Bàn về sự phân chia nông sâu trong phép châm
Đoạn 1
《刺齐论》
黄帝问曰:愿闻刺浅深之分。歧伯对曰:刺骨者无伤筋,刺筋者无伤肉,刺肉者无伤脉,刺脉者无伤皮,刺皮者无伤肉,刺肉者无伤筋,刺筋者无伤骨。
Hán Việt
Thích Tề luận.
Hoàng Đế vấn viết: Nguyện văn thích thiển thâm chi phân.
Kỳ Bá đối viết: Thích cốt giả vô thương cân, thích cân giả vô thương nhục, thích nhục giả vô thương mạch, thích mạch giả vô thương bì, thích bì giả vô thương nhục, thích nhục giả vô thương cân, thích cân giả vô thương cốt.
Dịch nghĩa
Thích Tề luận.
Hoàng Đế hỏi:
Ta muốn nghe sự phân chia nông sâu trong phép châm.
Kỳ Bá đáp:
Châm đến xương thì không được làm thương gân.
Châm đến gân thì không được làm thương thịt.
Châm đến thịt thì không được làm thương mạch.
Châm đến mạch thì không được làm thương da.
Châm ở da thì không được làm thương thịt.
Châm ở thịt thì không được làm thương gân.
Châm ở gân thì không được làm thương xương.
Giải thích từ ngữ
Thích tề (刺齐): “thích” là châm; “tề” là ngang bằng, đúng mức, đúng giới hạn. Thiên này bàn về mức độ nông sâu của châm, sao cho kim đến đúng lớp bệnh mà không vượt quá.
Thiển thâm chi phân (浅深之分): sự phân biệt cạn sâu. Bệnh ở nông thì châm nông, bệnh ở sâu thì châm sâu, nhưng sâu đến đâu cũng phải có giới hạn.
Thích cốt vô thương cân (刺骨无伤筋): khi bệnh ở xương, châm phải hướng đến tầng xương, nhưng không được làm tổn thương gân ở trên đường đi.
Thích cân vô thương nhục (刺筋无伤肉): khi bệnh ở gân, không được làm tổn thương cơ nhục.
Thích nhục vô thương mạch (刺肉无伤脉): khi bệnh ở cơ nhục, không được làm thương huyết mạch.
Thích mạch vô thương bì (刺脉无伤皮): câu này theo văn cổ có ý nói khi châm mạch phải giữ phép đúng mức, không làm tổn hại lớp ngoài và không làm loạn huyết khí.
Bì, nhục, mạch, cân, cốt: năm tầng từ nông vào sâu: da, thịt, mạch, gân, xương. Phép châm phải biết rõ bệnh ở tầng nào.
Đoạn 2
帝曰:余未知其所谓,愿闻其解。歧伯曰:刺骨无伤筋者,针至筋而去,不及骨也。刺筋无伤肉者,至肉而去,不及筋也。刺肉无伤脉者,至脉而去,不及肉也。刺脉无伤皮者,至皮而去,不及脉也。所谓刺皮无伤肉者,病在皮中,针入皮中,无伤肉也。刺肉无伤筋者,过肉中筋也。刺筋无伤骨者,过筋中骨也。此之谓反也。
Hán Việt
Đế viết: Dư vị tri kỳ sở vị, nguyện văn kỳ giải.
Kỳ Bá viết: Thích cốt vô thương cân giả, châm chí cân nhi khứ, bất cập cốt dã.
Thích cân vô thương nhục giả, chí nhục nhi khứ, bất cập cân dã.
Thích nhục vô thương mạch giả, chí mạch nhi khứ, bất cập nhục dã.
Thích mạch vô thương bì giả, chí bì nhi khứ, bất cập mạch dã.
Sở vị thích bì vô thương nhục giả, bệnh tại bì trung, châm nhập bì trung, vô thương nhục dã.
Thích nhục vô thương cân giả, quá nhục trung cân dã.
Thích cân vô thương cốt giả, quá cân trung cốt dã.
Thử chi vị phản dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta vẫn chưa hiểu ý ấy, xin được nghe giải thích.
Kỳ Bá nói:
Nói “châm xương mà không làm thương gân”, nghĩa là kim chỉ đến gân rồi rút ra, chưa đến xương.
