Dẫn nhập
Thiên “Bối du” bàn về các du huyệt của ngũ tạng hiện ra ở vùng lưng. “Bối” là lưng; “du” là nơi khí của tạng phủ chuyển thâu, thông ra ngoài thân. Các huyệt bối du là nơi khí của tạng phủ tụ ứng ở hai bên cột sống, có thể dùng để xét bệnh, chữa bệnh, nhất là bằng phép cứu. Thiên này nêu vị trí đại lược của các du huyệt ở lưng, cách kiểm nghiệm bằng ấn chẩn, và phân biệt phép cứu bổ, cứu tả.
1
黃帝問于歧伯曰:願聞五藏之腧,出於背者。
Hoàng Đế vấn vu Kỳ Bá viết: Nguyện văn ngũ tạng chi du, xuất ư bối giả.
Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Ta muốn nghe về các du huyệt của ngũ tạng hiện ra ở lưng.
Giải thích
“Ngũ tạng chi du” là các huyệt du ở lưng tương ứng với ngũ tạng. Trong châm cứu học đời sau, hệ thống này phát triển thành các huyệt bối du như Phế du, Tâm du, Can du, Tỳ du, Thận du. Đây là những nơi khí tạng phủ thông ứng ra vùng lưng.
歧伯曰:背中大腧,在杼骨之端,肺腧在三焦之間,心腧在五焦之間,膈腧在七焦之間,肝腧在九焦之間,脾腧在十一焦之間,腎腧在十四焦之間。
Kỳ Bá viết: Bối trung đại du, tại trữ cốt chi đoan; Phế du tại tam tiêu chi gian; Tâm du tại ngũ tiêu chi gian; Cách du tại thất tiêu chi gian; Can du tại cửu tiêu chi gian; Tỳ du tại thập nhất tiêu chi gian; Thận du tại thập tứ tiêu chi gian.
Kỳ Bá đáp: Đại du ở giữa lưng, tại đầu mút của trữ cốt. Phế du ở khoảng tiêu thứ ba; Tâm du ở khoảng tiêu thứ năm; Cách du ở khoảng tiêu thứ bảy; Can du ở khoảng tiêu thứ chín; Tỳ du ở khoảng tiêu thứ mười một; Thận du ở khoảng tiêu thứ mười bốn.
Giải thích
“Trữ cốt” thường được hiểu là xương bả vai hoặc vùng xương nổi ở phần trên lưng. Chữ “tiêu” trong đoạn này chỉ các mốc đốt sống hoặc khoảng đốt sống theo cách gọi cổ. Văn này nêu vị trí theo thứ tự trên lưng: Phế ở trên, Tâm ở dưới Phế, Cách ở khoảng giữa, Can Tỳ Thận lần lượt xuống thấp hơn. Đây là phép định vị cổ, khi ứng dụng lâm sàng ngày nay cần đối chiếu với hệ thống huyệt vị chuẩn hiện hành.
皆挾脊相去三寸所,則欲得而驗之,按其處,應在中而痛解,乃其輸也。
Giai hiệp tích tương khứ tam thốn sở, tắc dục đắc nhi nghiệm chi, án kỳ xứ, ứng tại trung nhi thống giải, nãi kỳ du dã.
Các huyệt ấy đều nằm kẹp hai bên cột sống, cách nhau chừng ba thốn. Nếu muốn tìm được và kiểm nghiệm, hãy ấn vào nơi ấy; nếu cảm ứng ở bên trong mà đau được giải, thì đó chính là du huyệt của tạng ấy.
Giải thích
“Hiệp tích” là hai bên cột sống. “Tương khứ tam thốn sở” có thể hiểu là khoảng cách từ giữa sống lưng ra hai bên theo phép đo cổ. Khi ấn đúng huyệt, bên trong có cảm ứng, đau tức được giải, đó là dấu hiệu huyệt ứng với tạng phủ. Đây là phép lấy cảm ứng để kiểm nghiệm huyệt, rất hợp với tinh thần châm cứu cổ: không chỉ đo theo hình thể, mà còn phải xét phản ứng dưới tay.
灸之則可刺之則不可。
Cứu chi tắc khả, thích chi tắc bất khả.
Có thể dùng phép cứu, nhưng không nên dùng phép châm.
Giải thích
Các du huyệt ở lưng gần tạng phủ bên trong, nên cổ văn đặc biệt nhấn mạnh nên cứu, không nên châm. Ngày nay nhiều huyệt bối du vẫn có thể châm trong lâm sàng, nhưng phải rất thận trọng về hướng kim, độ sâu và thể trạng người bệnh. Khi soạn theo cổ văn, cần giữ đúng ý: thiên này thiên trọng phép cứu hơn phép châm.
氣盛則寫之,虛則補之。
Khí thịnh tắc tả chi, hư tắc bổ chi.
Khí thịnh thì tả, khí hư thì bổ.
Giải thích
Đây là nguyên tắc chung của châm cứu: có dư thì tả, không đủ thì bổ. Ở đây đặt trong phép cứu, nghĩa là dùng cách vận dụng hỏa lực để phân biệt bổ tả.
以火補者,毋吹其火,須自滅也;以火寫之,疾吹其火,傳其艾,須其火滅也。
Dĩ hỏa bổ giả, vô xuy kỳ hỏa, tu tự diệt dã; dĩ hỏa tả chi, tật xuy kỳ hỏa, truyền kỳ ngải, tu kỳ hỏa diệt dã.
Dùng hỏa để bổ thì không được thổi lửa, phải để lửa tự tắt. Dùng hỏa để tả thì thổi lửa cho nhanh, chuyển ngải cho gấp, đợi cho lửa tắt.
Giải thích
Phép cứu bổ lấy hỏa khí ôn hòa, chậm rãi thấm vào trong, nên không thổi lửa, để nó tự cháy tự tắt. Phép cứu tả lấy hỏa lực phát nhanh, làm khí tà phát tán, nên thổi cho lửa cháy mau, thao tác nhanh, khiến tà khí theo hỏa mà tán. Đây là nguyên tắc “bổ thì ôn hòa, tả thì nhanh mạnh” trong phép dùng hỏa.
Tiểu kết
Thiên “Bối du” tuy ngắn nhưng rất quan trọng. Nó chỉ rõ các du huyệt của tạng phủ hiện ở vùng lưng, đều nằm hai bên cột sống, có thể dùng ấn chẩn để tìm nơi cảm ứng. Khi ấn đúng chỗ mà bên trong có cảm giác ứng, đau được giải, thì đó là nơi khí của tạng phủ thâu chú ra ngoài.
Điểm đáng chú ý là thiên này thiên về cứu pháp. Bối du là nơi thông với tạng khí, vì vậy dùng cứu có thể ôn thông, điều khí, bổ hư, tán hàn. Khi khí thịnh thì dùng phép tả, khi khí hư thì dùng phép bổ. Cứu bổ thì để lửa cháy tự nhiên, không thổi; cứu tả thì thổi lửa cho cháy nhanh, thao tác mau để phát tán tà khí.
Tóm lại, bối du là cửa thông của tạng phủ ở lưng. Người học châm cứu không chỉ nhớ tên huyệt và vị trí, mà còn phải hiểu khí tạng phủ ứng ra ngoài như thế nào, ấn chẩn ra sao, cứu bổ cứu tả khác nhau thế nào. Có như vậy mới không học huyệt một cách khô cứng, mà nắm được tinh thần của Nội kinh.