Dẫn nhập
Thiên “Luận thống” bàn về sự khác nhau của con người đối với đau đớn, châm thạch, hỏa nhiệt và độc dược. Nội kinh cho rằng khả năng chịu đau không hoàn toàn do ý chí, mà liên hệ với gân xương mạnh yếu, cơ nhục bền giòn, da dày mỏng, tấu lý thưa kín. Còn khả năng chịu được thuốc mạnh, thuốc độc lại liên hệ với vị khí, sắc thể, xương cốt, hình thể béo gầy. Thiên này tuy ngắn, nhưng cho thấy tinh thần rất thực tế của y học cổ: trị bệnh phải tùy người, tùy thể chất, không thể dùng một phép giống nhau cho mọi người.
1
黃帝問于少俞曰:筋骨之強弱,肌肉之堅脆,皮膚之厚薄,腠理之疏密,各不同,其于鍼石火焫之痛何如?
Hoàng Đế vấn vu Thiếu Du viết: Cân cốt chi cường nhược, cơ nhục chi kiên thúy, bì phu chi hậu bạc, tấu lý chi sơ mật, các bất đồng, kỳ ư châm thạch hỏa nhiệt chi thống hà như?
Hoàng Đế hỏi Thiếu Du rằng: Gân xương có mạnh yếu, cơ nhục có bền chắc hay giòn yếu, da có dày mỏng, tấu lý có thưa kín, mỗi người đều không giống nhau. Vậy đối với đau do châm, thạch, hỏa nhiệt thì như thế nào?
Giải thích
“Châm” là phép dùng kim châm. “Thạch” là biếm thạch, một loại dụng cụ trị bệnh thời cổ, dùng để chích, rạch, khai thông. “Hỏa nhiệt” là dùng lửa, dùng sức nóng để trị bệnh, gần với phép cứu hoặc phép hỏa châm, hỏa liệu. Hoàng Đế hỏi vì sao cùng một thủ thuật mà có người chịu được, có người không chịu được.
腸胃之厚薄堅脆亦不等,其於毒藥何如?願盡聞之。
Trường vị chi hậu bạc kiên thúy diệc bất đẳng, kỳ ư độc dược hà như? Nguyện tận văn chi.
Ruột và dạ dày cũng có dày mỏng, bền chắc hay giòn yếu không giống nhau. Vậy đối với độc dược thì như thế nào? Ta muốn nghe cho tận tường.
Giải thích
“Độc dược” trong cổ y không nhất thiết chỉ thuốc độc theo nghĩa gây hại, mà thường chỉ những vị thuốc có tính mạnh, có độc tính, công phá mạnh, dùng để trừ tà hoặc phá tích. Người có trường vị mạnh thì chịu được thuốc mạnh hơn; người trường vị yếu thì dễ bị tổn thương.
少俞曰:人之骨強、筋弱、肉緩、皮膚厚者,耐痛,其于鍼石之痛火焫亦然。
Thiếu Du viết: Nhân chi cốt cường, cân nhược, nhục hoãn, bì phu hậu giả, nại thống, kỳ ư châm thạch chi thống hỏa nhiệt diệc nhiên.
Thiếu Du thưa: Người xương mạnh, gân mềm, thịt thư hoãn, da dày thì chịu đau được. Đối với đau do châm thạch và hỏa nhiệt cũng như vậy.
Giải thích
Xương mạnh thì căn bản vững, da dày thì kích thích bên ngoài khó thấu sâu, thịt thư hoãn thì khí huyết dễ thông, không quá căng gấp; vì vậy chịu đau tốt hơn. “Cân nhược” ở đây không nên hiểu là gân yếu bệnh lý, mà nên hiểu là gân không quá căng cứng, có độ mềm, không co gấp nên ít đau dữ.
2
黃帝曰:其耐火焫者,何以知之?
Hoàng Đế viết: Kỳ nại hỏa nhiệt giả, hà dĩ tri chi?
Hoàng Đế hỏi: Người chịu được hỏa nhiệt thì dựa vào đâu mà biết?
少俞答曰:加以黑色而美骨者,耐火焫。
Thiếu Du đáp viết: Gia dĩ hắc sắc nhi mỹ cốt giả, nại hỏa nhiệt.
Thiếu Du đáp: Lại thêm sắc đen mà xương tốt đẹp thì chịu được hỏa nhiệt.
Giải thích
Sắc đen thuộc thận, thận chủ cốt. Người sắc đen mà xương cốt tốt đẹp, đầy đặn, có lực, cho thấy thận khí và cốt khí tương đối bền. Vì vậy có thể chịu được phép dùng hỏa nhiệt hơn người khác. Đây là phép xét thể chất theo sắc và cốt.
黃帝曰:其不耐鍼石之痛者,何以知之?
Hoàng Đế viết: Kỳ bất nại châm thạch chi thống giả, hà dĩ tri chi?
