Bàn về nơi kinh khí phát ra
Đoạn 1
《气府论》
足太阳脉气所发者七十八穴;两眉头各一,入发至项三寸半,傍五相去三寸,其浮气在皮中者凡五行,行五,五五二十五,项中大筋两傍各一,风府两傍各一,侠背以下至尻尾二十一节十五闲各一,五藏之俞各五,六府之俞各六,委中以下至足小指傍各六俞。
Hán Việt
Khí Phủ luận.
Túc Thái dương mạch khí sở phát giả thất thập bát huyệt. Lưỡng mi đầu các nhất, nhập phát chí hạng tam thốn bán, bàng ngũ tương khứ tam thốn. Kỳ phù khí tại bì trung giả phàm ngũ hàng, hàng ngũ, ngũ ngũ nhị thập ngũ. Hạng trung đại cân lưỡng bàng các nhất, Phong phủ lưỡng bàng các nhất, hiệp bối dĩ hạ chí khảo vĩ nhị thập nhất tiết thập ngũ gian các nhất. Ngũ tạng chi du các ngũ, lục phủ chi du các lục, Ủy trung dĩ hạ chí túc tiểu chỉ bàng các lục du.
Dịch nghĩa
Khí Phủ luận.
Những nơi mạch khí của Túc Thái dương phát ra có bảy mươi tám huyệt.
Ở đầu hai lông mày, mỗi bên một huyệt. Từ chỗ vào chân tóc đến gáy dài ba thốn rưỡi, hai bên có năm huyệt, cách nhau ba thốn. Phần phù khí ở trong da gồm năm hàng, mỗi hàng năm huyệt, năm lần năm là hai mươi lăm huyệt.
Hai bên gân lớn giữa gáy, mỗi bên một huyệt. Hai bên Phong phủ, mỗi bên một huyệt. Dọc hai bên lưng xuống đến xương cùng, xương cụt, trong hai mươi mốt đốt và mười lăm khe, mỗi khe có một huyệt.
Du huyệt của năm tạng, mỗi tạng năm huyệt. Du huyệt của sáu phủ, mỗi phủ sáu huyệt. Từ Ủy trung trở xuống đến bên cạnh ngón chân út, mỗi bên có sáu du huyệt.
Giải thích từ ngữ
Khí phủ (气府): nơi khí của kinh mạch phát ra, hội tụ, có thể hiểu là hệ thống huyệt vị theo từng kinh.
Túc Thái dương (足太阳): kinh Bàng quang, đi từ đầu, gáy, lưng, mông, mặt sau chân xuống ngón chân út.
Phù khí tại bì trung (浮气在皮中): khí nổi ở phần da, biểu hiện tầng nông của kinh khí.
Phong phủ (风府): huyệt vùng gáy, nơi phong tà dễ xâm nhập.
Hiệp bối (侠背): hai bên cột sống lưng.
Ủy trung (委中): huyệt ở khoeo chân, trọng yếu của kinh Túc Thái dương.
Đoạn 2
足少阳脉气所发者六十二穴;两角上各二,直目上发际内各五,耳前角上各一,耳前角下各一,锐发下各一,客主人各一,耳后陷中各一,下关各一,耳下牙车之后各一,缺盆各一,掖下三寸脇下至胠八闲各一,髀枢中傍各一,膝以下至足小指次指各六俞。
Hán Việt
Túc Thiếu dương mạch khí sở phát giả lục thập nhị huyệt. Lưỡng giác thượng các nhị, trực mục thượng phát tế nội các ngũ, nhĩ tiền giác thượng các nhất, nhĩ tiền giác hạ các nhất, nhuệ phát hạ các nhất, Khách chủ nhân các nhất, nhĩ hậu hãm trung các nhất, Hạ quan các nhất, nhĩ hạ nha xa chi hậu các nhất, Khuyết bồn các nhất, dịch hạ tam thốn hiếp hạ chí khư bát gian các nhất, bễ xu trung bàng các nhất, tất dĩ hạ chí túc tiểu chỉ thứ chỉ các lục du.
Dịch nghĩa
Những nơi mạch khí của Túc Thiếu dương phát ra có sáu mươi hai huyệt.
