| Thiên 21 Mạch chứng và điều trị bệnh sản hậu
Khái thuyết Thiên này trình bày biện chứng luận trị bệnh tật của phụ nữ sau sinh. Sau khi sinh do tổn háo tân dịch mất máu, mà có 3 hội chứng lớn sau: Hội chứng co thắt, Uất mạo (trầm cảm sau sinh), đại tiện nan (táo bón). Sau đó là xoay quanh đặc điểm của cơ thể sau khi sanh, trình bày các bệnh chứng và điều trị như đau bụng, trúng phong, phát sốt, hạ lợi. Thiên này gồm có 11 điều, 9 phương dược, 2 phương phụ. Từ điều 1 đến điều 3 trình bày tương đối chuyên sâu về cơ chế phát bệnh, hội chứng đến biện chứng luận trị và phương dược của các chứng như kính bệnh, uất mạo và đại tiện nan của phụ nữ sau sinh. Từ điều văn 4 đến điều 7 thảo luận về mạch chứng, biện chứng và phương dược của chứng đau bụng do ứ huyết sau sinh. Điều 8 và 9 thảo luận về hội chứng và phương điều trị của chứng trúng phong sau sinh. Điều 10 và 11 là biện chứng và phương dược của hai chứng gồm hư tổn trong thời kỳ nuôi con và chứng hạ lợi. 1. 问曰:新产妇人有三病,一者病痓(痉),二者病郁冒,三者大便难,何谓也? 师曰,新产血虚,多汗出,中风,故令病症;亡血复汗,寒多,故令郁冒:亡 津液胃燥,故大便难。 1/ Vấn viết: Tân sản phụ nhân hữu tam bệnh, nhất giả bệnh kinh, nhị giả bệnh uất mạo, tam giả đại tiện nan, hà vị dã? Sư viết: Tân sản huyết hư, đa hạn xuất, hỷ (dễ) trúng phong, cố lệnh bệnh kinh; Vong huyết phục hạn, hàn đa, cố lệnh uất mạo; Vong tân dịch, vị táo cố đại tiện nan. 【Từ giải】 Xí (痓): Là bệnh co thắt, bệnh phong 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày nguyên nhân và cơ chế các bệnh sau khi sanh như bệnh co thắt, uất mạo và táo bón. Sau khi sinh sản phụ bị tổn thương tân dịch và mất máu nên rất dễ phát sinh ba loại bệnh nêu trên. Bệnh kính (co thắt), là do sau khi sanh mất quá nhiều máu, doanh huyết hư thiếu, doanh vệ không điều hoà, thớ thịt không săn chắc vững vàng, xuất quá nhiều mồ hôi nên dễ cảm thụ phong tà. Âm huyết hư thiếu nên không thể nuôi dưỡng cân mạch, lại cảm thụ phong tà, nên rất dễ hoá táo (khô khan) thương gân, vì thế mà chứng co giật chuột rút theo đó mà phát tác hình thành chứng kính (co thắt). Uất mạo, là do sau khi mất quá nhiều máu, mồ hôi cũng nhiều, âm và huyết cùng hư. Dễ dàng cảm thụ hàn tà. Hàn tà bó ở ngoài nên dương khí khó thông ra ngoài, âm hư huyết thiểu nên thế của hư dương tất sẽ xung lên, vì thế hình thành uất mạo (chóng mặt, lú lẫn, trầm cảm). Đại tiện khó khăn, do sản hậu mất máu quá nhiều, nhiều mồ hôi nên tổn thương âm, âm huyết không đầy đủ, không thể nhu nhuận (làm ẩm ướt) đại tràng khiến cho đại tiện khó khăn.. Cơ chế của ba bệnh trên đều do tân dịch và huyết bị hư tổn gây ra, vì thế khi điều trị đều phải chú ý chiếu cố đến tân dịch. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Kính (co thắt) là bệnh ở gân, huyết hư hãn xuất, nên cân mạch không được nuôi dưỡng, phong nhập lại làm cho gân càng cứng hơn. Uất mạo cũng là bệnh về tinh thần; Vong âm huyết hư, dương khí quyết nghịch mà hàn lại uất (ứ đọng) nên vựng đầu hoa mắt. Đại tiện khó khăn, là bệnh của tân dịch, vị trữ tàng tân dịch và thấm tưới cho dương, dịch vị khô khan nên đại tràng không được thấm nhuận mà đại tiện cũng khó khăn. Ba bệnh tuy khác biệt, nhưng vong huyết và tổn thương tân dịch là nguyên nhân thì chỉ có một, đều là bệnh sở hữu của phụ nữ sau sanh.