Hoàng Đế hỏi: Người không chịu được đau do châm thạch thì dựa vào đâu mà biết?
少俞曰:堅肉薄皮者,不耐鍼石之痛,於火焫亦然。
Thiếu Du viết: Kiên nhục bạc bì giả, bất nại châm thạch chi thống, ư hỏa nhiệt diệc nhiên.
Thiếu Du thưa: Người thịt cứng, da mỏng thì không chịu được đau do châm thạch; đối với hỏa nhiệt cũng như vậy.
Giải thích
Da mỏng thì kích thích dễ vào sâu, thịt cứng thì khí huyết không thư thái, dễ căng đau. Vì vậy khi châm, chích, cứu, đốt, người loại này dễ cảm đau mạnh hơn. Điều này nhắc thầy thuốc phải tùy thể chất mà dùng kim, dùng lửa, không nên quá mạnh.
3
黃帝曰:人之病,或同時而傷,或易已,或難已,其故何如?
Hoàng Đế viết: Nhân chi bệnh, hoặc đồng thời nhi thương, hoặc dị dĩ, hoặc nan dĩ, kỳ cố hà như?
Hoàng Đế hỏi: Người mắc bệnh, có khi cùng lúc bị thương tổn, nhưng có người dễ khỏi, có người khó khỏi. Nguyên do là gì?
少俞曰:同時而傷,其身多熱者,易已;多寒者,難已。
Thiếu Du viết: Đồng thời nhi thương, kỳ thân đa nhiệt giả, dị dĩ; đa hàn giả, nan dĩ.
Thiếu Du thưa: Cùng lúc bị thương tổn, người trong thân nhiều nhiệt thì dễ khỏi; người nhiều hàn thì khó khỏi.
Giải thích
“Nhiệt” ở đây có thể hiểu là dương khí tương đối thịnh, khí huyết vận hành mạnh, có khả năng hóa giải và phục hồi nhanh. “Hàn” thì khí huyết ngưng trệ, vận hành chậm, sự sinh hóa kém, nên bệnh lâu khỏi hơn. Nhưng khi ứng dụng không nên hiểu đơn giản rằng nhiệt luôn tốt, hàn luôn xấu; cần xét hư thực, chính tà và toàn bộ mạch chứng.
4
黃帝曰:人之勝毒,何以知之?
Hoàng Đế viết: Nhân chi thắng độc, hà dĩ tri chi?
Hoàng Đế hỏi: Làm sao biết người có thể chịu được độc dược?
少俞曰:胃厚、色黑、大骨及肥者,皆勝毒;故其瘦而薄胃者,皆不勝毒也。
Thiếu Du viết: Vị hậu, sắc hắc, đại cốt cập phì giả, giai thắng độc; cố kỳ sấu nhi bạc vị giả, giai bất thắng độc dã.
Thiếu Du thưa: Người vị dày, sắc đen, xương lớn và thân béo, đều có thể chịu được độc dược. Cho nên người gầy mà vị mỏng thì đều không chịu được độc dược.
Giải thích
“Vị hậu” là vị khí đầy, dạ dày ruột có sức tiếp nhận và chuyển hóa. “Sắc hắc, đại cốt” liên hệ thận khí và cốt khí sung. “Phì” là hình thể đầy đặn, khí huyết tương đối có dư. Những người này có khả năng chịu thuốc mạnh tốt hơn. Ngược lại, người gầy, vị khí mỏng yếu, tân huyết không đầy, nếu dùng thuốc công phạt mạnh dễ tổn thương chính khí.
Tiểu kết
Thiên “Luận thống” nêu một nguyên tắc rất quan trọng: trị bệnh phải xét người. Cùng một phép châm, cùng một phép cứu, cùng một vị thuốc mạnh, nhưng phản ứng của mỗi người không giống nhau. Người da dày, thịt thư, xương mạnh thì thường chịu đau tốt hơn. Người da mỏng, thịt cứng thì dễ đau, không chịu được châm thạch và hỏa nhiệt. Người vị khí dày, xương lớn, hình thể đầy thì chịu được thuốc mạnh hơn; người gầy, vị yếu thì không nên dùng độc dược hoặc công phạt quá mức.
Tóm lại
“Đau” không chỉ là cảm giác, mà còn là biểu hiện của thể chất, bì phu, cơ nhục, gân xương và khí huyết. “Thắng độc” cũng không chỉ do thuốc, mà do vị khí và chính khí của người bệnh có chịu nổi hay không. Vì vậy người thầy thuốc giỏi không chỉ biết phương pháp, mà còn phải biết người bệnh trước mặt mình thuộc loại nào, chịu được đến đâu, nên nhẹ hay nên mạnh, nên bổ hay nên công. Đó chính là tinh thần thận trọng và nhân hậu của Nội kinh.