Dẫn nhập
Thiên “Vệ khí thất thường” bàn về khi vệ khí lưu trệ, tích lại không vận hành theo thường đạo, khiến ngực sườn, vị quản, bụng đầy, hơi thở nghịch, suyễn tức. Thiên này cũng bàn cách nhận biết bệnh ở da, thịt, khí huyết, gân, xương; cho rằng phép châm phải tùy bệnh nông sâu, nhẹ nặng mà điều khí. Phần sau lại phân biệt người béo, người nhiều cao, người nhiều cơ nhục, người béo, người già trẻ lớn nhỏ, hàn nhiệt khác nhau, để thấy phép trị không thể dùng một khuôn cho mọi người.
1
黃帝曰:衛氣之留於腹中,搐積不行,菀蘊不得常所,使人支脅胃中滿,喘呼逆息者,何以去之?
Hoàng Đế viết: Vệ khí chi lưu ư phúc trung, súc tích bất hành, uẩn uất bất đắc thường sở, sử nhân chi hiếp vị trung mãn, suyễn hô nghịch tức giả, hà dĩ khứ chi?
Hoàng Đế nói: Vệ khí lưu lại trong bụng, co rút tích tụ mà không vận hành, uẩn kết không được ở nơi thường trú, khiến người đầy ở vùng chi hiếp và trong vị, suyễn thở, hơi thở nghịch, thì làm sao trừ đi?
Giải thích
“Vệ khí” vốn đi ở ngoài mạch, chủ bảo vệ phần biểu, ôn dưỡng cơ nhục, điều hòa đóng mở tấu lý. Khi vệ khí thất thường, không vận hành đúng đường, lại lưu trệ trong bụng hoặc ngực, thì sinh đầy trướng, khí nghịch, thở suyễn. “Chi hiếp” là vùng sườn bên; “vị trung mãn” là đầy trong vùng dạ dày.
伯高曰:其氣積於胸中者,上取之,積於腹中者,下取之,上下皆滿者,旁取之。
Bá Cao viết: Kỳ khí tích ư hung trung giả, thượng thủ chi; tích ư phúc trung giả, hạ thủ chi; thượng hạ giai mãn giả, bàng thủ chi.
Bá Cao thưa: Khí tích ở trong ngực thì lấy ở trên; tích ở trong bụng thì lấy ở dưới; trên dưới đều đầy thì lấy ở bên cạnh.
Giải thích
Đây là nguyên tắc theo vị trí mà trị. Tà khí ở thượng tiêu thì lấy huyệt ở phần trên để thông khí; khí tích ở hạ phúc thì lấy phần dưới để dẫn xuống; nếu trên dưới đều đầy thì lấy hai bên sườn, bên cạnh đường khí trệ để khai thông. Phép này lấy “nơi khí tích” làm căn cứ.
2
黃帝曰:取之奈何?
Hoàng Đế viết: Thủ chi nại hà?
Hoàng Đế hỏi: Lấy huyệt như thế nào?
伯高對曰:積於上,寫人迎、天突、喉中;積於下者,寫三里與氣街;上下皆滿者,上下取之,與季脅之下一寸;重者,雞足取之。
Bá Cao đối viết: Tích ư thượng, tả Nhân nghênh, Thiên đột, hầu trung; tích ư hạ giả, tả Tam lý dữ Khí nhai; thượng hạ giai mãn giả, thượng hạ thủ chi, dữ quý hiếp chi hạ nhất thốn; trọng giả, kê túc thủ chi.
Bá Cao đáp: Tích ở trên thì tả Nhân nghênh, Thiên đột và vùng giữa họng. Tích ở dưới thì tả Tam lý và Khí nhai. Trên dưới đều đầy thì lấy cả trên cả dưới, cùng với chỗ dưới hạ sườn một thốn. Trường hợp nặng thì lấy theo phép “kê túc”.