2、产妇郁冒,其脉微弱,呕不能食,大便反坚,但头汗出,所以然者,血虚而厥, 厥而必冒,冒家欲解,必大汗出,以血虚下厥,孤阳上出,故头汗出。所以产妇喜汗出者,亡阴血虚,阳气独盛,故当汗出,阴阳乃复。大便坚,呕不能食,小柴胡汤主之。 方见呕吐中 2/ Sản phụ uất mạo, kỳ mạch vi nhược, ẩu bất năng thực, đại tiện phản kiên, đán đầu hãn xuất. Sở dĩ nhiên giả, huyết hư nhi quyết, quyết nhi tất mạo. Mạo gia dục giải, tất đại hãn xuất. Dĩ huyết hư hạ quyết, cô dương thượng xuất, cố đầu hãn xuất. Sở dĩ sản phụ hỷ hãn xuất giả, vong âm huyết hư, dương khí độc thịnh, cố đáng hãn xuất, âm dương nãi phục. Đại tiện kiên, ẩu bất năng thực, Tiểu sài hồ thang chủ chi. (xem trong ẩu thổ) 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày hội chứng và điều trị hai chứng uất mạo và đại tiện khó khăn cùng xuất hiện ở phụ nữ sản hậu (sau sanh). Sản hậu mất quá nhiều máu, vinh vệ mất điều hoà, thấu lý (thớ thịt) không kiên cố nên dễ xuất mồ hôi, lại e rằng xuất mồ hôi nhiều sẽ tổn thương âm dịch, và dễ cảm thụ ngoại tà. Vì hư đa tà thiểu (hư tổn nhiều và ít bệnh tà), vì thế xuất hiện mạch vi nhược, trung tiêu hư tổn nên ẩu thổ và không thể ăn, tân dịch trong vị tràng khô cạn nên phân bị cứng, nhiệt không vượt ra ngoài nên thân thể không có mồ hôi nhưng lại xuất mồ hôi trên đầu. Sở dĩ như vậy, ở câu tự chú, chỉ ra rằng vì huyết hư mà dương quyết nghịch, mà quyết nghịch thì tất sẽ uất mạo (hoa mắt vựng đầu), muốn giải chứng uất mạo thì phải xuất đại hãn, làm cho uất dương được thân triển (giãn ra) thì khỏi bệnh, đó là lý do, sản phụ thường xuất hãn, là để điều hoà vinh vệ, nên có câu “Âm dương nãi phục” (âm dương bình hành), Nếu đại tiện phân cứng, ẩu thổ không thể ăn uống, thì liên quan đến hội chứng ẩu thổ của kinh Thiếu dương, vì thế có thể dùng thang Tiểu sài hồ để hoà giải. “Mạo gia dục giải tất đại hãn xuất” (冒家欲解,必大汗出) chứng uất mạo muốn giải thì phải xuất nhiều mồ hôi, phản ảnh tình trạng huyết hư vong âm, dương khí nhiều hơn (thiên thịnh), biểu hàn bế uất, cô dương xuất lên mà uất mạo, tất cần toàn thân xuất hãn, khiến dương khí thông đạt ra ngoài mà giải uất, dương khí xuất ra ngoài mà không xuất lên trên, cho nên bệnh uất mạo có thể được giải. Điều trị dùng thang Tiểu sài hồ, phù trợ chính khí đạt tà (đưa tà bên trong ra ngoài), hoà lợi xu cơ (điều hoà thuận lợi điểm then chốt giữa biểu và lý) . Trong phương có Sài hồ điều đạt (không gò bó) thiếu dương, khiến khí thanh dương thông đạt ra ngoài, phát tán uất tà của kinh thiếu dương; Hoàng cầm thanh tiết lý nhiệt, thu liễm dương khí, Sinh khương hoà vị giáng nghịch trị ẩu thổ; Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo phù chính đạt tà, điều bổ tỳ vị, khiến thượng tiêu được thông, tân dịch có thể hạ giáng, vị khí điều hoà, khiến trấp nhiên hãn xuất mà giải trừ bệnh (trấp nhiên hãn xuất) là xuất hãn đặc thù của kinh dương minh, đầu tiên dùng thang Tiểu sài hồ là phương pháp để hoà điều, trong đó hàm ý “Cố đương hãn xuất, âm dương nãi phục” Xuất hãn để âm dương thăng bằng trở lại. 【Tuyển chú】 《Y Tôn Kim Giám》:“Sản phụ hôn mạo (váng đầu hoa mắt đầu óc tối tăm), mạch vi nhược, là ứng với chẩn đoán của khí huyết đều hư yếu. Không thể ăn là hội chứng ứng với vị khí cũng chưa hoà giáng. Đại tiện phân cứng chính là ứng với bệnh của vị tràng khô khan. Xem xét cẩn thận cho thấy rằng chứng uất mạo sở dĩ như vậy là do huyết hư nên âm hư, mà âm hư thì dương khí thượng nghịch mà thành chứng uất mạo. Muốn giải uất mạo tất phải xuất đại hãn, chính là dương khí uất tiết ra ngoài mà được giải, vì thế nên sản phụ thường hay xuất hãn (mồ hôi). Do đó suy ra, huyết ứ gây uất mạo, giải trừ tất phải hạ huyết, chính là âm khí uất được chuyển vào trong để giải. Điều tối kỵ là chỉ xuất hãn trên đầu, đó là biểu hiện của âm vong hạ quyết, cô dương xuất lên trên. Đại tiện phân cứng, ẩu thổ không thể ăn, dùng thang Tiểu sài hồ, tất người bệnh lưỡi có rêu, thân không xuất mồ hôi, hình thể không suy là bệnh đã sẵn sàng được giải, và cũng có thể tự ăn. Nếu có mồ hôi thì giảm Sài hồ, không phát sốt thì giảm Hoàng cầm, ẩu thổ thì bội Bán hạ, Sinh khương, hư yếu thì bội Nhân sâm, cũng là những biến thông (xử lý không câu nệ quy tắc) trên lâm sàng.
3. 病解能食,七八日更发热者,此为胃实,大承气汤主之。见痓病中. 3/ Bệnh giải năng thực, thất bát nhật cánh phát nhiệt giả, thử vi vị thực, Đại thừa khí thang chủ chi. 【Giải thích】 Đoạn văn này tiếp theo đoạn văn trên trình bày bệnh uất mạo đã được giải trừ, vị khí hoà đã có thể ăn uống, sau 7,8 ngày lại phát sốt, nhưng phát sốt mà không sợ lạnh là biết bệnh không ở biểu mà ở lý, lại do ăn được mà phát sốt thì biết không phải là hư mà là thực chứng, vì ăn lại phát sốt thì đại tiện phân tất cứng, và bụng cũng sẽ đau, nên viết “Thử vi vị thực”, có thể dùng thang Đại thừa khí để công hạ. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú》:“ Đây là đại tiện phân cứng, ẩu thổ không thể ăn, dùng thang Tiểu sài hồ bệnh giải là có thể ăn. Bệnh giải là chứng uất mạo đã giải. Có thể ăn, là dư tà còn ẩn phục ở trong, phong nhiệt mãnh liệt mà tiêu hoá ngũ cốc, nhưng thực phẩm vào vị, hỗ trợ dư tà, vì thế sau 7,8 ngày lại phát sốt, vì thế nên tả thực, chủ yếu là tẩy rửa dư tà ở vị, vì thế dùng thang Đại thừa khí công kiên mạnh mẽ, khiến tà vô hình theo ứ trệ hữu hình tảo trừ một lần ra hết, thì không còn bệnh. Ý của Trọng Cảnh là tuy phát hiện sản hậu khí huyết tuy hư, nhưng vì có thực chứng, thì nên trị thực, không thể vì lo ngại hư chứng, mà để bệnh tệ hơn.