Trên hai góc đầu, mỗi bên hai huyệt. Ở trong chân tóc, thẳng trên mắt, mỗi bên năm huyệt. Trên góc trước tai, mỗi bên một huyệt. Dưới góc trước tai, mỗi bên một huyệt. Dưới chỗ tóc nhọn, mỗi bên một huyệt. Khách chủ nhân, mỗi bên một huyệt. Trong chỗ lõm sau tai, mỗi bên một huyệt. Hạ quan, mỗi bên một huyệt. Sau xương hàm dưới tai, mỗi bên một huyệt. Khuyết bồn, mỗi bên một huyệt.
Từ dưới nách ba thốn xuống dưới hông sườn đến vùng khư, tám khoảng, mỗi khoảng một huyệt. Bên cạnh trong vùng bễ xu, mỗi bên một huyệt. Từ dưới gối xuống đến ngón chân kế ngón út, mỗi bên có sáu du huyệt.
Giải thích từ ngữ
Túc Thiếu dương (足少阳): kinh Đởm, đi bên đầu, tai, hông sườn, mặt ngoài chân.
Lưỡng giác (两角): hai góc đầu, vùng thái dương.
Khách chủ nhân (客主人): huyệt vùng trước tai, thường liên hệ tai, mặt, hàm.
Hạ quan (下关): huyệt vùng khớp hàm.
Khuyết bồn (缺盆): hõm trên xương đòn.
Bễ xu (髀枢): vùng khớp háng, mấu chuyển lớn, nơi xoay chuyển của đùi.
Ngón chân kế ngón út: chỉ ngón thứ tư, nơi kinh Đởm đi xuống.
Đoạn 3
足阳明脉气所发者六十八穴;额颅发际傍各三,面鼽骨空各一,大迎之骨空各一,人迎各一,缺盆外骨空各一,膺中骨闲各一,侠鸠尾之外当乳下三寸,侠胃脘各五,侠齐广三寸各三,下齐二寸侠之各三,气街动脉各一,伏菟上各一,三里以下至足中指各八俞,分之所在穴空。
Hán Việt
Túc Dương minh mạch khí sở phát giả lục thập bát huyệt. Ngạch lô phát tế bàng các tam, diện cừu cốt không các nhất, Đại nghênh chi cốt không các nhất, Nhân nghênh các nhất, Khuyết bồn ngoại cốt không các nhất, ưng trung cốt gian các nhất. Hiệp Cưu vĩ chi ngoại đương nhũ hạ tam thốn, hiệp Vị quản các ngũ, hiệp tề quảng tam thốn các tam, hạ tề nhị thốn hiệp chi các tam, Khí nhai động mạch các nhất, Phục thố thượng các nhất, Tam lý dĩ hạ chí túc trung chỉ các bát du, phân chi sở tại huyệt không.
Dịch nghĩa
Những nơi mạch khí của Túc Dương minh phát ra có sáu mươi tám huyệt.
Bên chân tóc vùng trán, mỗi bên ba huyệt. Chỗ hõm xương vùng mặt và mũi, mỗi bên một huyệt. Chỗ hõm xương của Đại nghênh, mỗi bên một huyệt. Nhân nghênh, mỗi bên một huyệt. Chỗ hõm xương ngoài Khuyết bồn, mỗi bên một huyệt. Khoảng xương ở vùng ngực trước, mỗi bên một huyệt.
Hai bên ngoài Cưu vĩ, ngang dưới vú ba thốn. Hai bên Vị quản, mỗi bên năm huyệt. Hai bên rốn, rộng ba thốn, mỗi bên ba huyệt. Dưới rốn hai thốn, hai bên, mỗi bên ba huyệt. Ở động mạch Khí nhai, mỗi bên một huyệt. Trên Phục thố, mỗi bên một huyệt. Từ Tam lý trở xuống đến ngón chân giữa, mỗi bên có tám du huyệt, phân bố ở các chỗ huyệt rỗng tương ứng.
Giải thích từ ngữ
Túc Dương minh (足阳明): kinh Vị, nhiều khí nhiều huyết, đi vùng mặt, ngực, bụng, mặt trước chân xuống ngón chân.
Ngạch lô phát tế (额颅发际): chân tóc vùng trán.
Cốt không (骨空): chỗ hõm trong xương hoặc khoảng trống giữa các xương, thường là nơi đặt huyệt.
Đại nghênh (大迎): huyệt vùng góc hàm.