Giải thích
Nhân nghênh ở vùng cổ, Thiên đột ở hõm trên xương ức, đều có tác dụng thông khí ở cổ ngực, giáng nghịch. Tam lý điều vị khí, thông trung hạ; Khí nhai ở vùng bẹn, liên hệ khí xung, giúp thông khí hạ tiêu. “Kê túc thủ chi” là cách lấy huyệt dạng chân gà, tức một chính hai bên hoặc nhiều hướng quanh điểm bệnh để thông khí kết nặng.
診視其脈大而弦急,及絕不至者,及腹皮急甚者,不可刺也。
Chẩn thị kỳ mạch đại nhi huyền cấp, cập tuyệt bất chí giả, cập phúc bì cấp thậm giả, bất khả thích dã.
Khi chẩn mà thấy mạch lớn, huyền, gấp; hoặc mạch tuyệt không đến; hoặc da bụng căng gấp quá mức, thì không thể châm.
Giải thích
Mạch đại mà huyền cấp là tà thịnh, khí nghịch mạnh, bệnh thế cấp. Mạch tuyệt không đến là chính khí suy nguy. Da bụng căng gấp quá mức là khí kết nặng, bệnh cơ hiểm. Những trường hợp ấy nếu châm sai thời có thể làm tổn chính khí hoặc khiến bệnh biến, nên phải thận trọng, không được vội châm.
黃帝曰:善。
Hoàng Đế viết: Thiện.
Hoàng Đế nói: Hay thay.
3
黃帝問於伯高曰:何以知皮肉氣血筋骨之病也?
Hoàng Đế vấn ư Bá Cao viết: Hà dĩ tri bì nhục khí huyết cân cốt chi bệnh dã?
Hoàng Đế hỏi Bá Cao rằng: Dựa vào đâu để biết bệnh ở da, thịt, khí huyết, gân, xương?
伯高曰:色起兩眉薄澤者,病在皮;唇色青黃赤白黑者,病在肌肉;營氣濡然者,病在血氣;目色青黃赤白黑者,病在筋;耳焦枯受塵垢,病在骨。
Bá Cao viết: Sắc khởi lưỡng mi bạc trạch giả, bệnh tại bì; thần sắc thanh hoàng xích bạch hắc giả, bệnh tại cơ nhục; dinh khí nhu nhiên giả, bệnh tại huyết khí; mục sắc thanh hoàng xích bạch hắc giả, bệnh tại cân; nhĩ tiêu khô thụ trần cấu, bệnh tại cốt.
Bá Cao thưa: Sắc hiện ở khoảng hai lông mày mà mỏng, ít nhuận là bệnh ở da. Sắc môi hiện xanh, vàng, đỏ, trắng, đen là bệnh ở cơ nhục. Dinh khí có vẻ ẩm trệ, nhu nhược là bệnh ở huyết khí. Sắc mắt hiện xanh, vàng, đỏ, trắng, đen là bệnh ở gân. Tai khô cháy, như bám bụi bẩn là bệnh ở xương.
Giải thích
Đoạn này nêu phép xem bên ngoài để biết bệnh ở tầng nào. Da ứng với vùng sắc giữa hai mày; cơ nhục ứng với môi; huyết khí ứng với dinh khí và sắc nhuận; gân ứng với mắt, vì can chủ cân, khai khiếu ra mắt; xương ứng với tai, vì thận chủ cốt, khai khiếu ra tai. Sắc mất nhuận, khô cháy, biến màu đều là dấu bệnh.
4
黃帝曰:病形何如,取之奈何?
Hoàng Đế viết: Bệnh hình hà như, thủ chi nại hà?
Hoàng Đế hỏi: Hình trạng bệnh như thế nào, và lấy huyệt ra sao?
伯高曰:夫百病變化,不可勝數,然皮有部,肉有柱,血氣有輸,骨有屬。
Bá Cao viết: Phu bách bệnh biến hóa, bất khả thắng số, nhiên bì hữu bộ, nhục hữu trụ, huyết khí hữu du, cốt hữu thuộc.