4. 产后腹中㽲痛,当归生姜羊肉汤主之。并治腹中寒疝,虚劳不足。 4/ Sản hậu phúc trung hư thống (đau ngầm ngầm), Đương quy Sinh khương Dương nhục thang chủ chi; Tịnh trị phúc trung hàn sán, hư lao bất túc. Đương quy Sinh khương Gương nhục thang phương xem trong Hàn sán. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày hội chứng và trị pháp của chứng sản hậu huyết hư mà hàn khách vào bụng. Sản hậu huyết hư, khách hàn cản trở đình trệ khí huyết khiến bụng đau âm ỉ, và có đặc điểm là bụng thích ấn nắn và ấm áp. Điều trị dùng thang Đương quy Sinh khương Dương nhục , ấm trung tiêu điều hoà huyết mạch, dưỡng huyết bổ hư, ôn hàn chỉ thống. Trong phương có Đương quy bổ huyết, ôn thông huyết mạch; Sinh khương ôn trung tán hàn; Dương nhục ôn bổ can huyết. Phương dược này ngoài việc điều trị chứng huyết hư thụ hàn, bụng đau âm ỉ, lại có thể điều trị can huyết hư hàn mà hai mắt nhìn vật không rõ. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Sản hậu đau bụng, khác với chứng đau bụng khi mang thai, đó là do huyết hư và thấp nhiễu loạn bên trong, còn ở đây là huyết hư và hàn động ở trung tiêu. Đương quy, Xuyên khung ôn trung tán hàn. Tôn Tư Mạc viết: Dương nhục có lợi cho sản phụ.
5. 产后腹痛,烦满不得卧,积实芍药散主之。 5/ Sản hậu phúc thống, phiền mãn bất đắc ngọa, Chỉ thực Thược dược tán chủ chi. Chỉ thực thược dược tán phương Chỉ thực (sao đen)Thược dược bằng lượng tán bột mỗi lần dùng phương thốn chuỷ ngày 3 lần, cũng chữa ung nùng uống thêm cháo đại mạch. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày hội chứng và trị pháp chứng sản hậu đau bụng do khí huyết không thông sướng. Sau khi sanh khí trệ huyết ứ, khí huyết không thông sướng, vì thế nên đau bụng, đầy bụng, phiền muộn khó chịu không thể nằm. Điều trị dùng Chỉ thực Thược dược tán hành khí hoà huyết để giải trừ đau đớn. Trong phương dùng vị Chỉ thực sao đen nhập huyết, hành khí khứ ứ, hạ hành (xuống dưới) phá kết; Thược dược thông lợi huyết mạch giảm đau. Chỉ thực và Bạch thược hai vị thuốc hợp lại có thể điều chỉnh khí huyết, phá kết tụ và giảm đau; Dùng cháo đại mạch chiêu thuốc có tác dụng hoà vị khí và điều khí huyết. Chỉ thực, Thược dược thuốc ít lượng thuốc nhỏ, lực phá ứ yếu nhược, chỉ nên dùng trị chứng ứ huyết nhẹ. Phương này có khả năng hoạt huyết hành khí, vì thế lại có thêm tác dụng tiêu tán ung nhọt và bài trừ mủ độc. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú》:“ Đây là khí trệ đau bụng, sau khi sanh tất nhiên khí sẽ hư yếu, hư yếu thì khí trệ mà ăn cũng trệ, cho nên đau bụng, rất đầy bụng nên không thể nằm, không nghi ngờ việc xác định đau bụng sau sinh là do ứ huyết.Vì thế dùng Chỉ thực phá ứ hành trệ, Thược dược thu âm mà hoà tỳ dưỡng huyết. Vì sản hậu huyết hư, cho nên dùng như vậy. Phương dược này hành khí hoà huyết nên chủ trị ung nhọt có mủ, dùng cháo đại mạch chiêu thuốc để hoà can khí và dưỡng tâm tỳ.”
6.师曰:产妇腹痛,法当以积实芍药散,假令不愈者,此为腹中有干血着脐下,宜下瘀血汤主之。亦主经水不利。 6/ Sư viết: Sản phụ phúc thống, pháp đương dĩ Chỉ thực Thược dược tán, giả lệnh bất dũ giả, thử vi phúc trung hữu can huyết trước tề hạ, nghi hạ ứ huyết thang chủ chi. Diệc chủ kinh thủy bất lợi. Hạ ứ huyết thang phương Đại hoàng 2 lạng Đào nhân 20 hột, Giá trùng 20 con (sao bỏ chân) ba vị trên tán bột luyện mật làm hoàn (làm 4 hoàn) dùng 1 thăng rượu sắc 1 hoàn lấy 8 hợp uống. Tân huyết hạ như đồn can (gan lợn). 【Từ giải】 Can huyết (huyết khô): Huyết dịch không chảy. 【Giải thích】 Đoạn văn này kế tiếp đoạn văn trên trình bày hội chứng của Chỉ thực Thược dược tán, nếu uống thuốc không khỏi bệnh, là do bệnh nặng mà thuốc nhẹ, bên trong có huyết khô, ngưng kết trong bụng dưới, đau bụng không thích ấn nắn. Điều trị dùng thang Hạ ứ huyết, công kiên phá tích, thanh nhiệt nhuận táo. Trong phương có Đại hoàng thanh nhiệt phá kết để trục huyết ứ, Đào nhân phá huyết trừ ứ, nhuận táo trừ ngưng trệ, Thổ miết trùng (䗪虫tên cổ) tính hàn, phá ứ thông lạc. Dùng mật luyện hoàn, là phép công hạ chậm. Dùng rượu sắc thuốc, dẫn thuốc nhập huyết, và khiến ứ huyết được bài xuất ra ngoài cơ thể. Đại tiện có màu như gan lợn, là thuốc đã trúng bệnh. 【Tuyển chú】 《Y Tôn Kim Giám》:“ Sản phụ đau bụng, thuộc khí kết huyết ứ, dùng Chỉ thực Thược dược tán để điều trị; Giả như uống thuốc mà không khỏi bệnh, là do nhiệt nung đốt huyết khô, kết ở dưới rốn gây đau, chứng này không thể trị bằng Chỉ thực, Thược dược. Nên hạ ứ huyết, chủ trị dùng thang Hạ ứ huyết để công hạ ứ huyết. Đồng thời chủ trị kinh nguyệt không thông, cũng do nhiệt thiêu đốt huyết khô mà thành bệnh. 【Bệnh án】 Dương, nữ, 32 tuổi. Đến ngày thứ 4 sau khi sinh, sản dịch chảy không thông suốt, thỉnh thoảng có cục máu đông, bụng dưới căng chướng, không chịu ấn nắn, vùng thượng vị ngột ngạt buồn nôn, cảm giác khí xung lên. Chất lưỡi hồng, mép lưỡi bên phải có đốm tím, rêu lưỡi màu trắng tro. Bệnh do sản dịch và ứ huyết gây ứ trệ, có xu hướng máu ứ dồn lên trên. Điều trị ngay tình trạng ứ máu. Dùng thang Hạ ứ huyết gia vị: Công thức: Đại hoàng 6g gam (sắc sau), Đào nhân 10 gam, Thổ miết trùng 6g Xuyên khung 6 gam, Đương quy 10 gam, Xích thược 10g Ngưu tất 10g Cam thảo 5g. Sau khi uống hai thang, sản dịch tăng dần, kèm theo cục máu tím, cơn đau bụng cũng thuyên giảm. Đơn thuốc ban đầu có tác dụng nên tôi đổi đơn thuốc ban đầu thành 6 gam Đào nhân, 4 gam Đại hoàng và thêm 3 gam lá ngải diệp. Sau khi uống thêm hai thang, cơn đau bụng đã thuyên giảm, cảm giác đầy bụng không còn nữa. bệnh đã khỏi.
