| Thiên 20
Bệnh mạch chứng và điều trị phụ nữ có thai Thiên này trình bày và thảo luận về biện chứng luận trị các bệnh thông thường của phụ nữ trong thời kỳ mang thai. Nội dung gồm phụ nữ bị nghén khi mang thai (nhâm thần ố trở), phụ nữ có thai bị bệnh trưng hà (hòn khối) từ trước, đau bụng, ra máu, khó tiểu tiện, thuỷ khí bệnh (thuỷ tà đình tụ, thuỷ thũng) và phương pháp an thai, dưỡng thai. Trong thiên có 11 điều văn và 9 phương dược. Trong đó điều 1 và 2 thảo luận về mạch chứng của phụ nữ có thai, mạch chứng và phương dược của phụ nữ có thai bị bệnh nhẹ. Các điều 3,4 và 5 thảo luận hội chứng và trị pháp, phụ nữ có thai bị đau bụng hoặc đau bụng đồng thời xuất huyết. Điều 6 thảo luận về phương dược và hội chứng của phụ nữ có thai bị ẩu thổ. Điều 7 và 8 thảo luận về biện chứng và phương dược của phụ nữ khi mang thai tiểu tiện khó khăn, điều 9, 10 và 11 thảo luận về phương dược an thai và dưỡng thai, và trị pháp khi thai bị tổn thương. Trọng điểm của thiên này là thảo luận về chứng đau bụng và hạ huyết (âm đạo xuất huyết) trong thời kỳ mang thai. Vì đau bụng và hạ huyết trong thời kỳ mang thai, đều có khả năng dẫn đến lưu sản (sanh non), đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển của thai. Vì thế những phương diện này đã được trình bày một cách khá cụ thể.
1.师曰:妇人得平脉,阴脉小弱,其人渴,不能食,无寒热,名妊娠,桂枝汤主之。方见利中.于法六十日当有此证,设有医治逆者,却一月,加吐下者,则绝之。 1/ Sư viết: Phụ nhân đắc bình mạch, âm mạch tiểu nhược, kỳ nhân khát, bất năng thực, vô hàn nhiệt, danh nhâm thần, Quế chi thang chủ chi phương kiến lợi trung.Vu pháp lục thập nhật đương hữu thử chứng, thiết hữu y trị nghịch giả,khước nhất nguyệt, gia thổ hạ giả, tắc tuyệt chi. 【Từ giải】 Tuyệt chi:Cấm tuyệt ý của y dược. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị của bệnh nhâm thần ố trở (nghén khi mang thai). Chứng nhâm thần ố trở, thường xuất hiện khi mang thai khoảng trên dưới 60 ngày. Lúc này thai nguyên bắt đầu kết, khí huyết về bào cung để dưỡng thai, thai khí chưa mạnh, âm huyết không đầy đủ, nên mạch xích tiểu nhược (nhỏ yếu), người bệnh khát nước. Âm huyết không đầy đủ, thai nhiệt nghịch lên khiến không thể ăn uống mà lợm giọng ẩu thổ. Mạch ở thốn và quan bộ bình hoà, thân thể không nóng lạnh, điều này cho biết là không bị bệnh mà đó là phản ứng của cơ thể khi mang thai, gọi là hiện tượng ố trở (nghén). Điều trị dùng thang Quế chi tư âm hoà dương, điều hoà doanh vệ. Trong phương thang có Quế chi điều hoà dương khí, Thược dược dưỡng âm huyết, Sinh khương, Đại táo, Cam thảo điều hoà tỳ vị, tư bổ sinh khí huyết. Nếu phụ nữ ở giai đoan đầu của tắt kinh, thày thuốc không biết là đã có thai, cho rằng đây là chứng bế kinh mà ngộ trị (điều trị nhầm), ở tháng thứ nhất sau khi tắt kinh, thì có thể xuất hiện chứng này, nếu như lại thêm thượng thổ hạ tả thì nên đình chỉ uống thuốc, cẩn thận quan sát biến hoá của bệnh, để tránh phát sinh vấn đề. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Huyền Giải》:“ Phụ nữ có mạch bình hoà, và xích mạch tiểu nhược, người này khát mà không thể ăn, bên ngoài không có biểu chứng hàn nhiệt, chính là có thai. 《Nan kinh》: Mệnh môn là nơi chốn của tinh thần, nơi ràng buộc nguyên khí. Nơi tàng chứa tinh khí của người nam, ràng buộc bào cung ở người nữ. Tử cung cũng thuộc thiếu âm thận, vì thế biểu hiện ở bộ xích. Thai kết trong thời gian đầu, khí huyết ngưng tắc, nên không tràn đầy vì thế mạch tượng tiểu nhược, thai đang hình thành, trung khí tắc mãn (đầy), vị nghịch không giáng xuống, vì thế lợm giọng ẩu thổ, không thể ăn ngon, vị nghịch nên kim hoả đều thăng, chính là phát khát. Cam thảo, Đại táo trong thang Quế chi có tác dụng bồi bổ tinh của tạng tỳ, Quế chi, Thược dược điều hoà huyết ở tạng can, Sinh khương giáng nghịch trị ẩu thổ, là phương pháp điều trị tốt cho phụ nữ có thai sơ khởi, với phép trị bệnh khi mang thai, trong vòng 60 ngày có chứng này, thiết lập điều trị ẩu nghịch chứng, còn trong 1 tháng xuất hiện chứng này, gia thêm thổ hạ (thượng thổ hạ tả), thì đây là trung khí suy bại, không liên quan đến thai chết, nên điều hoà trung khí và cũng hết bệnh. 2.