Bá Cao thưa: Trăm bệnh biến hóa, không thể kể hết. Nhưng da có bộ phận, thịt có trụ, huyết khí có chỗ du, xương có nơi thuộc.
Giải thích
Bệnh tuy biến hóa vô cùng, nhưng khi quy nạp vẫn có nơi nương: bệnh ở da thì xét bộ của da; bệnh ở thịt thì xét trụ của thịt; bệnh ở huyết khí thì xét nơi khí huyết vận chuyển; bệnh ở xương thì xét nơi xương thuộc và thông với tủy. Đây là cách đưa bệnh phức tạp về từng tầng cơ thể.
黃帝曰:願聞其故。
Hoàng Đế viết: Nguyện văn kỳ cố.
Hoàng Đế nói: Xin được nghe nguyên do.
伯高曰:皮之部,輸於四末;肉之柱,有臂脛諸陽分肉之間,與足少陰分間;血氣之輸,輸於諸絡,氣血留居,則盛而起,筋部無陰無陽,無左無右,候病所在;骨之屬者,骨空之所以受益而益腦髓者也。
Bá Cao viết: Bì chi bộ, du ư tứ mạt; nhục chi trụ, hữu tý hĩnh chư dương phân nhục chi gian, dữ túc Thiếu âm phân gian; huyết khí chi du, du ư chư lạc, khí huyết lưu cư, tắc thịnh nhi khởi; cân bộ vô âm vô dương, vô tả vô hữu, hậu bệnh sở tại; cốt chi thuộc giả, cốt không chi sở dĩ thụ ích nhi ích não tủy giả dã.
Bá Cao nói: Bộ của da truyền ra bốn đầu chi. Trụ của thịt ở khoảng phân nhục các dương nơi tay và cẳng chân, cùng khoảng phân gian của túc Thiếu âm. Chỗ du của huyết khí là ở các lạc; khí huyết lưu lại thì đầy thịnh mà nổi lên. Bộ của gân không phân âm dương, không phân trái phải, chỉ xem bệnh ở chỗ nào. Nơi thuộc của xương là các cốt không, chỗ nhận sự tư dưỡng để làm đầy thêm não tủy.
Giải thích
“Bì chi bộ” hiện ở bốn đầu chi vì da lông và vệ khí thông ra ngoài. “Nhục chi trụ” là chỗ cơ nhục làm cột trụ, thường ở tay chân và khoảng phân nhục. “Huyết khí chi du” ở lạc mạch, nên khí huyết ứ lưu thì lạc nổi lên. “Cân bộ” thì theo nơi đau co rút mà xét, không câu nệ trái phải âm dương. “Cốt không” là các khe hốc của xương, nơi tinh khí nuôi tủy não.
5
黃帝曰:取之奈何?
Hoàng Đế viết: Thủ chi nại hà?
Hoàng Đế hỏi: Lấy huyệt như thế nào?
伯高曰:夫病變化,浮沉深淺,不可勝究,各在其處,病間者淺之,甚者深之,間者小之,甚者眾之,隨變而調氣,故曰上工。
Bá Cao viết: Phu bệnh biến hóa, phù trầm thâm thiển, bất khả thắng cứu, các tại kỳ xứ; bệnh gian giả thiển chi, thậm giả thâm chi; gian giả tiểu chi, thậm giả chúng chi; tùy biến nhi điều khí, cố viết thượng công.
Bá Cao thưa: Bệnh biến hóa, có nổi có chìm, có sâu có nông, không thể xét hết. Mỗi bệnh ở nơi riêng của nó. Bệnh nhẹ thì châm nông; bệnh nặng thì châm sâu. Bệnh nhẹ thì dùng ít kim; bệnh nặng thì dùng nhiều kim. Tùy theo biến hóa mà điều khí, cho nên gọi là bậc thượng công.