7. 产后七八日,无太阳证,少腹坚痛,此恶露不尽,不大便,烦躁发热,切脉微实,再倍发热,日晡时烦躁者,不食,食则谵语,至夜即愈,宜大承气汤主 之。热在里,结在膀胱也。见痉病中. 7/ Sản hậu thất bát nhật, vô thái dương chứng, thiếu phúc kiên thống, thử ác lộ bất tận; Bất đại tiện, phiền thao phát nhiệt, thiết mạch (bắt mạch) vi thực, tái bội phát nhiệt, nhiệt bô thời phiền thao giả, bất thực, thực tắc chiêm ngữ, chí dạ tức dũ, Đại thừa khí thang chủ chi. Nhiệt tại lý, kết tại bàng quang dã. (phương xem trong kinh bệnh) 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị sản hậu ứ huyết nội trở (cản trở bên trong) lại kiêm dương minh lý thực chứng. Sau khi sanh 7,8 ngày, không có thái dương biểu chứng. Vì sau khi sanh âm huyết hư thiếu, nội nhiệt mạnh mẽ, nhiệt kết ở hạ tiêu, thiêu đốt ứ huyết, huyết khô ngưng kết dưới rốn, vì thế bụng dưới cứng và đau. Nhiệt thiêu đốt vị tràng, làm tổn háo tân dịch, thực nhiệt kết trệ ở vị tràng, vì thế đại tiện khô táo không thông mà bực bội, phát sốt. Thiết mạch thấy mạch vi trầm mà thực, cho thấy vị tràng thực nhiệt đã có tích trệ, đến giờ thân khí vượng ở kinh dương minh thì bệnh nhân sốt càng cao. Khi ăn thực phẩm vào vị, thì khí mạnh ở dương minh, nếu không ăn thì thôi, mà ăn vào là hỗ trợ vị nhiệt. Thực nhiệt quá mạnh mẽ, nhiễu loạn tinh thần nên phát sinh nói nhảm. Đến tối thì khí dương minh chuyển sang suy yếu, bệnh hơi giảm, sốt nhẹ và nói nhảm tạm ngừng. Điều trị dùng thang Đại thừa khí, làm sạch thực nhiệt tích trệ trong vị tràng, loại bỏ nhiệt kết trong huyết phận; Chỉ thực trị bế tắc phá kết, lại có thể trị chứng vị tràng trướng đầy, lại có thể thông lợi khí huyết, Hậu phác lý (điều chỉnh) khí, tiêu trướng đầy trong bụng; Vị Mang tiêu mặn lạnh, thanh nhiệt nhuyễn kiên (làm mềm). Chứng này dùng thang Đại thừa khí, thì thực nhiệt ở vị tràng được trừ khứ, hạ tiêu vận hành được ứ huyết, có thẻ thu được hiệu quả một công đôi việc. 【Tuyển chú】 《Y Tôn Kim Giám》:“ Lý Văn viết: Đây là một tiết mà bên trong có đủ 2 chứng, một là hội chứng thái dương tích tụ huyết, hai là dương minh thực chứng. Vì văn pháp của người xưa phức tạp nên khó phân biệt rõ ràng. Không có thái dương chứng , cũng gọi là không có biểu chứng. Bụng dưới cứng đau, với can tàng huyết, bụng dưới là bộ phận của kinh can, vì thế huyết tất nhiên kết tụ ở đó. Chứng huyết hôi không hết, chính là nhiệt ở bên trong, kết tại bàng quang, đây cũng là hội chứng huyết tích tụ (súc huyết) của kinh thái dương, nên hạ khứ ứ huyết. Nếu không đại tiện, bực bội, mạch thực, nói nhảm cũng là chứng lý thực ở kinh dương minh, tái phát sốt là nhiệt tại lý, phát rõ rệt ra ngoài. Kinh Dương minh vượng ở thân dậu tuất, Nhật bộ là hướng thời vượng của kinh dương minh, vì thế đến đêm thì khỏi bệnh. Đó cũng là dương minh phủ bệnh, nên dùng thang Đại thừa khí hạ chứng vị thực.