Nhân nghênh (人迎): huyệt vùng cổ, nơi mạch động.
Cưu vĩ (鸠尾): vùng mũi ức.
Vị quản (胃脘): vùng thượng vị.
Khí nhai (气街): vùng bẹn, nơi khí và mạch của chi dưới hội tụ.
Phục thố (伏菟): vùng trước đùi.
Tam lý (三里): Túc Tam lý, huyệt quan trọng của kinh Vị.
Đoạn 4
手太阳脉气所发者三十六穴;目内眦各一,目外各一,鼽骨下各一,耳郭上各一,耳中各一,巨骨穴各一,曲掖上骨穴各一,柱骨上陷者各一,上天䆫四寸各一,肩解各一,肩解下三寸各一,肘以下至手小指本各六俞。
Hán Việt
Thủ Thái dương mạch khí sở phát giả tam thập lục huyệt. Mục nội tí các nhất, mục ngoại các nhất, cừu cốt hạ các nhất, nhĩ quách thượng các nhất, nhĩ trung các nhất, Cự cốt huyệt các nhất, Khúc dịch thượng cốt huyệt các nhất, Trụ cốt thượng hãm giả các nhất, thượng Thiên song tứ thốn các nhất, Kiên giải các nhất, Kiên giải hạ tam thốn các nhất, trửu dĩ hạ chí thủ tiểu chỉ bản các lục du.
Dịch nghĩa
Những nơi mạch khí của Thủ Thái dương phát ra có ba mươi sáu huyệt.
Ở khóe mắt trong, mỗi bên một huyệt. Ở ngoài mắt, mỗi bên một huyệt. Dưới xương vùng mũi, mỗi bên một huyệt. Trên vành tai, mỗi bên một huyệt. Trong tai, mỗi bên một huyệt. Huyệt Cự cốt, mỗi bên một huyệt. Huyệt ở xương trên vùng nách cong, mỗi bên một huyệt. Chỗ lõm trên Trụ cốt, mỗi bên một huyệt. Trên Thiên song bốn thốn, mỗi bên một huyệt. Kiên giải, mỗi bên một huyệt. Dưới Kiên giải ba thốn, mỗi bên một huyệt. Từ khuỷu tay trở xuống đến gốc ngón tay út, mỗi bên có sáu du huyệt.
Giải thích từ ngữ
Thủ Thái dương (手太阳): kinh Tiểu trường, đi từ ngón tay út lên vai, cổ, má, tai, mắt.
Mục nội tí (目内眦): khóe mắt trong.
Nhĩ quách (耳郭): vành tai.
Cự cốt (巨骨): huyệt vùng vai, gần chỗ xương đòn và mỏm cùng vai.
Khúc dịch (曲掖): vùng nách cong.
Trụ cốt (柱骨): vùng xương trụ ở cổ vai theo cách gọi cổ.
Thiên song (天䆫): huyệt vùng cổ.
Kiên giải (肩解): vùng khớp vai, nơi vai vận động.
Đoạn 5
手阳明脉气所发者二十二穴:鼻空外廉项上各二,大迎骨空各一,柱骨之会各一,髃骨之会各一,肘以下至手大指次指本各六俞。
Hán Việt
Thủ Dương minh mạch khí sở phát giả nhị thập nhị huyệt. Tỵ không ngoại liêm hạng thượng các nhị, Đại nghênh cốt không các nhất, Trụ cốt chi hội các nhất, Ngung cốt chi hội các nhất, trửu dĩ hạ chí thủ đại chỉ thứ chỉ bản các lục du.
Dịch nghĩa
Những nơi mạch khí của Thủ Dương minh phát ra có hai mươi hai huyệt.
Ở bờ ngoài lỗ mũi và trên gáy, mỗi bên hai huyệt. Chỗ hõm xương Đại nghênh, mỗi bên một huyệt. Chỗ hội của Trụ cốt, mỗi bên một huyệt. Chỗ hội của Ngung cốt, mỗi bên một huyệt. Từ dưới khuỷu tay xuống đến gốc ngón tay kế ngón cái, mỗi bên có sáu du huyệt.
Giải thích từ ngữ
Thủ Dương minh (手阳明): kinh Đại trường, đi từ ngón trỏ lên tay, vai, cổ, mặt, mũi.