Giải thích
Đây là nguyên tắc rất quan trọng: không châm cố định một kiểu. Bệnh ở nông thì châm nông, bệnh ở sâu thì châm sâu; bệnh nhẹ thì thủ pháp nhẹ, ít kim; bệnh nặng thì thủ pháp sâu, nhiều điểm hơn. “Tùy biến điều khí” mới là năng lực của thầy thuốc giỏi.
Tiểu kết phần đầu
Phần đầu của thiên “Vệ khí thất thường” nêu hai ý lớn.
Một là khi vệ khí lưu trệ, tích ở ngực thì lấy ở trên, tích ở bụng thì lấy ở dưới, trên dưới đều đầy thì lấy ở bên. Nhưng nếu mạch quá đại, huyền, cấp, hoặc mạch tuyệt không đến, hoặc da bụng căng gấp quá mức, thì không được châm bừa.
Hai là bệnh có thể ở nhiều tầng: da, thịt, khí huyết, gân, xương. Da xem sắc ở khoảng hai mày; thịt xem môi; huyết khí xem dinh khí và lạc; gân xem mắt và nơi co đau; xương xem tai và cốt không. Khi trị phải xét bệnh nông sâu, nhẹ nặng, rồi tùy biến mà điều khí.
6
黃帝問于伯高曰:人之肥瘦大小溫寒,有老壯少小,別之奈何?
Hoàng Đế vấn vu Bá Cao viết: Nhân chi phì sấu đại tiểu ôn hàn, hữu lão tráng thiếu tiểu, biệt chi nại hà?
Hoàng Đế hỏi Bá Cao rằng: Con người có béo gầy, lớn nhỏ, ấm lạnh, lại có già, tráng, thiếu, nhỏ; phân biệt như thế nào?
伯高對曰:人年五十已上為老,二十已上為壯,十八已上為少,六歲已上為小。
Bá Cao đối viết: Nhân niên ngũ thập dĩ thượng vi lão, nhị thập dĩ thượng vi tráng, thập bát dĩ thượng vi thiếu, lục tuế dĩ thượng vi tiểu.
Bá Cao đáp: Người từ năm mươi tuổi trở lên gọi là già; từ hai mươi tuổi trở lên gọi là tráng; từ mười tám tuổi trở lên gọi là thiếu; từ sáu tuổi trở lên gọi là nhỏ.
Giải thích
Đây là cách phân chia tuổi theo cổ văn. “Lão” là tuổi khí huyết bắt đầu suy rõ; “tráng” là tuổi khí huyết sung thịnh; “thiếu” là tuổi còn trẻ, khí huyết đang trưởng thành; “tiểu” là trẻ nhỏ, tạng phủ còn non. Khi trị bệnh, tuổi tác khác nhau thì sức chịu châm, khả năng phục hồi, hư thực hàn nhiệt cũng khác nhau.
7
黃帝曰:何以度知其肥瘦?
Hoàng Đế viết: Hà dĩ độ tri kỳ phì sấu?
Hoàng Đế hỏi: Lấy gì để đo biết người béo hay gầy?
伯高曰:人有肥、有膏、有肉。
Bá Cao viết: Nhân hữu phì, hữu cao, hữu nhục.
Bá Cao thưa: Người có loại phì, có loại cao, có loại nhục.
Giải thích
Ở đây không chỉ nói béo gầy đơn giản. Cổ văn chia thể hình thành ba loại: “phì”, “cao”, “nhục”. “Phì” là béo chắc; “cao” là nhiều mỡ mềm, da thịt lỏng; “nhục” là người có cơ nhục đầy, thân hình lớn và chắc.
黃帝曰:別此奈何?
Hoàng Đế viết: Biệt thử nại hà?
Hoàng Đế hỏi: Phân biệt ba loại ấy như thế nào?
伯高曰:膕肉堅,皮滿者,肥。
Bá Cao viết: Quắc nhục kiên, bì mãn giả, phì.
Bá Cao đáp: Thịt vùng khoeo và cơ nhục chắc, da đầy, đó là loại phì.