8.产后风,续之数十日不解,头微痛恶寒,时时有热,心下闷,干呕汗出, 虽久,阳旦证续在耳,可与阳旦汤。即桂枝汤。方见下利中. 8/ Sản hậu phong tục chi sác thập nhật bất giải, đầu vi thống, ố hàn, thời thời hữu nhiệt, tâm hạ muộn, can ẩu, hạn xuất, tuy cửu, dương đán chứng tục tại nhĩ, khả dĩ dương đán thang. (tức là quế chi thang, phương xem trong hạ lợi) 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng thi trị chứng sản hậu trúng phong. Sản hậu huyết hư nên vinh vệ không điều hoà, tấu lý (thở thịt) không săn chắc kiên cố, phong tà xâm phạm, biểu chứng kéo dài mấy chục ngày không giải. Vệ phận và ngoại tà tương tranh, dương khí phù động, nên luôn luôn phát sốt, Vinh phận bị quấy nhiễu không thể bảo vệ giữ gìn nên xuất hãn, ghét lạnh. Phong hàn gây trở ngại ở kinh thái dương gây đau đầu nhẹ và luôn luôn phát sốt. Biểu tà nhập lý nên dạ dày khó chịu và nôn khan. Sau khi sanh trúng phong thời gian tuy lâu, nhưng hội chứng của thang Dương đán vẫn tồn tại thì có thể dùng thang Dương đán giải tán phong hàn, điều hoà doanh vệ. Trong phương có Quế chi ôn tán phong hàn, giải cơ khứ phong; Thược dược hoà doanh, liễm âm cầm mồ hôi; Quế chi phối Thược dược, là ở trong phát hãn lại có công dụng liễm hãn, Quế chi tán, Thược dược thu (liễm), một tán một thu thì doanh vệ có thể điều hoà, có thể giải bệnh tà ở biểu; Sinh khương phối Quế chi có thể phát hãn giải cơ; Đại táo phối Thược dược tư bổ âm và liễm vinh; Cam thảo tính bình có tác dụng điều hoà âm dương, điều hoà vinh vệ. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》:“ Trúng phong nhẹ, vài chục ngày chưa giải, tựa hồ như không thể trách biểu, nhưng đau đầu ớn lạnh xuất mồ hôi, có lúc sốt đều là chứng trạng của bệnh tà ở biểu. Dạ dày khó chịu, nôn khan, bệnh tà ở kinh thái dương muốn xâm nhập mà bên trong không cảm thụ. Tìm hiểu trong 《Thương hàn luận》có thang Dương đán, là thang Quế chi gia Hoàng cầm để trị chứng thái dương trúng phong hiệp nhiệt, nay phong kéo dài và nhiệt không hết, là tồn tại hội chứng thang Dương đán, tại sao không dùng thang Dương đán mà lại tuân theo quy tắc để dẫn đến sai lầm.” 【Bệnh án】 Họ Vương ××, nữ, 22 tuổi, cán bộ. Cô ta đến bệnh viện vào tháng 3 năm 1975. Bệnh nhân bị nôn mửa và ăn rất ít từ 10 ngày trước khi sinh đến ngày thứ 7 sau khi sinh. Các phương pháp điều trị dự phòng bằng phương pháp Trung Quốc và phương Tây đều không hiệu quả. Sau khi thăm khám kỹ lưỡng bệnh nhân, người ta phát hiện bệnh nhân có các triệu chứng như đổ mồ hôi, sợ gió nhẹ, rêu lưỡi mỏng và trắng, mạch hơi phù. Sau đó sử dụng công thức ban đầu của thang Quế chi và thêm 10 gram Bán hạ. Do bị nôn mửa nên bn được yêu cầu uống một lượng nhỏ với nhiều lần. Sau hai liều thuốc, bệnh nhân không còn nôn mửa sau khi ăn, các triệu chứng như sợ gió cũng biến mất.
9.产后中风,发热,面正赤,喘而头痛,竹叶汤主之。 9/ Sản hậu trúng phong, phát nhiệt, diện chính xích (đỏ), Suyễn nhi đầu thống, Trúc diệp thang chủ chi. Trúc diệp thang phương Trúc diệp 1 nắm, Cát căn 3 lạng, Phòng phong, Cát cánh, Quế chi, Nhân sâm, Cam thảo mỗi thứ 1 lạng, phụ tử 1 củ (bào), đại táo 15 trái, sinh khương 5 lạng. Dùng 1đấu nước sắc lấy 2, 5 thăng, chia 3 lần uống lúc ấm, đắp mền hơi ra mồ hôi. Đầu gáy cứng dùng phụ tử 1 củ xắt nhỏ như hạt đậu sắc hớt bọt. Ẩu thổ gia bán hạ 0,5 cân (rửa sạch). 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị chứng sản hạu trúng phong. Sau khi sanh khí huyết đại hư, hư dương vượt lên vì thế sắc mặt đỏ, khí suyễn. Chính khí thậm hư, lại cảm thụ phong tà vì thế đau đầu, phát sốt. Khi điều trị, nếu nguyên nhân là ngoại cảm phong tà, thì dùng đơn thuần phát hãn giải biểu, thì phù dương dễ thoát; Còn nếu là hư dương vượt lên mà đơn thuần dùng thuốc tư âm, sẽ khiến biểu tà không được giải trừ. Điều trị dùng thang Trúc diệp, phù trợ chính khí và trừ khứ tà khí, cùng chiếu cố biểu và lý. Trong phương có Trúc diệp thanh nhiệt giáng hoả, bẻ gẫy thế dương phù, Cát căn sinh tân dịch, tư nhuận cân mạch co thắt, Cát cánh đi lên thanh phế khí; Phòng phong tán phong mà không gây khô táo; Nhân sâm, Cam thảo bổ trung ích khí, Sinh khương Đại táo điều hoà doanh vệ; Phụ tử, Quế chi phù trợ dương và khu trừ tà khí. Để điều trị chứng sản hậu trúng phong chính hư tà thịnh, mà lập thành phương này có tác dụng bổ chính và tán tà. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》:“ Trúng phong phát sốt đau đầu, là bệnh tà tại biểu, Nhưng mặt đỏ, cũng không là chuyện nhỏ có thể là màu hồng nhạt, là mặt mất vẻ bình thường, cũng là chân dương thượng phù, cộng thêm khí suyễn, cũng là khí trên cao không hạ. Rõ ràng là sau khi sanh hư tổn rất nặng, không có dương nên không thể tự củng cố, mà lại thêm có biểu tà, tự nên công bổ cùng thi thố, cho nên với Quế, Cam, Phòng, Cát, Cát cánh, táo để thanh trừ bệnh tà ở trên, Trúc diệp thanh nhiệt của đảm phủ, và Sâm, Phụ bồi bổ nguyên khí, thay đổi tình trạng dục thoát của dương. Tuy nhiên với thang Trúc diệp, cần biết là bản hàn tiêu nhiệt, đảm cư trung đạo (ở giữa), thanh nhiệt ở đường viền giao tiếp, thì tiêu bản đều an, Trúc diệp thực là có công đầu vậy.
