Bàn về phép châm dài và các tiết pháp trong trị bệnh
Đoạn 1
《长刺节论》
刺家不诊,听病者言在头,头疾痛,为藏针之,刺至骨病已,上无伤骨肉及皮,皮者道也。
Hán Việt
Trường Thích Tiết luận.
Thích gia bất chẩn, thính bệnh giả ngôn tại đầu, đầu tật thống, vi tàng châm chi, thích chí cốt bệnh dĩ, thượng vô thương cốt nhục cập bì, bì giả đạo dã.
Dịch nghĩa
Trường Thích Tiết luận.
Người làm phép châm nếu không chẩn xét, chỉ nghe người bệnh nói bệnh ở đầu, đầu đau dữ, thì đặt kim mà châm. Châm đến xương thì bệnh khỏi; phía trên không làm thương xương, thịt và da. Da là con đường để kim đi vào.
Giải thích từ ngữ
Thích gia (刺家): người chuyên làm châm pháp, thầy châm.
Bất chẩn (不诊): không chẩn xét đầy đủ. Câu này có ý cảnh tỉnh: không nên chỉ nghe lời người bệnh mà bỏ chẩn đoán.
Đầu tật thống (头疾痛): đầu đau dữ, bệnh ở đầu.
Tàng châm (藏针): đặt kim, đưa kim vào, cũng có thể hiểu là giữ kim đúng chỗ.
Thích chí cốt (刺至骨): châm đến tầng xương. Trong bệnh đầu đau sâu, có khi phép châm cần đến sát xương, nhưng phải rất thận trọng.
Bì giả đạo dã (皮者道也): da là con đường vào của kim; kim đi qua da nhưng không được làm tổn thương bừa bãi các lớp bên dưới.
Đoạn 2
阴刺,入一傍四处。治寒热。深专者,刺大藏,迫藏刺背,背俞也。刺之迫藏,藏会,腹中寒热去而止,与刺之要,发针而浅出血。
Hán Việt
Âm thích, nhập nhất bàng tứ xứ. Trị hàn nhiệt. Thâm chuyên giả, thích đại tạng, bách tạng thích bối, bối du dã. Thích chi bách tạng, tạng hội, phúc trung hàn nhiệt khứ nhi chỉ. Dữ thích chi yếu, phát châm nhi thiển xuất huyết.
Dịch nghĩa
Âm thích là châm một kim vào giữa, bốn kim ở bên cạnh. Phép này trị hàn nhiệt.
Bệnh sâu và chuyên nhất thì châm vào đại tạng; bệnh ép gần tạng thì châm ở lưng, tức các bối du.
Khi châm gần tạng, nơi tạng khí hội lại, hàn nhiệt trong bụng hết thì dừng.
Điều cốt yếu của phép châm này là phát kim nông để cho ra chút máu.
Giải thích từ ngữ
Âm thích (阴刺): một phép châm cổ, một kim ở giữa, bốn kim ở bốn bên, dùng trị hàn nhiệt.
Nhập nhất bàng tứ xứ (入一傍四处): châm một điểm chính, bốn điểm phụ ở xung quanh.
Thâm chuyên (深专): bệnh sâu, tập trung, không tản.
Đại tạng (大藏): tạng lớn, tạng sâu bên trong; ở đây chỉ bệnh liên hệ tạng phủ sâu.
Bối du (背俞): các huyệt du ở lưng, nơi khí tạng phủ thâu chuyển ra sau lưng.
Tạng hội (藏会): nơi khí của tạng hội tụ.
Thiển xuất huyết (浅出血): châm nông cho ra một ít máu, để tiết tà mà không làm tổn thương sâu.
Đoạn 3
治腐肿者刺腐上,视痈小大深浅刺,刺大者多血,小者深之,必端内针为故止。
Hán Việt
Trị hủ thũng giả thích hủ thượng, thị ung tiểu đại thâm thiển thích. Thích đại giả đa huyết, tiểu giả thâm chi, tất đoan nội châm vi cố chỉ.
Dịch nghĩa
Trị chứng thối lở sưng thũng thì châm trên chỗ thối lở. Phải xem ung lớn hay nhỏ, sâu hay nông mà châm.
Ung lớn thì cho ra nhiều máu; ung nhỏ thì châm sâu hơn. Nhất định phải đưa kim thẳng vào trong, theo đúng phép, đến khi bệnh dừng thì thôi.
Giải thích từ ngữ
Hủ thũng (腐肿): sưng thối, lở loét, có hoại mục.
Ung (痈): ung nhọt, sưng đau có mủ hoặc nhiệt độc kết tụ.