Tỵ không (鼻空): lỗ mũi hoặc vùng hõm gần mũi.
Đại nghênh cốt không (大迎骨空): hõm xương vùng Đại nghênh.
Trụ cốt chi hội (柱骨之会): nơi xương vùng cổ vai hội lại.
Ngung cốt (髃骨): xương vùng đầu vai, liên hệ huyệt Kiên ngung.
Ngón tay kế ngón cái: ngón trỏ, nơi kinh Đại trường bắt đầu.
Đoạn 6
手少阳脉气所发者三十二穴;鼽骨下各一,眉后各一,角上各一,下完骨后各一,项中足太阳之前各一,侠扶突各一,肩贞各一,肩贞下三寸分闲各一,肘以下至手小指次指本各六俞。
Hán Việt
Thủ Thiếu dương mạch khí sở phát giả tam thập nhị huyệt. Cừu cốt hạ các nhất, mi hậu các nhất, giác thượng các nhất, hạ Hoàn cốt hậu các nhất, hạng trung Túc Thái dương chi tiền các nhất, hiệp Phù đột các nhất, Kiên trinh các nhất, Kiên trinh hạ tam thốn phân gian các nhất, trửu dĩ hạ chí thủ tiểu chỉ thứ chỉ bản các lục du.
Dịch nghĩa
Những nơi mạch khí của Thủ Thiếu dương phát ra có ba mươi hai huyệt.
Dưới xương vùng mũi, mỗi bên một huyệt. Sau lông mày, mỗi bên một huyệt. Trên góc đầu, mỗi bên một huyệt. Dưới và sau Hoàn cốt, mỗi bên một huyệt. Ở giữa gáy, phía trước Túc Thái dương, mỗi bên một huyệt. Hai bên Phù đột, mỗi bên một huyệt. Kiên trinh, mỗi bên một huyệt. Dưới Kiên trinh ba thốn, ở giữa phân nhục, mỗi bên một huyệt. Từ dưới khuỷu tay xuống đến gốc ngón tay kế ngón út, mỗi bên có sáu du huyệt.
Giải thích từ ngữ
Thủ Thiếu dương (手少阳): kinh Tam tiêu, đi từ ngón áp út lên tay, vai, cổ, tai, đầu.
Mi hậu (眉后): phía sau lông mày.
Giác thượng (角上): vùng góc đầu, thái dương.
Hoàn cốt (完骨): huyệt sau tai, vùng xương chũm.
Phù đột (扶突): huyệt vùng cổ.
Kiên trinh (肩贞): huyệt vùng sau vai.
Ngón tay kế ngón út: ngón áp út, nơi kinh Tam tiêu liên hệ.
Đoạn 7
督脉气所发者二十八穴;项中央二,发际后中八,面中三,大椎以下至尻尾及傍十五穴,至骶下凡二十一节,脊椎法也。
Hán Việt
Đốc mạch khí sở phát giả nhị thập bát huyệt. Hạng trung ương nhị, phát tế hậu trung bát, diện trung tam, Đại chùy dĩ hạ chí khảo vĩ cập bàng thập ngũ huyệt, chí để hạ phàm nhị thập nhất tiết, tích chuy pháp dã.
Dịch nghĩa
Những nơi khí của Đốc mạch phát ra có hai mươi tám huyệt.
Ở giữa gáy có hai huyệt. Ở giữa phía sau chân tóc có tám huyệt. Ở giữa mặt có ba huyệt. Từ Đại chùy trở xuống đến xương cùng, xương cụt và hai bên có mười lăm huyệt. Từ đó đến dưới xương cùng, gồm hai mươi mốt đốt, đó là phép lấy theo cột sống.
Giải thích từ ngữ
Đốc mạch (督脉): mạch chủ dương, đi dọc giữa sau thân, liên hệ cột sống, não, tủy, dương khí toàn thân.
Hạng trung ương (项中央): giữa gáy.
Phát tế hậu trung (发际后中): giữa chân tóc sau.
Đại chùy (大椎): huyệt ở dưới đốt cổ thứ bảy, nơi các kinh dương hội.
Khảo vĩ (尻尾): xương cùng, xương cụt.
Tích chuy pháp (脊椎法): phép định vị theo cột sống.