Giải thích
“Phì” ở đây không chỉ là mập, mà là hình thể đầy, da căng, cơ nhục chắc. Người loại này có thể nhiều thịt mỡ nhưng không mềm nhão, thân thể tương đối đầy và có lực.
膕肉不堅,皮緩者,膏。
Quắc nhục bất kiên, bì hoãn giả, cao.
Thịt vùng khoeo không chắc, da lỏng, đó là loại cao.
Giải thích
“Cao” là nhiều mỡ mềm, da thịt lỏng lẻo. Người loại này nhìn có vẻ béo, nhưng thịt không chắc, da không căng, dễ có bụng sa, mỡ mềm, khí cơ không thật mạnh ở cơ nhục.
皮肉不相離者,肉。
Bì nhục bất tương ly giả, nhục.
Da và thịt không rời nhau, đó là loại nhục.
Giải thích
“Nhục” là người cơ nhục đầy chắc, da thịt kết hợp chặt, không lỏng rời. Loại này thường thân thể lớn, cơ nhục sung, khí huyết tương đối cân bằng hơn loại cao.
8
黃帝曰:身之寒溫何如?
Hoàng Đế viết: Thân chi hàn ôn hà như?
Hoàng Đế hỏi: Thân thể lạnh hay ấm thì phân biệt thế nào?
伯高曰:膏者,其肉淖而麤理者,身寒,細理者,身熱。
Bá Cao viết: Cao giả, kỳ nhục náo nhi thô lý giả, thân hàn; tế lý giả, thân nhiệt.
Bá Cao đáp: Người thuộc loại cao, nếu thịt mềm nhão mà thớ lý thô thì thân lạnh; nếu thớ lý nhỏ mịn thì thân nóng.
Giải thích
“Nhục náo” là thịt mềm, nhão, không chắc. “Thô lý” là tấu lý thưa thô, khí dễ tán, dương khí không giữ được, nên thân dễ lạnh. “Tế lý” là tấu lý kín mịn, khí nhiệt dễ uất giữ, nên thân dễ nóng.
脂者,其肉堅,細理者熱,麤理者寒。
Chi giả, kỳ nhục kiên, tế lý giả nhiệt, thô lý giả hàn.
Người thuộc loại chi, thịt chắc; thớ lý nhỏ mịn thì nóng, thớ lý thô thì lạnh.
Giải thích
“Chi” là loại mỡ chắc, thân hình thu nhỏ, không quá to. Nếu cơ nhục chắc mà tấu lý kín, nhiệt dễ giữ bên trong, nên thân nóng. Nếu tấu lý thô, khí dương dễ tán ra ngoài, nên thân lạnh.
9
黃帝曰:其肥瘦大小奈何?
Hoàng Đế viết: Kỳ phì sấu đại tiểu nại hà?
Hoàng Đế hỏi: Béo gầy, lớn nhỏ của các loại ấy như thế nào?
伯高曰:膏者,多氣而皮縱緩,故能縱腹垂腴。
Bá Cao viết: Cao giả, đa khí nhi bì túng hoãn, cố năng túng phúc thùy du.
Bá Cao thưa: Người loại cao thì nhiều khí mà da lỏng nhão, cho nên bụng sa xuống, mỡ rủ xuống.
Giải thích
Người “cao” có khí nhiều nhưng da thịt lỏng, không thu giữ tốt, nên dễ có bụng xệ, mỡ mềm rủ. Đây là loại béo mềm, không chắc.
肉者,身體容大。
Nhục giả, thân thể dung đại.
Người loại nhục thì thân thể dung chứa lớn.
Giải thích
Người “nhục” có cơ nhục sung mãn, thân hình lớn, đầy đặn, không nhất thiết là mỡ mềm. Cơ nhục đầy thì hình thể lớn mà tương đối cân đối.
脂者,其身收小。
Chi giả, kỳ thân thu tiểu.