妇人宿有癥病,经断未及三月,而得漏下不止,胎动在脐上者,为癥痼 害。妊娠六月动者,前三月经水利时,胎也。下血者,后断三月也。所以血不 止者,其癥不去做也,当下其癥,桂枝茯苓丸主之。 2/ Phụ nhân túc hữu chưng bệnh (bệnh u cục trong bụng), kinh đoạn vị cập tam nguyệt, nhi đắc lậu hạ bất chỉ, thai động tại tề thượng giả, vi chưng cố hại. Nhẫm thần lục nguyệt động giả, tiền tam nguyệt kinh thủy lợi thời, thai dã. Hạ huyết giả, hậu đoạn tam nguyệt phôi dã. Sở dĩ huyết bất chỉ giả, kỳ chưng bất khứ cố dã, đáng hạ kỳ chưng, Quế chi phục linh hoàn chủ chi. Quế chi phục linh hoàn phương Quế chi, Phục linh, Đan bì (bỏ tâm),Thược dược, Đào nhân (bỏ vỏ, đầu nhọn, sao), các vị bằng lượng. Tán bột, luyện mật thành hoàn to bằng cục phân thỏ, mỗi ngày dùng 1 hoàn trước bữa ăn, không đỡ tăng 3 hoàn. 【Từ giải】 【词解】 Phôi: Huyết ngưng tụ không tan. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị phụ nữ mang thai đã có bệnh trưng hà. Người phụ nữ đã có bệnh trưng hà từ trước khi mang thai, kinh kỳ trướ đây bình thường, hiện tại đã đình kinh thụ dựng thành thai, kinh ngừng đã 3 tháng, vì bệnh trưng hà (hòn khối trong bụng) cản trở huyết mạch, huyết không tuần hành theo đường lối thông thường, mà lậu hạ (rò rỉ máu) không ngừng, Hòn khối cản trở khí huyết vận hành, nên trong bụng phập phồng máy động bất an. Tuy bệnh ở huyết phận, cũng thuộc động thai. Vì ứ mà lậu hạ, vì thế trưng tích không được trừ khứ thì chứng lậu hạ không thể ngừng, chỉ khi hạ khứ chưng tích, huyết mạch vận hành bình thường, thì có thể an thai. Điều trị dùng hoàn Quế chi Phục linh, khứ ứ hoá trưng tích. Trong phương có Quế chi thông huyết mạch; Thược dược lương huyết hoạt huyết; Đào nhân, Đan bì hoạt huyết hoá ứ; Phục linh kiện tỳ hoá thấp trọc, khiến huyết thuận lợi, khí thông sướng và trưng tích được vận hành. Tuy mỗi ngày uống 1 hoàn trước khi ăn, nhưng cũng nên thận trọng. Trong câu văn : “ Nhâm thần lục nguyệt động giả, tiền tam nguyệt kinh thuỷ lợi thời, thai dã” (妊娠六月动者,前三月经水利时,胎也) Có thai tháng thứ 6 động thai, trước khi đình kinh 3 tháng kinh nguyệt bình thường, bây giờ động thai, điều này cho thấy đây là mang thai và không có bệnh gì khác. Trong câu văn: “Hạ huyết giả, hậu đoạn 3 nguyệt dã” (下血者,后断三月也) Cho thấy có căn cứ của bệnh trưng hà. Trước khi đình kinh 3 tháng, kinh nguyệt không bình thường, sau khi đình kinh 3 tháng, lại xuất ứ huyết (lượng ít gọi là lậu) có màu tím đen, nếu kèm theo bụng dưới khiêu động (đập), thì chính là trưng tích mà không phải là mang thai, điều này không có gì phải nghi ngờ nữa. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Trưng, huyết cũ tích lại, cũng là bệnh cũ, khối u tích tụ gây hại, khí của bệnh cũ, cũng hại cho thai. Mang thai 6 tháng, mà đang động thai, nay thai chưa đến 3 tháng, thai không đáng động mà bỗng nhiên động thai, là đặc trưng của khối u tích tụ gây hại. Chính là 6 tháng bị động là thai bình thường, 3 tháng bị động là không bình thường. Mà người bị bệnh trưng hà, thì kinh nguyệt không thuận lợi nên không thể thụ thai, cộng thêm trước 3 tháng kinh nguyệt thuận lợi, tử cung sạch nên có thể kết thai. Thai đã kết cho nên kinh ngừng không trở lại, nhưng chưa đến 3 tháng mà phôi huyết trở xuống, cũng vì sự cố gây hại của khối u tích tụ, với huyết lưu lại nuôi thai là bình thường, huyết ra không ngừng là biến chứng bất thường. Tóm lại, hòn khối (trưng) không được trừ khứ, thì không giữ được huyết, huyết không giữ được thì cuối cùng thai không bằng an, vì thế viết nên trừ khứ hòn khối. Dùng hoàn Quế chi Phục linh với sức thuốc vừa nhẹ vừa hoà hoãn, vì e ngại lực mạnh mẽ của thuốc sẽ gây tổn thương cho thai.