Thị ung tiểu đại thâm thiển (视痈小大深浅): xem ung lớn nhỏ, sâu nông rồi mới chọn phép châm.
Đa huyết (多血): cho máu xấu, huyết ứ ra nhiều hơn trong ung lớn.
Đoan nội châm (端内针): đưa kim thẳng, ngay chính vào trong, không nghiêng lệch.
Đoạn 4
病在少腹有积,刺皮𩩻以下,至少腹而止,刺侠脊两傍四椎闲,刺两髂髎季脇肋闲,导腹中气热下已。
Hán Việt
Bệnh tại thiểu phúc hữu tích, thích bì khoả dĩ hạ, chí thiểu phúc nhi chỉ. Thích hiệp tích lưỡng bàng tứ chuy gian, thích lưỡng khá liêu quý hiếp lặc gian, đạo phúc trung khí nhiệt hạ dĩ.
Dịch nghĩa
Bệnh ở bụng dưới có tích tụ thì châm từ vùng da dưới xương hông xuống, đến bụng dưới thì dừng.
Lại châm hai bên cạnh cột sống, khoảng giữa đốt sống thứ tư; châm hai bên khá liêu và khoảng giữa hông sườn, xương sườn cuối.
Phép ấy dẫn khí nhiệt trong bụng đi xuống, bệnh sẽ hết.
Giải thích từ ngữ
Thiểu phúc (少腹): bụng dưới.
Tích (积): tích tụ, khối hoặc khí huyết kết lại lâu ngày.
Hiệp tích (侠脊): hai bên cột sống.
Tứ chuy gian (四椎闲): khoảng đốt sống thứ tư, theo định vị cổ.
Khá liêu (髂髎): vùng huyệt gần xương chậu, hông.
Quý hiếp lặc gian (季脇肋闲): khoảng sườn cuối, hạ sườn.
Đạo phúc trung khí nhiệt hạ (导腹中气热下): dẫn khí nhiệt trong bụng đi xuống, làm thông hạ tiêu.
Đoạn 5
病在少腹,腹痛不得大小便,病名曰疝,得之寒,刺少腹两股闲,刺腰髁骨闲,刺而多之,尽炅病已。
Hán Việt
Bệnh tại thiểu phúc, phúc thống bất đắc đại tiểu tiện, bệnh danh viết sán, đắc chi hàn. Thích thiểu phúc lưỡng cổ gian, thích yêu khoả cốt gian, thích nhi đa chi, tận quýnh bệnh dĩ.
Dịch nghĩa
Bệnh ở bụng dưới, đau bụng, đại tiểu tiện không thông, bệnh ấy gọi là sán, do hàn mà mắc.
Châm vùng giữa bụng dưới và hai đùi; châm khoảng giữa lưng eo và xương khoả. Châm nhiều lần, đến khi hơi ấm lan hết thì bệnh khỏi.
Giải thích từ ngữ
Sán (疝): chứng đau co kéo vùng bụng dưới, hạ tiêu, có thể kèm đại tiểu tiện không thông, thường do hàn kết.
Đắc chi hàn (得之寒): mắc do hàn tà, hàn làm khí huyết co rút, bế tắc.
Lưỡng cổ gian (两股闲): khoảng giữa hai đùi, vùng bẹn.
Yêu khoả cốt gian (腰髁骨闲): khoảng giữa lưng eo và xương hông, vùng khớp hông, xương chậu.
Tận quýnh (尽炅): hơi ấm đến khắp, hàn tan, khí thông.
Đoạn 6
病在筋,筋挛节痛,不可以行,名曰筋痹,刺筋上为故,刺分肉闲,不可中骨也,病起筋炅,病已止。
Hán Việt
Bệnh tại cân, cân luyến tiết thống, bất khả dĩ hành, danh viết cân tý. Thích cân thượng vi cố, thích phân nhục gian, bất khả trúng cốt dã. Bệnh khởi cân quýnh, bệnh dĩ chỉ.
Dịch nghĩa
Bệnh ở gân, gân co rút, khớp đau, không thể đi lại, gọi là cân tý.
Nên châm trên gân theo đúng phép, châm vào khoảng phân nhục, không được trúng xương.
Khi bệnh khởi mà gân được ấm lên, bệnh sẽ dừng.
Giải thích từ ngữ
Cân tý (筋痹): chứng tý ở gân, gân co rút, đau khớp, vận động khó.
Cân luyến (筋挛): gân co quắp, co rút.
Tiết thống (节痛): đau khớp.