Người loại chi thì thân thể thu lại mà nhỏ.
Giải thích
Người “chi” tuy có mỡ, nhưng mỡ chắc, thân thể thu gọn, không phát triển lớn như loại nhục, cũng không chảy xệ như loại cao.
10
黃帝曰:三者之氣血多少何如?
Hoàng Đế viết: Tam giả chi khí huyết đa thiểu hà như?
Hoàng Đế hỏi: Khí huyết nhiều ít của ba loại ấy như thế nào?
伯高曰:膏者,多氣而多氣者,熱,熱者耐寒。
Bá Cao viết: Cao giả, đa khí; nhi đa khí giả, nhiệt; nhiệt giả nại hàn.
Bá Cao thưa: Người loại cao thì nhiều khí; người nhiều khí thì nóng; người nóng thì chịu lạnh được.
Giải thích
Người loại cao tuy da thịt lỏng, nhưng khí tương đối nhiều và dễ phát ra ngoài, nên có khuynh hướng nhiệt, có thể chịu lạnh tốt hơn. Tuy vậy nếu tấu lý quá thô và da lỏng, cũng có thể dễ hàn, nên phải phối hợp đoạn trên để xét.
肉者,多血則充形,充形則平。
Nhục giả, đa huyết tắc sung hình, sung hình tắc bình.
Người loại nhục thì nhiều huyết; huyết nhiều thì làm đầy hình thể; hình thể được làm đầy thì bình hòa.
Giải thích
Cơ nhục đầy là nhờ huyết khí nuôi dưỡng. Người loại nhục thường huyết tương đối đầy, hình thể sung mãn, nên trạng thái bình ổn hơn, không quá lỏng mềm như cao, cũng không quá thu nhỏ như chi.
脂者,其血清,氣滑少,故不能大。此別於眾人者也。
Chi giả, kỳ huyết thanh, khí hoạt thiểu, cố bất năng đại. Thử biệt ư chúng nhân giả dã.
Người loại chi thì huyết trong, khí trơn mà ít, cho nên thân không thể lớn. Đó là chỗ phân biệt với người thường.
Giải thích
“Chi” là loại có mỡ chắc nhưng khí không nhiều, huyết tương đối trong, khí hoạt mà ít, nên thân hình thu nhỏ, không lớn. Đây là cách cổ nhân quan sát thể chất qua hình thể, da thịt, khí huyết.
11
黃帝曰:眾人奈何?
Hoàng Đế viết: Chúng nhân nại hà?
Hoàng Đế hỏi: Người bình thường thì như thế nào?
伯高曰:眾人皮肉脂膏,不能相加也,血與氣,不能相多,故其形不小不大,各自稱其身,命曰眾人。
Bá Cao viết: Chúng nhân bì nhục chi cao, bất năng tương gia dã, huyết dữ khí, bất năng tương đa, cố kỳ hình bất tiểu bất đại, các tự xứng kỳ thân, mệnh viết chúng nhân.
Bá Cao thưa: Người bình thường thì da, thịt, chi, cao không cái nào tăng vượt quá cái kia; huyết và khí cũng không cái nào quá nhiều. Cho nên hình thể không nhỏ không lớn, mỗi phần tự cân xứng với thân mình, gọi là người thường.
Giải thích
“Chúng nhân” là thể chất trung bình, không thiên lệch rõ về cao, nhục hay chi. Da thịt, mỡ, cơ, khí huyết đều tương đối cân bằng, hình thể vừa phải. Đây là chuẩn để đối chiếu với các thể chất thiên lệch.
12
黃帝曰:善。治之奈何?
Hoàng Đế viết: Thiện. Trị chi nại hà?
Hoàng Đế nói: Hay thay. Vậy trị như thế nào?
伯高曰:必先別其三形,血之多少,氣之清濁,而後調之,治無失常經。
Bá Cao viết: Tất tiên biệt kỳ tam hình, huyết chi đa thiểu, khí chi thanh trọc, nhi hậu điều chi, trị vô thất thường kinh.