10.妇人乳中虚,烦乱,呕逆,安中益气,竹皮大丸主之。 10/ Phụ nhân nhũ trung hư, phiền loạn, ẩu nghịch, an trung ích khí, Trúc bì đại hoàn chủ chi. Trúc bì đại hoàn phương Sinh trúc nhự 2 phân, Thạch cao 2 phân, Quế chi 1 phân, Cam thảo 7 phân, Bạch vi 1 phân. Tán bột, Táo nhục hòa hoàn bằng viên đạn. Uống 1 hoàn lúc ăn. Ngày 3 đêm 1. Nếu hữu nhiệt gia bội liều Bạch vi, suyễn phiền gia Bá thực 1 phân. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày hội chứng và điều trị chứng hư nhiệt ẩu nghịch trong thời kỳ cho con bú. Sản phụ trong thời kỳ cho con bú, cho con bú tốn nhiều sữa làm cho trung khí hư yếu, âm huyết không đầy đủ dẫn đến tâm can hoả vượng. Tâm hư hoả động nên lo lắng bất an. Trung khí hư nhiệt, vị khí thượng nghịch nên ẩu thổ. Điều trị dùng Trúc bì đại hoàn có tác dụng an trung ích khí, thanh giáng hoãn trung. Trong phương có Trúc nhự, Thạch cao thanh nhiệt trừ phiền, giáng nghịch trị ẩu thổ; Bạch vi mát máu, thanh nhiệt trừ phiền; Quế chi, Cam thảo tân cam (cay ngọt) hoá khí, kiến (xây dựng) trung (tiêu) bổ hư; Táo nhục bồi bổ âm huyết; Nếu hư hoả phạm phế gây suyễn, gia thêm Bá thực dưỡng huyết nhuận phế. Trong phương dùng lượng Cam thảo nhiều để có tác dụng kiến trung bổ huyết, ích âm tả hoả, mà lượng Quế chi thì rất ít để có công dụng ôn trung hoá khí, thông mạch thư can, việc sắp xếp tễ lượng của hai vị thuốc cũng cần có điểm nhẫn nại của người thày. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Phụ nhân hư tổn trong thời kỳ cho con bú, bất an ẩu thổ, khi con bú, khí hư hoả thắng, nội loạn nghịch lên. Trúc như Thạch cao cam hàn (ngọt lạnh) trừ nhiệt ở vị; Quế chi Cam thảo cay ngọt hoá khí; Bạch vi tính hàn nhập kinh dương minh, trị cuồng hoặc (tinh thần thác loạn) do tà khí, vì thế viết an trung ích khí.”
11. 产后下利虚极,白头翁加甘草阿胶汤主之。 11/Sản hậu hạ lợi hư cực, Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao thang chủ chi. Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao thang phương Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao mỗi loại 2 lạng Tần bì Hoàng liên, Bá bì mỗi loại 3 lạng. (Bá bì là Hoàng bá). Dùng 7 thăng nước sắc lấy 2,5 thăng cho A giao khuấy tan chia 3 lần uống lúc ấm.
【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày hội chứng và điều trị chứng sản hậu hạ lợi. Sau khi sanh khí huyết đều hư, thường có các chứng như sắc mặt vàng úa yếu sức, bực bội mất ngủ, lại có thấp nhiệt tích trệ ở vị tràng, mất chức năng dẫn truyền, ì ạch không thể giải, gây tổn thương mạch lạc đường ruột, thường thấy các chứng như sốt, đau bụng, mót rặn (lý cấp hậu trọng), hạ lợi máu mủ. Điều trị dùng thang Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao, thanh nhiệt táo thấp, hoãn trung dưỡng huyết. Trong phương có Bạch đầu ông, Hoàng bá, Hoàng liên, Tần bì thanh nhiệt táo thấp, mát máu giải độc, trừ thấp nhiệt ở vị tràng để trị hạ lợi; A giao tư âm, dưỡng huyết cầm máu; Cam thảo bổ khí kiến trung, hoãn giải vị đắng của Liên Bá. Là phương thường dùng của chứng hạ lợi sau sinh. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Thương hàn nhiệt lợi hạ trọng, thang Bạch đầu ông chủ trị chứng này; Hàn thì thắng nhiệt, vị đắng cũng táo thấp. Đây là chứng nhiệt lợi hạ trọng của sản phụ hư yếu cực độ, nên gia A giao để cứu âm, Cam thảo bổ trung sinh dương, lại hoà hoãn được vị đắng của Liên Bá. 【Bệnh án】 Bệnh nhân là nữ, trên 60 tuổi. Vào tháng 7 năm 1965, đại tiện ra màu đỏ và trắng hàng chục lần, kèm theo cảm giác mót rặn. Cho bênh nhân dùng Nitrofuran trong hai ngày, nhưng hiệu quả không rõ ràng. Sốt không cao, miệng khô không đầy bụng,chất lưỡi đỏ nhạt, mép lưỡi có chấm đỏ nhỏ, khô không có tân dịch, mạch tế. Người ta cho rằng người cao tuổi không đủ tân dịch và máu vì mắc hội chứng nhiệt nên tân dịch dễ bị tổn háo. Dùng thang Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao: Bạch đầu ông 12 gam Hoàng liên 6g, Hoàng bá 6g, Tần bì 9g, A giao 9g (nóng chảy), Cam thảo 6g, nấu còn 200ml, chia 2 lần uống. (Trước giờ ngọ (giữa trưa) uống 1 thang, đến tối thì đại tiện đã thay đổi, uống thêm 1 thang nữa thì khỏi bệnh) “Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao” nguyên xuất từ 《Kim Quỹ Phụ nhân Sản hậu Bệnh Mạch chứng Trị 21》chủ trị “sản hậu hạ lợi hư cực”, theo chữ cực để nói đến yếu nhược. Dù trường hợp này không phải là sản hậu, nhưng theo những chứng trạng biểu hiện suy yếu của cơ thể, nên không cần thiết phải ràng buộc với tình trạng “sau sinh” và cũng có thể chữa khỏi bằng phương pháp này.
