhi tử.
Mạch chí như tán diệp, thị Can khí dự hư dã, mộc diệp lạc nhi tử.
Mạch chí như tỉnh khách. Tỉnh khách giả, mạch tắc nhi cổ, thị Thận khí dự bất túc dã, huyền khứ táo hoa nhi tử.
Mạch chí như hoàn nê, thị Vị tinh dự bất túc dã, du giáp lạc nhi tử.
Mạch chí như hoành cách, thị Đởm khí dự bất túc dã, hòa thục nhi tử.
Mạch chí như huyền lũ, thị Bào tinh dự bất túc dã. Bệnh thiện ngôn, hạ sương nhi tử; bất ngôn khả trị.
Mạch chí như giao tất. Giao tất giả, tả hữu bàng chí dã, vi kiến tam thập nhật tử.
Mạch chí như dũng tuyền phù cổ, cơ trung Thái dương khí dự bất túc dã, thiểu khí vị, cửu anh nhi tử.
Mạch chí như đồi thổ chi trạng, án chi bất đắc, thị cơ khí dự bất túc dã, ngũ sắc tiên kiến hắc bạch lũy phát tử.
Mạch chí như huyền ung. Huyền ung giả phù, sủy thiết chi ích đại, thị thập nhị du chi dự bất túc dã, thủy ngưng nhi tử.
Mạch chí như yển đao. Yển đao giả, phù chi tiểu cấp, án chi kiên đại cấp, ngũ tạng uất thục, hàn nhiệt độc tịnh vu Thận dã. Như thử kỳ nhân bất đắc tọa, lập xuân nhi tử.
Mạch chí như hoàn hoạt bất trực thủ. Bất trực thủ giả, án chi bất khả đắc dã, thị Đại trường khí dự bất túc dã, táo diệp sinh nhi tử.
Mạch chí như hoa giả, linh nhân thiện khủng, bất dục tọa ngọa, hành lập thường thính, thị Tiểu trường khí dự bất túc dã, quý thu nhi tử.
Dịch nghĩa
Mạch đến mà phù hợp, phù hợp như sác, trong một hơi thở mạch đến trên mười lần, đó là kinh khí đã bất túc từ trước. Nếu hơi hiện ra dấu ấy, chín mươi ngày thì chết.
Mạch đến như củi lửa đang cháy, đó là Tâm tinh đã bị đoạt từ trước. Đến lúc cỏ khô thì chết.
Mạch đến như lá rơi tản mác, đó là Can khí đã hư từ trước. Đến lúc lá cây rụng thì chết.
Mạch đến như “tỉnh khách”. Tỉnh khách là mạch bế tắc mà lại động như đánh trống. Đó là Thận khí đã bất túc từ trước. Đến lúc hoa táo rụng thì chết.
Mạch đến như viên bùn, đó là Vị tinh đã bất túc từ trước. Đến lúc quả du giáp rụng thì chết.
Mạch đến như bị thanh ngang chắn lại, đó là Đởm khí đã bất túc từ trước. Đến lúc lúa chín thì chết.
Mạch đến như sợi dây, sợi tơ, đó là Bào tinh đã bất túc từ trước. Người bệnh hay nói nhiều, đến lúc sương xuống thì chết; nếu không nói nhiều thì còn có thể trị.
Mạch đến như sơn giao nhau. Giao tất nghĩa là mạch từ hai bên trái phải cùng đến bên cạnh. Nếu hơi hiện ra dấu ấy, ba mươi ngày thì chết.
Mạch đến như suối phun, phù mà động như đánh trống, là Thái dương khí ở trong cơ đã bất túc từ trước. Người bệnh ít khí vị, đến lúc hoa hẹ nở thì chết.
Mạch đến như đất sụp, ấn vào không nắm được, đó là cơ khí đã bất túc từ trước. Nếu trong năm sắc trước tiên hiện sắc đen và trắng, tóc bết từng đám, thì chết.
Mạch đến như huyền ung. Huyền ung là mạch nổi, khi dò xét ấn nắn thì càng lớn, đó là khí của mười hai du đã bất túc từ trước. Đến lúc nước đông lại thì chết.