Phân nhục (分肉): khoảng giữa các lớp cơ thịt.
Bất khả trúng cốt (不可中骨): không được châm phạm đến xương.
Cân quýnh (筋炅): gân được ấm, hàn ở gân tan, khí huyết thông.
Đoạn 7
病在肌肤,肌肤尽痛,名曰肌痹,伤于寒湿,刺大分小分,多发针而深之,以热为故,无伤筋骨,伤筋骨,痈发若变,诸分尽热,病已止。
Hán Việt
Bệnh tại cơ phu, cơ phu tận thống, danh viết cơ tý, thương vu hàn thấp. Thích đại phân tiểu phân, đa phát châm nhi thâm chi, dĩ nhiệt vi cố, vô thương cân cốt. Thương cân cốt, ung phát nhược biến. Chư phân tận nhiệt, bệnh dĩ chỉ.
Dịch nghĩa
Bệnh ở cơ da, toàn bộ cơ da đều đau, gọi là cơ tý, do hàn thấp làm thương.
Nên châm các đại phân, tiểu phân; phát kim nhiều lần và châm sâu hơn, lấy làm cho ấm lên làm phép chính, nhưng không được làm thương gân xương.
Nếu làm thương gân xương thì ung có thể phát ra hoặc bệnh biến đổi.
Khi các khoảng phân nhục đều ấm lên, bệnh sẽ dừng.
Giải thích từ ngữ
Cơ phu (肌肤): cơ thịt và da.
Cơ tý (肌痹): tý ở cơ nhục và da, thường đau khắp cơ thịt, nặng, mỏi, do hàn thấp.
Đại phân, tiểu phân (大分、小分): các khoảng phân chia lớn nhỏ giữa cơ thịt.
Đa phát châm (多发针): dùng nhiều lần phát kim hoặc nhiều điểm châm.
Dĩ nhiệt vi cố (以热为故): lấy việc làm khí ấm lên, hàn thấp tan đi làm mục tiêu.
Ung phát nhược biến (痈发若变): nếu châm sai làm tổn thương sâu, có thể phát ung hoặc sinh biến chứng.
Đoạn 8
病在骨,骨重不可举,骨髓酸痛,寒气至,名曰骨痹,深者刺无伤脉肉为故,其道大分小分,骨热病已止。
Hán Việt
Bệnh tại cốt, cốt trọng bất khả cử, cốt tủy toan thống, hàn khí chí, danh viết cốt tý. Thâm giả thích vô thương mạch nhục vi cố, kỳ đạo đại phân tiểu phân, cốt nhiệt bệnh dĩ chỉ.
Dịch nghĩa
Bệnh ở xương, xương nặng không thể nâng lên, xương tủy đau mỏi, hàn khí đến, gọi là cốt tý.
Bệnh sâu thì châm theo phép không làm thương mạch và thịt. Đường châm đi qua các đại phân, tiểu phân. Khi xương được ấm lên thì bệnh dừng.
Giải thích từ ngữ
Cốt tý (骨痹): chứng tý ở xương, đau sâu, nặng, mỏi trong xương tủy, thường do hàn tà vào sâu.
Cốt trọng bất khả cử (骨重不可举): xương nặng, chi thể không nâng nổi.
Cốt tủy toan thống (骨髓酸痛): xương tủy đau mỏi, đau sâu.
Vô thương mạch nhục (无伤脉肉): châm sâu nhưng phải tránh làm thương mạch và cơ thịt.
Cốt nhiệt (骨热): xương được ấm, hàn tà tan, khí huyết thông.
Đoạn 9
病在诸阳脉,且寒且热,诸分且寒且热,名曰狂,刺之虚脉,视分尽热,病已止。
Hán Việt
Bệnh tại chư dương mạch, thả hàn thả nhiệt, chư phân thả hàn thả nhiệt, danh viết cuồng. Thích chi hư mạch, thị phân tận nhiệt, bệnh dĩ chỉ.
Dịch nghĩa
Bệnh ở các dương mạch, vừa lạnh vừa nóng; các khoảng phân nhục cũng vừa lạnh vừa nóng, gọi là cuồng.
Nên châm vào hư mạch của nó, xem các phân nhục đều ấm lên thì bệnh dừng.
Giải thích từ ngữ
Chư dương mạch (诸阳脉): các kinh dương, phần biểu, phần ngoài.
Thả hàn thả nhiệt (且寒且热): lúc lạnh lúc nóng, hàn nhiệt xen nhau.
Cuồng (狂): thần chí rối loạn, kích động, nói làm bất thường; ở đây liên hệ dương mạch bị bệnh, hàn nhiệt giao tranh.