Phụ phương: 《Thiên Kim》【Thang Tam vật Hoàng cầm】Điều trị sản hậu cảm thụ phong tà. Tứ chi phiền nhiệt, đầu thống dùng thang Tiểu sài hồ; Đầu không đau mà bực bội, thì dùng thang này (Tam vật Hoàng cầm). Hoàng cầm 1 lạng, Khổ sâm 2 lạng, Can địa hoàng 4 lạng 3 vị trên dùng 6 thăng nước, nấu còn 3 thăng, uống thuốc lúc còn ấm 1 thăng, thổ nhiều hạ trùng. 【Từ giải】 Thảo nhục: Chỉ thảo đế, tức sản hậu lúc ngồi trên cỏ. 【Giải thích】 Phương dược này trình bày hội chứng và điều trị chứng sản hậu phát sốt.. Sản hậu phát sốt, do cảm thụ phong hàn, bệnh tà tại kinh Thiếu dương, lại có bệnh độc thấp nhiệt, kết ở hạ tiêu, hai dạng này có rất nhiều trên lâm sàng. Phân tích phương chứng thang Tiểu sài hồ : Sau khi sanh âm và huyết cùng hư tổn nên dương khí độc thịnh (nhiều và mạnh), khi chưa rời khỏi nơi sanh, có chút không cẩn thận để cảm thụ phong hàn, làm cho tà khách kinh Thiếu dương dưới cạnh sườn, chính tà phân tranh, vãng lai hàn nhiệt, và phát nhiệt tệ hơn, tay chân rất nóng, tà nhiệt lên trên nên gây đau đầu. Điều trị dùng thang Tiểu sài hồ để hoà giải bệnh tà ở kinh Thiếu dương. Trong phương có Sài hồ sơ tán bệnh tà ở kinh Thiếu dương, Hoàng cầm có thể trừ nhiệt tích chứa trong đảm phủ; Sinh khương Bán hạ điều vị (dạ dày) trị ẩu thổ; Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo ích khí hoà trung, phù trợ chính khí khứ tà. Phương dược kiêm cả công và bổ, bổ chính khí thoái tà khí, là một công đôi việc. Thang Tam vật Hoàng cầm phương chứng phân tích: Sản hậu âm huyết cùng hư tổn, dương khí độc thịnh (mạnh và nhiều), khi chưa rời khỏi nơi sanh, hạ tiêu cảm thụ bệnh độc thấp nhiệt, thấp nhiệt hun xông, phát sốt tệ hại, chân tay rất nóng, thấp nhiệt kết ở hạ tiêu vì thế không gây đau đầu. Điều trị nên dùng thang Tam vật Hoàng cầm thanh nhiệt táo thấp. Trong phương có Hoàng cầm thanh nhiệt táo thấp, giáng hoả giải độc, trừ phiền nhiệt; Khổ sâm thanh nhiệt táo thấp, lợi tiểu sát trùng; Can địa hoàng bổ huyết dưỡng âm. Phương dược này có thể thanh nhiệt táo thấp, trừ nhiệt do thấp nhiệt huân chưng (hun xông), lại có thể bổ huyết dưỡng âm, thoái nhiệt của huyết hư. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“ Đây là nói về sản phụ tạm thời cảm thụ phong nhẹ, hoặc tại bán biểu lý, hoặc tại hạ tiêu, phong hợp với thấp hoặc sinh trùng, đều có thể xuất hiện chứng tứ chi rất nóng, nhưng có sự khác biệt là đau đầu hoặc không đau đầu. Cho nên khi lâm sản, ngồi trên chiếu rơm, lúc chưa rời khỏi nơi sanh. Tự tiếp xúc với phong, do thiếu thận trọng khi cởi bỏ chăn áo mà cảm thụ phong. Sản hậu âm hư, tứ chi sau khi mất máu, thì dương khí độc thịnh, lại thêm cảm thụ vi phong, nên tứ chi rất nóng; Vì biểu tà nhiều và nhập lên trên nên đau đầu, nếu cảm thụ xuống dưới và thấp nhiệt kết ở hạ tiêu tất sinh trùng mà không đau đầu, vì thế với vị Hoàng cầm là quân dược, Khổ sâm khứ phong sát trùng vi thần, mà Địa hoàng bổ nguyên âm vi tá. Có câu viết thổ nhiều ra trùng, nói rằng được Khổ sâm tất bất an, xuất lên trên hay xuất xuống dưới, cũng chưa thể biết được.” 【Bệnh án】 Bệnh nhân họ Phu ××, nữ, 26 tuổi, đã lập gia đình, là xã viên. Cô đến bệnh viện chúng tôi để điều trị vào ngày 20 tháng 12 năm 1971 vì cơn đau kịch phát ở cả hai chi dưới trong hơn một tháng. Bệnh sử: Cách đây hơn một tháng, bệnh nhân thấy đau rát ở cả hai chi dưới, có khi đau dữ dội từng trận, phần giữa bắp chân và hai bàn chân đỏ sậm, nhiệt độ da tăng cao, lòng bàn chân toát mồ hôi lạnh. Dễ phát tác khi tiếp xúc với nhiệt. Bệnh nhân thường thích để chân ra ngoài chăn. Các triệu chứng thuyên giảm khi trời lạnh. Kiểm tra: Dinh dưỡng phát triển ở mức vừa phải. Vùng dưới giữa bắp chân và cả hai bàn chân đỏ sậm, da nóng rát, mạch đập của động mạch hai chi dưới bình thường. Không có phát hiện bất thường ở cả hai chi trên. Rêu lưỡi trắng nhầy và hơi vàng, chất lưỡi có màu đỏ nhạt. Mạch nhu nhược. Ấn tượng: Chứng đau chi có tính hồng ban. Quá trình điều trị: Trường hợp đau nhức hồng ban này chủ yếu là do âm hư và nội nhiệt, phương pháp điều trị là bổ âm, thanh nhiệt, mát máu. Dùng thang Tam vật Hoàng cầm: Sinh địa 60g, Hoàng cầm, Khổ sâm đều 30g, sắc uống. Đêm đó bệnh nhân uống 3 thang, cơn đau rát ở cả hai chi dưới đã thuyên giảm đáng kể. Bắt đầu từ ngày thứ hai, uống hai liều mỗi ngày trong ba ngày. Các triệu chứng ở cả hai chi dưới hoàn toàn biến mất và bệnh nhân khỏi bệnh. Theo dõi vào tháng 4 năm 1977 cho thấy bệnh không tái phát sau khi khỏi bệnh. 《Thiên Kim》【Nội bổ Đương quy Kiến trung thang】Trị phụ nữ sản hậu hư yếu gầy gò, liên tục đau nhói trong bụng, hô hấp kém, đau từ bụng lan sang eo lưng, không thể ăn uống. Sau khi sanh 1 tháng uống 4,5 thang trong một ngày là tốt, khiến người người bệnh khoẻ mạnh. Đương quy 4 lạng, quế chi 3 lạng, thược dược 6 lạng, sinh khương 3 lượng, đại táo 12 trái. Dùng 1 đấu nước sắc lấy 3 thăng chia 3 lần uống lúc ấm, uống trong 1 ngày. Nếu hư suy nặng gia di đường 6 lạng (sau khi sắc xong để nhỏ lửa hòa tan di đường). Nếu mất máu quá nhiều, băng huyết, nục huyết không cầm gia Địa hoàng 6 lạng, A giao 2 lạng, hợp bát vị. Sắc xong cho a giao vào. Nếu không có đương quy thay thế bằng xuyên khung. Nếu không có sinh khương có thể dùng can khương.