Mạch đến như dao nằm ngửa. Dao nằm ngửa nghĩa là khi bắt nông thì nhỏ mà gấp, ấn xuống thì cứng, lớn và gấp. Đó là năm tạng uất nhiệt chín muồi, hàn nhiệt riêng cùng dồn vào Thận. Người như vậy không ngồi được, đến Lập xuân thì chết.
Mạch đến như viên tròn trơn, nhưng không thuận tay; không thuận tay nghĩa là ấn vào không nắm được rõ. Đó là Đại trường khí đã bất túc từ trước. Đến lúc lá táo sinh thì chết.
Mạch đến như hoa, khiến người bệnh hay sợ, không muốn ngồi, không muốn nằm, thường đi đứng mà lắng nghe. Đó là Tiểu trường khí đã bất túc từ trước. Đến cuối mùa thu thì chết.
Giải thích từ ngữ
Đoạn này là phần khó nhất của thiên, phần lớn dùng hình tượng để mô tả mạch tử kỳ. Không nên hiểu theo nghĩa quá cơ học, mà nên hiểu là cổ nhân lấy hình sắc, thời khí, mùa vật để nói tiên lượng.
Phù hợp như sác (浮合如数): mạch nổi, hợp lại mà nhanh, một hơi thở hơn mười lần, là mạch quá cấp, kinh khí suy.
Kinh khí dự bất túc (经气予不足): kinh khí vốn đã thiếu từ trước, bệnh căn không phải mới phát.
Như hỏa tân nhiên (如火薪然): như củi lửa đang cháy, ví mạch của Tâm tinh bị hao đoạt, hỏa bốc mà tinh kiệt.
Tâm tinh chi dự đoạt (心精之予夺): tinh khí của Tâm bị tổn đoạt từ trước.
Như tán diệp (如散叶): như lá tản mác, mạch rời rạc, không có gốc, ứng Can khí hư.
Như tỉnh khách (如省客): tên hình tượng mạch cổ, giải thích ngay trong văn là “mạch tắc mà cổ”, tức mạch bị bế mà vẫn động mạnh.
Như hoàn nê (如丸泥): như viên bùn, nặng, tròn, đục, không linh hoạt, ứng Vị tinh suy.
Như hoành cách (如横格): như có thanh ngang ngăn lại, mạch bị chắn, không thông, ứng Đởm khí suy.
Như huyền lũ (如弦缕): như dây, như sợi tơ, mạch nhỏ căng, ứng Bào tinh suy.
Thiện ngôn (善言): hay nói nhiều. Trong đoạn Bào tinh bất túc, nói nhiều là dấu thần khí không giữ, tiên lượng xấu hơn.
Như giao tất (如交漆): như sơn dính giao nhau, mạch hai bên cùng đến, rối và dính, là mạch nguy.
Như dũng tuyền phù cổ (如涌泉浮鼓): như suối phun, nổi mà động mạnh, chỉ khí bốc lên mà gốc suy.
Cơ trung Thái dương khí (肌中太阳气): khí Thái dương trong cơ biểu, liên hệ vệ khí và phần ngoài thân.
Như đồi thổ (如颓土): như đất sụp, ấn vào không còn hình mạch rõ, biểu hiện cơ khí suy.
Huyền ung (悬雍): hình tượng như vật treo lơ lửng, mạch nổi, ấn vào lại càng lớn; chỉ khí của các du suy mà mạch hư đại bất thường.
Thập nhị du (十二俞): các du huyệt của tạng phủ, nơi khí tạng phủ thâu chuyển.
Như yển đao (如偃刀): như dao nằm ngửa, bên ngoài nhỏ gấp, bên trong cứng lớn gấp, chỉ hàn nhiệt uất kết sâu.
Ngũ tạng uất thục (五藏菀熟): năm tạng uất lại, nhiệt kết như chín muồi, bệnh thế rất nặng.
Hàn nhiệt độc tịnh vu Thận (寒热独并于肾): hàn nhiệt cùng dồn về Thận, căn bản âm dương bị tổn.
Như hoàn hoạt bất trực thủ (如丸滑不直手): mạch tròn trơn nhưng không thuận tay, khó bắt, ấn không rõ, ứng Đại trường khí suy.