Hư mạch (虚脉): mạch hư trong hệ bệnh, nơi cần điều chỉnh để khí trở lại.
Phân tận nhiệt (分尽热): các khoảng phân nhục đều ấm lên, khí dương thông, hàn được giải.
Đoạn 10
病初发,岁一发,不治月一发,不治,月四五发,名曰癫病,刺诸分诸脉,其无寒者以针调之,病止。
Hán Việt
Bệnh sơ phát, tuế nhất phát; bất trị, nguyệt nhất phát; bất trị, nguyệt tứ ngũ phát, danh viết điên bệnh. Thích chư phân chư mạch, kỳ vô hàn giả dĩ châm điều chi, bệnh chỉ.
Dịch nghĩa
Bệnh mới phát, mỗi năm phát một lần. Không trị thì mỗi tháng phát một lần. Lại không trị nữa thì mỗi tháng phát bốn năm lần, gọi là điên bệnh.
Nên châm các phân nhục và các mạch. Trường hợp không có hàn thì dùng kim điều hòa, bệnh sẽ dừng.
Giải thích từ ngữ
Điên bệnh (癫病): bệnh điên, điên giản, bệnh phát cơn về thần chí hoặc co giật theo cách hiểu cổ.
Tuế nhất phát, nguyệt nhất phát (岁一发,月一发): bệnh từ thưa thành dày, cơn phát ngày càng gần.
Chư phân chư mạch (诸分诸脉): các khoảng phân nhục và các mạch liên quan.
Vô hàn giả (无寒者): trường hợp không có hàn tà rõ, không cần chuyên ôn tán hàn, mà dùng châm điều khí.
Đoạn 11
病风且寒且热,炅汗出,一日数过,先刺诸分理络脉,汗出且寒且热,三日一刺,百日而已。
Hán Việt
Bệnh phong thả hàn thả nhiệt, quýnh hãn xuất, nhất nhật sổ quá. Tiên thích chư phân lý lạc mạch, hãn xuất thả hàn thả nhiệt, tam nhật nhất thích, bách nhật nhi dĩ.
Dịch nghĩa
Bệnh phong vừa lạnh vừa nóng, nóng bức và ra mồ hôi, một ngày phát nhiều lần.
Trước hết châm các phân lý và lạc mạch. Khi vẫn còn ra mồ hôi, vừa lạnh vừa nóng, thì ba ngày châm một lần; một trăm ngày thì khỏi.
Giải thích từ ngữ
Bệnh phong (病风): bệnh do phong tà, dễ biến đổi, phát nhiều lần.
Quýnh hãn xuất (炅汗出): nóng bức mà mồ hôi ra.
Nhất nhật sổ quá (一日数过): một ngày phát nhiều lần.
Phân lý (分理): khe thớ giữa da thịt, cơ nhục; nơi vệ khí và tà khí giao tranh.
Lạc mạch (络脉): mạch nhánh, mạch nhỏ, nơi phong tà dễ lưu trú.
Tam nhật nhất thích (三日一刺): ba ngày châm một lần, chỉ phép trị kéo dài, điều dần.
Bách nhật nhi dĩ (百日而已): một trăm ngày thì khỏi; văn cổ nói thời hạn điều trị dài, không nên nóng vội.
Đoạn 12
病大风,骨节重,须眉堕,名曰大风,刺肌肉为故,汗出百日,刺骨髓,汗出百日,凡二百日,须眉生而止针。
Hán Việt
Bệnh đại phong, cốt tiết trọng, tu mi đọa, danh viết đại phong. Thích cơ nhục vi cố, hãn xuất bách nhật. Thích cốt tủy, hãn xuất bách nhật. Phàm nhị bách nhật, tu mi sinh nhi chỉ châm.
Dịch nghĩa
Bệnh đại phong, xương khớp nặng nề, râu mày rụng, gọi là đại phong.
Trước hết châm cơ nhục theo đúng phép, làm cho mồ hôi ra trong một trăm ngày.
Sau đó châm đến xương tủy, lại làm cho mồ hôi ra trong một trăm ngày.
Tổng cộng hai trăm ngày, khi râu mày mọc lại thì dừng châm.
Giải thích từ ngữ
Đại phong (大风): bệnh phong nặng, lâu ngày, tổn thương sâu, có xương khớp nặng, râu mày rụng. Đây là tên bệnh cổ, không nên đồng nhất đơn giản với một bệnh hiện đại.
Cốt tiết trọng (骨节重): xương khớp nặng nề, vận động khó.