【Từ giải】 Nuy (羸): Là gầy yếu. Hô hấp: Hình dung diện mạo thiếu khí khi thở. 【Giải thích】 Phương dược này trình bày hội chứng và điều trị chứng sản hậu đau bụng. Phụ nữ sau khi sanh khí huyết đều hư yếu, lại thêm tỳ vị hư nhược, không thể sản sinh ra huyết, huyết hải trống rỗng, nên người bệnh gầy yếu. Tỳ vị hư nhược nên ăn kém, hô hấp kém. Khí huyết hư thiếu nên không thuận lợi, không thể ôn nhuận hạ tiêu, nên bụng đau co thắt đau lan sang eo lưng. Khí huyết bất lợi, khi bệnh tiến triển tệ hơn sẽ hình thành khí trệ huyết ứ, khiến trong bụng đau nhói không ngừng. Điều trị dùng thang Nội bổ Đương quy kiến trung. Trong phương có Đương quy, Thược dược bổ huyết ích âm, vận hành doanh khí; Quế chi ôn trung, thông hành khí huyết; Cam thảo, Di đường bổ trung phù hư; Sinh khương, Đại táo để điều hoà doanh vệ. Chứng này thuộc sản phụ sau sinh gầy yếu không đầy đủ, nếu chỉ đơn thuần bổ âm thì hàn sẽ ngưng tụ, còn đơn thuần ôn dương thì e rằng sẽ hại đến âm, cho nên dùng Kiến trung bổ huyết là phương pháp điều hoà daonh vệ. Có khả năng cùng chiếu cố cả khí và huyết mà không bị thiên lệch. Phép gia giảm của phương: Nếu sản hậu mất quá nhiều máu, hoặc băng huyết, nục huyết bên trong, âm huyết quá hư tổn có thể dùng phương này gia thêm Địa hoàng, A giao để bổ huyết liễm âm. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú》:“ Tuy thân thể của sản phụ không có bệnh, nhưng huyết hải bị hư tổn. Nếu trung khí sung thực, khí huyết tuy hư vẫn dễ phục hồi, mà hậu thiên không thể sinh huyết để bổ sung huyết hải, nên xuất hiện cơ thể yếu nhược không đầy đủ. Nhưng huyết hải hư thì kinh lạc hư yếu là điều không cần bàn. Vì khí huyết bất lợi mà ứ nên trong bụng không ngừng đau nhói. Bên trong Xung, nhâm, đốc, đới hư yếu,thì bụng dưới đau lan sang eo lưng. Tỳ vị khí hư, thì hấp ít khí, và không thể ăn uống, Dùng thang Quế chi điều hoà doanh vệ. Gia Đương quy có nhiều công dụng bổ huyết; Nếu hư thậm gia đường mạch nha, tuấn bổ tỳ vị và sinh khí huyết, nếu mất quá nhiều máu, băng huyết, nục huyết bên trong mà huyết hải và chân âm hư thậm, vì thế gia Địa hoàng, A giaođể bồi bổ. Dưới phương viết không có Sinh khương có thể thay bằng Can khương. Là trong thuốc ôn bổ lại có thuốc dẫn huyết, nhập huyết phận để sinh huyết, và ý nghĩa càng thêm vi diệu.
Lời kết Thiên này trình bày biện chứng luận trị những bệnh thường gặp sau khi sanh. Sản hậu uất mạo kèm theo đại tiện khó khăn là tình trạng bệnh khá phức tạp, bên trong huyết hư, bên ngoài cảm thụ hàn tà, điều trị dùng thang Tiểu sài hồ phù trợ chính khí và khứ tà, điều hoà thuận lợi cho xu cơ (xu cơ là chìa khoá vận động của vạn vật). Sản hậu khí huyết hư, mà có hội chứng vị gia thực, có thể dùng thang Đại thừa khí để tẩy rửa thực nhiệt tích trệ ở vị tràng. Tóm lại, ba dại chứng của phụ nữ sau sinh gồm: Bệnh kính, uất mạo và đại tiện khó, khi điều trị cần phải dưỡng huyết ích âm, lại phải nắm vững biện chứng luận trị, không câu nệ theo một quy tắc nào, đừng vì nguyên nhân hư yếu, giữ tư tưởng bảo thủ mà bỏ sót bệnh cơ, khiến cho tình trạng bệnh tăng nặng. Chứng đau bụng sau sinh có 4 loại tình trạng bệnh thường gặp, một là huyết hư nội hàn, điều trị nên dùng thang Đương quy dương nhục để bổ huyết tán hàn; Hai là khí huyết không thông sướng, điều trị nên dùng Chỉ thực Thược dược tán để hành khí hoà huyết; Ba là ứ huyết đình trệ bên trong, điều trị nên dùng thang Hạ ứ huyết; Bốn là ứ huyết gây trở ngại bên trong kiêm chứng dương minh lý thực, điều trị nên dùng thang Đại thừa khí, công hạ tích trệ ở vị tràng, kiêm tả thực nhiệt ở huyết phận. Sản hậu trúng phong, nếu do phong hàn bên ngoài xâm phạm, có thể dùng thang Dương đán điều hoà doanh vệ. Nếu do hư dương vượt lên, lại thêm cảm thụ phong tà, có thể dùng thang Trúc diệp, phù chính khứ tà. Ngoài ra, trong thiên này dùng Trúc bì đại hoàn, an trung ích khí, thanh giáng hoãn trung, để trị liệu chứng hư nhiệt ẩu nghịch trong thời kỳ cho con bú. Dùng thang Bạch đầu ông gia Cam thảo A giao, thanh nhiệt táo thấp, bổ trung dưỡng huyết, điều trị chứng sản hậu nhiệt lợi. Tóm lại, biện chứng luận trị bệnh sản hậu, cần chiếu cố đến những đặc điểm của sản hậu, lại không nên quá câu nệ vào những cấm kỵ của sản hậu. Trường Xuân Ng Nghị |