Bá Cao thưa: Trước hết phải phân biệt ba loại hình thể ấy, xét huyết nhiều hay ít, khí trong hay đục, rồi sau đó mới điều trị. Khi trị không được làm sai thường kinh.
Giải thích
Trị bệnh phải xét người trước khi xét bệnh. Cùng một chứng, người cao, người nhục, người chi có khí huyết khác nhau, da thịt khác nhau, hàn nhiệt khác nhau, sức chịu châm khác nhau. “Không mất thường kinh” nghĩa là dù tùy người mà trị, vẫn phải theo kinh mạch và phép thường của châm đạo.
是故膏人縱腹垂腴,肉人者,上下容大,脂人者,雖脂不能大者。
Thị cố cao nhân túng phúc thùy du, nhục nhân giả, thượng hạ dung đại, chi nhân giả, tuy chi bất năng đại giả.
Cho nên người loại cao thì bụng sa, mỡ rủ; người loại nhục thì trên dưới đều đầy lớn; người loại chi tuy có mỡ nhưng thân không thể lớn.
Giải thích
Câu cuối nhắc lại đặc điểm ba thể hình để làm căn cứ trị liệu. Người cao mềm lỏng, khí nhiều nhưng da nhão; người nhục hình lớn, huyết đầy, cơ nhục sung; người chi thân nhỏ gọn, mỡ chắc, khí ít. Nếu không phân biệt, khi châm hoặc dùng phép điều khí rất dễ quá tay hoặc không đủ lực.
Tiểu kết phần thể chất
Phần này bàn về phân biệt tuổi tác và hình thể. Tuổi năm mươi trở lên là lão, hai mươi trở lên là tráng, mười tám trở lên là thiếu, sáu tuổi trở lên là tiểu. Tuổi khác nhau thì khí huyết thịnh suy khác nhau, nên cách điều trị cũng không thể giống nhau.
Về hình thể, thiên này chia thành ba loại: cao, nhục, chi. Người cao thì da thịt lỏng, bụng sa, mỡ rủ, khí nhiều nhưng dễ thiên lệch. Người nhục thì cơ nhục đầy, thân thể lớn, huyết nhiều, tương đối bình hòa. Người chi thì thịt chắc, thân thu nhỏ, huyết trong, khí ít, tuy có mỡ nhưng không lớn.
Điều đáng quý là Nội kinh không nhìn người bệnh như nhau. Muốn trị đúng, phải xét tuổi, hình thể, khí huyết, hàn nhiệt, da thịt, tấu lý. Sau đó mới điều khí theo kinh mạch. Đây chính là tinh thần “tùy người mà trị”, không cố chấp một phép.
Tóm lại
Thiên “Vệ khí thất thường” gồm ba ý chính.
Một là vệ khí nếu lưu trệ, tích ở ngực bụng, sẽ làm đầy ngực sườn, vị quản, bụng, gây suyễn thở nghịch. Tích ở trên thì lấy trên, tích ở dưới thì lấy dưới, trên dưới đều đầy thì lấy bên cạnh; nhưng gặp mạch quá cấp, mạch tuyệt, bụng căng gấp thì không nên châm bừa bãi.
Hai là bệnh có tầng lớp: da, thịt, khí huyết, gân, xương. Mỗi tầng có dấu hiệu bên ngoài và nơi để lấy huyệt khác nhau. Bệnh nhẹ thì châm nông, ít kim; bệnh nặng thì châm sâu, nhiều kim; tùy biến mà điều khí mới là thượng công.
Ba là con người có thể chất khác nhau: già trẻ khác nhau, cao nhục chi khác nhau, khí huyết nhiều ít khác nhau, thân hàn thân nhiệt khác nhau. Vì vậy trị bệnh không thể chỉ nhìn tên bệnh, mà phải nhìn con người đang mang bệnh. Đó là điểm rất cốt lõi của thiên này.