【Bệnh án】 Trương ××, nữ, 38 tuổi, xã viên, vào viện ngày 10/3/1978. Kinh nguyệt của cô ta đã ngưng được 3 tháng. Cô bị sốt vào buổi chiều và chán ăn. Bệnh nhân được chẩn đoán huyết hư vị nhược, huyết hư bế kinh, điều trị dưỡng huyết kiện vị thư can kéo dài không có hiệu quả và tình trạng dần dần trở nên tồi tệ hơn. Bụng trướng to rõ ràng, giống như ở tháng thứ năm, thứ sáu của thai kỳ, khi ấn vào thì cứng như đá, không di chuyển và đau ở bụng dưới, mạch trầm hoạt có lực, càng rõ hơn ở mạch quan bên phải. lưỡi có màu tím với đốm xuất huyết. Theo người viết: Đây là trường hợp có thai kèm theo bệnh trưng hà (hòn khối). Tôn theo ý của thày Trọng Cảnh liền theo ý của phương Quế chi Phục linh hoàn : Quế chi 15g Đan bì 15g Thược dược 20g Đào nhân 15g, cho bn uống 2 thang. Sau khi uống tình trạng bệnh vẫn như cũ. Sau đó dùng lại phương cũ nhưng tăng lượng Quế chi 25g Đào nhân lên 20g và cho bn uống 2 thang. Sau khi uống bn sôi bụng, sáng hôm sau đại tiện 2 lần, phân màu tím đen và cứng, chứng đau bụng giảm nhẹ. Khám lần 3: Tích khối cứng, cố định không di chuyển, da không nhuận, rìa lưỡi tím, rêu lưỡi dày và khô, mạch trầm sáp. Lại dùng nguyên phương tăng Đan bì lên 35g. Sau khi uống đi đại tiện đầy bồn máu, người nhà rất sợ. Sau đó bụng không còn quá to, ấn vào bụng cảm giác mềm mại, không đau, ăn uống tốt dần. Nhưng ở dưới rốn vẫn thấy một vật như quả trứng ngỗng, người viết gọi là khí thai, tình trạng bệnh nhân ổn định dần và bé gái chào đời đủ tháng.
3.妇人怀娠六七月,脉弦发热,其胎愈胀,腹痛恶寒者,少腹如扇,所以然 者,子藏开故也,当以附子汤温其藏。方未见 3/ Phụ nhân hoài thần lục thất nguyệt, mạch huyền phát nhiệt, kỳ thai dũ trướng, phúc thống ố hàn giả, thiếu phúc như phiến, sở dĩ nhiên giả, tử tạng khai cố dã, đáng dĩ Phụ tử thang ôn kỳ tạng. Phương dĩ kiến 【Từ giải】Thiểu phúc như phiến: Phiến là động từ, nói bụng dưới như vỗ cánh tạo gió có cảm giác mát lạnh. 【Giải thích】 Đoạn văn trình bày biện chứng luận trị phụ nữ có thai đau bụng do dương hư hàn thịnh. Phụ nữ mang thai 6,7 tháng, mạch huyền phát sốt. Tựa như có biểu chứng, thai trướng và đau, vùng bụng ghét lạnh, thậm chí bụng dưới lạnh từng cơn, như là bị gió thổi vào. Sở dĩ như vậy là tạng con mở mà không đóng, và gió lạnh thừa cơ xâm phạm, dương hư có hàn, vì thế thấy mạch huyền, dương hư khí phù cho nên phát sốt. Điều trị dùng thang Phụ tử, ôn dương tán hàn, ấm tử cung an thai. Trong phương có Phụ tử ôn dương khí, tán âm hàn, Nhân sâm bổ nguyên khí, chấn hưng dương quang; Phục linh, Bạch truật kiện tỳ sinh tân (mới), bổ khí bổ huyết, Thược dược hoà huyết lại có thể liễm âm, kiềm chế tính táo nhiệt (khô nóng) của Phụ tử, liễm hư dương phù việt ra ngoài.