Tu mi đọa (须眉堕): râu và lông mày rụng, dấu bệnh phong nặng, khí huyết da lông suy tổn.
Thích cơ nhục (刺肌肉): châm ở tầng cơ nhục trước, để thông khí huyết phần ngoài.
Thích cốt tủy (刺骨髓): sau đó mới trị đến tầng sâu hơn là xương tủy.
Hãn xuất bách nhật (汗出百日): làm mồ hôi ra trong một trăm ngày, chỉ quá trình trị lâu dài, làm tà phong theo biểu mà giải dần.
Tu mi sinh nhi chỉ châm (须眉生而止针): khi râu mày mọc lại thì biết khí huyết da lông phục hồi, có thể dừng châm.
Nhận xét chung
Thiên Trường Thích Tiết luận bàn về các phép châm theo bệnh ở từng tầng và từng loại bệnh: đầu đau, hàn nhiệt, ung thũng, tích ở bụng dưới, sán do hàn, cân tý, cơ tý, cốt tý, cuồng, điên bệnh, phong bệnh và đại phong. Chữ “trường thích” có thể hiểu là phép châm kéo dài, châm sâu, châm theo từng tiết đoạn và từng tầng bệnh; chữ “tiết” là tiết pháp, thứ lớp, quy củ.
Điểm nổi bật đầu tiên là bệnh ở đâu thì châm theo tầng đó. Bệnh ở đầu có thể châm đến xương nhưng không được làm thương các lớp khác. Bệnh ở cơ da thì châm đại phân, tiểu phân để làm ấm hàn thấp. Bệnh ở xương thì châm sâu hơn nhưng không làm thương mạch thịt. Bệnh ở gân thì châm gân và phân nhục, không phạm xương. Điều này tiếp nối tinh thần của các thiên Thích Yếu, Thích Tề, Thích Cấm: biết tầng bệnh, biết độ sâu, biết nơi cấm.
Điểm thứ hai là nhiều bệnh trong thiên này lấy “làm ấm” làm dấu hiệu khỏi. Cân tý khỏi khi gân được ấm; cơ tý khỏi khi các phân nhục đều ấm; cốt tý khỏi khi xương được ấm. Điều đó cho thấy các chứng tý ở đây phần nhiều do hàn hoặc hàn thấp, khí huyết bị bế; khi châm làm dương khí đến, hàn tan, khí huyết thông thì bệnh dừng.
Điểm thứ ba là bệnh tích và sán ở bụng dưới phải dẫn khí xuống. Với tích ở bụng dưới, châm hông, cạnh cột sống, vùng khá liêu, hạ sườn để dẫn khí nhiệt trong bụng đi xuống. Với sán do hàn, đau bụng, đại tiểu tiện không thông, phải châm vùng bụng dưới, bẹn, lưng hông, đến khi hơi ấm lan hết. Đây là phép thông hạ tiêu, tán hàn kết.
Điểm thứ tư là các bệnh thần chí như cuồng, điên bệnh được giải thích qua dương mạch, hàn nhiệt và sự phát cơn. Cuồng do bệnh ở các dương mạch, hàn nhiệt giao tranh. Điên bệnh ban đầu phát thưa, không trị thì phát dày hơn. Phép trị là châm các phân nhục, các mạch để điều khí, làm bệnh dừng.
Điểm thứ năm là bệnh phong và đại phong cần điều trị lâu dài. Phong bệnh hàn nhiệt, mồ hôi ra nhiều lần trong ngày thì ba ngày châm một lần, trăm ngày mới khỏi. Đại phong nặng hơn, xương khớp nặng, râu mày rụng, phải châm cơ nhục trăm ngày, rồi châm xương tủy trăm ngày, đến khi râu mày mọc lại mới dừng. Dù không nên hiểu thời hạn theo nghĩa máy móc, tinh thần ở đây là: bệnh phong lâu ngày vào sâu thì trị phải bền bỉ, theo tầng nông sâu, không thể nóng vội.
Tóm lại, Trường Thích Tiết luận dạy phép châm theo từng lớp bệnh và từng quá trình bệnh. Từ da thịt, phân nhục, gân, xương, tủy đến lạc mạch, từ hàn thấp tý chứng đến phong bệnh, điên cuồng, ung tích, tất cả đều cần biết bệnh ở đâu, tà là hàn hay nhiệt, nông hay sâu, cần làm ấm hay tiết huyết, cần trị ngắn hay điều trị lâu. Đây là một thiên rất thực dụng, nhưng cũng rất thận trọng, đúng với tinh thần châm pháp Nội Kinh.