Như hoa (如华): mạch tản như hoa nở, không giữ được gốc, ứng Tiểu trường khí suy.
Nhận xét chung
Thiên Đại Kỳ luận là một thiên rất khó, vì phần lớn bàn các bệnh và mạch tượng kỳ lạ, nhất là các mạch quyết đoán sống chết. Cách nói của Nội Kinh ở đây không theo lối mô tả giản dị, mà dùng rất nhiều hình tượng: mạch như củi cháy, như lá rơi, như viên bùn, như thanh ngang, như sợi tơ, như suối phun, như đất sụp, như dao nằm ngửa, như hoa. Đây là ngôn ngữ chẩn mạch cổ, cần đọc với sự thận trọng.
Đoạn đầu nói về Can mãn, Thận mãn, Phế mãn. Khi ba tạng này đầy mà thực, thì thành thũng. Phế ủng thì suyễn, hai bên hông sườn đầy; Can ủng thì nằm dễ kinh, tiểu tiện không thông; Thận ủng thì từ chân đến bụng dưới đầy, chân có bên lớn bên nhỏ, dễ thiên khô. Như vậy, thũng không chỉ là nước, mà là khí của tạng bị ủng, thủy khí không vận hành.
Các đoạn tiếp theo phân biệt mạch và bệnh: Tâm mạch đầy lớn hay Can mạch nhỏ gấp đều có thể sinh kinh giản, co rút; Thận Can cùng trầm là thạch thủy, cùng phù là phong thủy, cùng hư thì chết. Mạch lớn, gấp, trầm của Thận Can là sán; tam dương cấp là hà; tam âm cấp là sán; nhị âm cấp là giản quyết; nhị dương cấp là kinh. Ở đây, mạch không chỉ để biết hư thực, mà còn để định loại bệnh.
Phần trường tích rất đáng chú ý. Tỳ mạch ngoại cổ mà trầm là trường tích, lâu tự khỏi. Can mạch nhỏ hoãn là trường tích dễ trị. Nhưng Thận mạch nhỏ, bác, trầm mà đi ngoài ra máu, máu ấm, thân nóng thì chết. Mạch nhỏ, trầm, sáp là trường tích; nếu thân nóng thì nguy, nhiệt hiện bảy ngày thì chết. Điều này cho thấy trong bệnh ruột, có nhiệt vào huyết và thân nhiệt kéo dài là dấu xấu.
Đoạn thiên khô nói rất gần với chứng liệt nửa người. Nếu không mất tiếng, lưỡi còn xoay chuyển, thì có thể trị, ba mươi ngày dậy. Nếu mất tiếng, phục hồi rất lâu. Điều này phù hợp tinh thần Nội Kinh: lưỡi, tiếng nói, thần khí, kinh mạch còn thông thì tiên lượng còn tốt; nếu mất tiếng, lưỡi không chuyển, bệnh đã vào sâu hơn.
Phần cuối là các mạch tử kỳ. Cổ nhân dùng thời vật để nói thời chết: cỏ khô, lá cây rụng, hoa táo rụng, du giáp rụng, lúa chín, sương xuống, nước đông, Lập xuân, lá táo sinh, cuối thu. Đây là cách đem mạch tượng đặt trong bốn mùa, ngũ hành, sinh trưởng thu tàng của trời đất. Không nên dùng máy móc, nhưng có thể thấy ý chính: khi mạch mất gốc của tạng khí, lại ứng vào mùa khắc hoặc mùa khí suy, thì tiên lượng rất nặng.
Tóm lại, Đại Kỳ luận dạy người học phải biết nhìn bệnh lớn qua mạch lớn. Mạch không chỉ là nhanh chậm, phù trầm, mà còn có hình, thế, lực, gốc, sự thuận tay hay nghịch tay, sự có thần hay mất thần. Các bệnh như thũng, thủy, sán, hà, trường tích, thiên khô, bạo quyết đều có mạch chủ riêng. Đọc thiên này, điều quan trọng không phải là ghi nhớ từng tử kỳ một cách cứng nhắc, mà là hiểu tinh thần: mạch còn gốc thì còn cơ hội; mạch mất gốc, tạng khí đã suy, hàn nhiệt uất sâu, biểu lý không điều, thì bệnh rất nguy.