Đoạn 8
任脉之气所发者二十八穴,喉中央二,膺中骨陷中各一,鸠尾下三寸胃脘五寸胃脘以下至横骨六寸半一,腹脉法也,下阴别一,目下各一,下唇一,齗交一。
Hán Việt
Nhâm mạch chi khí sở phát giả nhị thập bát huyệt. Hầu trung ương nhị, ưng trung cốt hãm trung các nhất, Cưu vĩ hạ tam thốn, Vị quản ngũ thốn, Vị quản dĩ hạ chí Hoành cốt lục thốn bán nhất, phúc mạch pháp dã. Hạ âm biệt nhất, mục hạ các nhất, hạ thần nhất, Ngân giao nhất.
Dịch nghĩa
Những nơi khí của Nhâm mạch phát ra có hai mươi tám huyệt.
Ở giữa họng có hai huyệt. Ở chỗ lõm giữa xương vùng ngực trước, mỗi nơi một huyệt. Dưới Cưu vĩ ba thốn, vùng Vị quản năm thốn, từ dưới Vị quản đến Hoành cốt sáu thốn rưỡi, mỗi đoạn lấy theo phép của mạch bụng.
Ở hạ âm riêng có một huyệt. Dưới mắt, mỗi bên một huyệt. Ở môi dưới có một huyệt. Ngân giao có một huyệt.
Giải thích từ ngữ
Nhâm mạch (任脉): mạch chủ âm, đi giữa mặt trước thân, từ hạ tiêu lên bụng, ngực, cổ, mặt.
Hầu trung ương (喉中央): giữa họng.
Ưng trung (膺中): vùng ngực trước.
Cưu vĩ (鸠尾): vùng mũi ức.
Vị quản (胃脘): vùng thượng vị.
Hoành cốt (横骨): vùng xương ngang ở hạ phúc, gần xương mu.
Phúc mạch pháp (腹脉法): phép định huyệt theo mạch bụng.
Hạ âm (下阴): vùng tiền âm, hạ bộ.
Ngân giao (齗交): huyệt vùng lợi, trong môi trên theo hệ Đốc mạch hiện nay, nhưng văn cổ ở đây nêu trong hệ khí phát ra.
Đoạn 9
冲脉气所发者二十二穴;侠鸠尾外各半寸至齐寸一,侠齐下傍各五分至横骨寸一,腹脉法也。
Hán Việt
Xung mạch khí sở phát giả nhị thập nhị huyệt. Hiệp Cưu vĩ ngoại các bán thốn chí tề thốn nhất, hiệp tề hạ bàng các ngũ phân chí Hoành cốt thốn nhất, phúc mạch pháp dã.
Dịch nghĩa
Những nơi khí của Xung mạch phát ra có hai mươi hai huyệt.
Hai bên ngoài Cưu vĩ, mỗi bên cách nửa thốn xuống đến rốn, lấy một thốn làm chuẩn. Hai bên dưới rốn, mỗi bên cách năm phân xuống đến Hoành cốt, lấy một thốn làm chuẩn. Đó là phép của mạch bụng.
Giải thích từ ngữ
Xung mạch (冲脉): biển của huyết, biển của kinh mạch, liên hệ bụng, ngực, sinh dục, huyết hải.
Hiệp Cưu vĩ (侠鸠尾): hai bên vùng Cưu vĩ.
Tề (齐): rốn.
Ngũ phân (五分): nửa thốn.
Hoành cốt (横骨): vùng xương mu, hạ phúc.
Phúc mạch pháp (腹脉法): phép định vị huyệt theo vùng bụng, khoảng cách từ Cưu vĩ, rốn, Hoành cốt.
Đoạn 10
足少阴舌下厥阴毛中急脉各一,手少阴各一,阴阳蹻各一,手足诸鱼际脉气所发者,凡三百六十五穴也。
Hán Việt
Túc Thiếu âm thiệt hạ, Quyết âm mao trung cấp mạch các nhất, Thủ Thiếu âm các nhất, Âm Dương kiểu các nhất, thủ túc chư Ngư tế mạch khí sở phát giả, phàm tam bách lục thập ngũ huyệt dã.
Dịch nghĩa
Túc Thiếu âm có một nơi dưới lưỡi. Quyết âm có một cấp mạch ở trong vùng lông. Thủ Thiếu âm, mỗi bên một nơi. Âm kiểu và Dương kiểu, mỗi mạch một nơi. Các mạch khí phát ra ở những vùng Ngư tế của tay chân, cộng lại tất cả là ba trăm sáu mươi lăm huyệt.