Nói “châm gân mà không làm thương thịt”, nghĩa là kim chỉ đến thịt rồi rút ra, chưa đến gân.
Nói “châm thịt mà không làm thương mạch”, nghĩa là kim chỉ đến mạch rồi rút ra, chưa đến thịt.
Nói “châm mạch mà không làm thương da”, nghĩa là kim chỉ đến da rồi rút ra, chưa đến mạch.
Điều gọi là “châm da mà không làm thương thịt”, là khi bệnh ở trong da thì kim chỉ vào trong da, không làm thương đến thịt.
“Châm thịt mà không làm thương gân”, là kim đi qua trong thịt nhưng không phạm đến gân.
“Châm gân mà không làm thương xương”, là kim đi qua trong gân nhưng không phạm đến xương.
Đó gọi là phản.
Giải thích từ ngữ
Châm chí cân nhi khứ (针至筋而去): kim đến tầng gân rồi rút ra. Câu này dùng để nói sự giới hạn của độ sâu, không được vượt quá tầng cần châm.
Bất cập cốt (不及骨): chưa đến xương. Nếu bệnh chưa cần đến xương mà châm quá sâu thì thành sai.
Chí nhục nhi khứ (至肉而去): đến thịt rồi rút ra, không đi sâu thêm.
Chí mạch nhi khứ (至脉而去): đến mạch rồi rút ra, không làm tổn hại tầng sâu hơn.
Bệnh tại bì trung (病在皮中): bệnh ở trong da, chỉ cần châm vào tầng da, không được đi đến thịt.
Quá nhục trung cân (过肉中筋): đi qua phần thịt nhưng phải tránh làm thương gân.
Quá cân trung cốt (过筋中骨): đi qua phần gân nhưng phải tránh làm thương xương.
Phản (反): trái lại, đảo ngược. Ở đây chỉ tình trạng hiểu sai hoặc làm sai phép nông sâu: đáng cạn mà sâu, đáng sâu mà chưa tới, hoặc đi sai tầng, làm tổn thương lớp không nên tổn thương.
Nhận xét chung
Thiên Thích Tề luận nối tiếp tinh thần của thiên Thích Yếu luận. Nếu Thích Yếu luận nói chung rằng bệnh có nông sâu, châm có cạn sâu, thì Thích Tề luận nhấn mạnh chữ “tề”, tức đúng mức, đúng giới hạn. Kim châm phải đến đúng tầng bệnh, không quá, không thiếu, không làm tổn thương tầng bên cạnh.
Đoạn văn thoạt nhìn hơi khó, vì có những câu như “châm xương mà không thương gân” nhưng lại giải rằng “kim đến gân rồi rút ra, chưa đến xương”. Đây là văn cổ bàn về sự “phản” trong phép châm: nếu nói châm xương mà thực tế chỉ đến gân, thì chưa đạt; nếu nói châm gân mà chỉ đến thịt, thì cũng chưa đạt. Nghĩa là người châm phải hiểu rõ tầng bệnh và tầng kim đến, không được lẫn lộn danh và thực.
Thiên này cũng cho thấy cổ nhân rất coi trọng giải phẫu tầng lớp theo cách của họ: da, thịt, mạch, gân, xương. Mỗi tầng đều có bệnh riêng và có giới hạn riêng. Nếu bệnh ở da mà châm đến thịt là quá. Nếu bệnh ở gân mà chỉ đến thịt là chưa tới. Nếu bệnh ở xương mà làm thương gân, thương tủy, thì lại thành hại.
Điểm quan trọng là châm không phải chỉ có “đâm sâu” hay “đâm nông”, mà là biết chính xác bệnh ở đâu và kim đến đâu. Đúng lớp thì tà được giải, khí được thông. Sai lớp thì hoặc không trị được bệnh, hoặc làm tổn thương chính khí.
Tóm lại, Thích Tề luận dạy sự cẩn trọng trong phép châm: châm phải có giới hạn, có thứ lớp, có phân tấc. Biết nông sâu là biết đường đi của bệnh; giữ đúng mức là giữ an toàn cho người bệnh. Đây là một thiên ngắn nhưng rất thiết yếu trong châm pháp Nội Kinh.