Giải thích từ ngữ
Túc Thiếu âm (足少阴): kinh Thận, liên hệ dưới lưỡi qua đường mạch Thiếu âm.
Thiệt hạ (舌下): dưới lưỡi, nơi mạch lạc phong phú, liên hệ Thận và âm dịch.
Quyết âm mao trung (厥阴毛中): vùng lông ở hạ bộ, thuộc phạm vi Quyết âm, liên hệ Can mạch và âm khí.
Cấp mạch (急脉): mạch gấp, hoặc tên vùng mạch ở hạ bộ theo cách gọi cổ.
Thủ Thiếu âm (手少阴): kinh Tâm.
Âm Dương kiểu (阴阳蹻): Âm kiểu mạch và Dương kiểu mạch, kỳ kinh liên hệ âm dương hai bên thân, vận động và mắt.
Ngư tế (鱼际): vùng mô thịt lồi như bụng cá ở tay chân; trên tay hiện nay thường chỉ vùng mô ngón cái, nhưng văn cổ có thể dùng rộng hơn cho vùng mép thịt lồi.
Nhận xét chung
Thiên Khí Phủ luận tiếp nối thiên Khí Huyệt luận, nhưng trọng tâm rõ hơn ở việc liệt kê nơi mạch khí của từng kinh phát ra. “Khí phủ” ở đây có thể hiểu là những kho tàng, cửa ngõ, nơi kinh khí biểu hiện ra ngoài thành huyệt. Mỗi kinh có số huyệt và vùng phát khí riêng.
Điểm đầu tiên là các kinh dương được trình bày rất rõ theo đường đi ngoài thân: Túc Thái dương ở đầu, gáy, lưng, mông, mặt sau chân; Túc Thiếu dương ở đầu bên, tai, hông sườn, mặt ngoài chân; Túc Dương minh ở mặt, cổ, ngực, bụng, mặt trước chân; Thủ Thái dương, Thủ Dương minh, Thủ Thiếu dương đều đi qua tay, vai, cổ, mặt, tai, mắt. Như vậy, số huyệt không chỉ là con số, mà phản ánh đường kinh và vùng khí phát ra.
Điểm thứ hai là các kỳ kinh như Đốc, Nhâm, Xung cũng có nơi khí phát ra. Đốc mạch đi giữa sau thân, theo cột sống; Nhâm mạch đi giữa trước thân, theo họng, ngực, bụng, hạ âm; Xung mạch đi vùng bụng, liên hệ Cưu vĩ, rốn, Hoành cốt. Đây là ba mạch rất quan trọng trong điều hòa âm dương, khí huyết, tạng phủ và sinh dục.
Điểm thứ ba là văn dùng nhiều mốc hình thể: chân tóc, góc đầu, trước tai, sau tai, Khuyết bồn, Cưu vĩ, Vị quản, rốn, Hoành cốt, Đại chùy, xương cùng, khuỷu, gối, ngón tay, ngón chân. Điều này cho thấy định huyệt trong Nội Kinh gắn với quan sát thân thể sống động, lấy xương, khe, chỗ lõm, mạch động, khớp và vùng cơ làm chuẩn.
Điểm thứ tư là tổng số vẫn quy về ba trăm sáu mươi lăm huyệt, ứng với một năm. Số này vừa có ý nghĩa hệ thống huyệt vị, vừa có ý nghĩa thiên nhân tương ứng. Thân người có kinh khí phát ra ở nhiều nơi, giống như một năm có ngày tháng vận hành; khí huyệt là nơi nối thân thể với thời khí.
Tóm lại, Khí Phủ luận giúp người học thấy huyệt vị không rời đường kinh. Mỗi kinh có nơi khí phát, mỗi vùng có mốc, mỗi mạch có số. Học huyệt không nên chỉ học tên rời rạc, mà phải nhìn theo đường đi của kinh khí: từ đầu mặt xuống thân, từ vai tay đến ngón, từ bụng ngực đến hạ tiêu, từ cột sống đến xương cùng. Khi hiểu khí phủ như nơi kinh khí phát ra, phép châm mới có nền tảng rõ ràng.