【Tuyển chú】 《Trương Thị Y Thông》:“Có thai mạch huyền là hư hàn, hư dương tán ra ngoài nên phát sốt, âm hàn nghịch vào trong nên thai trướng. Đau bụng ghét lạnh là bên trong không có dương, tạng con không thể bế tàng, vì thế khí âm hàn như gió thổi nhẹ nhàng. Dùng thang Phụ tử để ấm tạng, thì thai tự an.
【Bệnh án】 Họ Vương××, nữ, 35 tuổi, đã sinh con. Đang mang thai được bảy tháng, đột nhiên bị đau bụng liên miên không ngừng. Sau nhiều lần điều trị, bệnh càng tệ. Khi người viết khám thì bệnh đã hơn 1 tháng, bệnh nhân sợ lạnh, đặc biệt là vùng bụng, trong miệng bình thường, thích uống nước nóng, chảy nước dãi, mạch huyền vô lực. Đầu tiên, người viết cho bệnh nhân uống thang Tiêu dao gia vị để điều khí an thai, không hiệu quả. Bất đắc dĩ lại dùng nguyên phương thang Phụ tử trong 《Thương hàn luận》(Phụ tử 15g, Phục linh 15g, Đảng sâm 25g, Bạch truật 25g, Bạch thược 15g), Uống liên tiếp 3 thang thì khỏi bệnh. Đến kỳ sinh một bé trai khoẻ mạnh.
4.师曰:妇人有漏下者;有半产后因续下血都不绝者;有妊娠下血者,假令妊娠腹中痛,为胞阻,胶艾汤主之。 4/ Sư viết: Phụ nhân hữu lậu hạ giả, hữu bán sản hậu nhân tục (do liên tục) hạ huyết đô bất tuyệt giả, hữu nhâm thần hạ huyết giả, giả lệnh nhâm thần phúc trung thống, vi bào trở, Giao ngải thang chủ chi. Khung quy giao ngải thang phương Xuyên khung, A giao, Cam thảo mỗi loại 2 lạng, Ngải diệp, Đương quy mỗi loại 3 lạng, Thược dược 4 lạng, can Địa hoàng 6 lạng. Dùng 5 thăng nước pha chung 3 thăng thanh tửu sắc còn 3 thăng, bỏ bã, hòa tanAgiao uống lúc ấm 1 thăng ngày 3 lần. Chưa hết bệnh uống tiếp.
【Từ giải】 Bào trở: Tên hội chứng, khí huyết bất hoà trong tử cung, cản trở khả năng sinh hoá.
【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị ba loại lậu hạ (xuất huyết tử cung) ở phụ nữ. Phụ nữ xuất huyết, trong đó có 3 loại bệnh chứng: Một là kinh nguyệt nhỏ giọt không ngừng; Hai là sau khi sẩy thai xuất huyết liên tục với lượng ít gọi là lậu hạ; Ba là bệnh bào trở (胞阻) là đau bụng ra huyết khi đang mang thai, (tương tự như tây y gọi là doạ sảy thai). Bệnh bào trở, vì hai mạch xung và nhâm hư hàn, cản trở huyết không thể giữ lại bên trong (nội thủ), huyết dịch rỉ ra (lậu hạ), không thể nhập vào để nuôi bào thai, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai, vì thế nên đau bụng. Có thai ra máu và đau bụng gọi là hội chứng bào trở. Bệnh cơ của lậu hạ và xuất huyết không ngừng sau khi sảy thai cũng chính vì hai mạch xung nhâm hư hàn, cản trở huyết không thể giữ lại bên trong gây ra. Ba loại lậu hạ này tuy khác nhau. Đều có thể dùng thang Giao ngải bổ huyết cố (củng cố) kinh, điều hoà hai mạch xung nhâm mà khỏi bệnh. Trong phương có A giao dưỡng huyết cầm máu; Ngải diệp ấm áp kinh mạch và tử cung; Đương quy, Xuyên khung, Địa hoàng, Bạch thược bổ huyết dưỡng can, liễm âm ích vinh (phận), để nuôi dưỡng bào thai; Cam thảo điều hoà chư dược, hoà hoãn trung tiêu giải trừ cấp bách, hợp lại có công hiệu ấm áp tử cung và điều bổ hai mạch xung nhâm. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Phụ nữ kinh nguyệt nhỏ giọt và thai sản trước sau xuất huyết không ngừng, đều do xung nhâm hư hàn nên âm khí không thể giữ lại, duy chỉ dùng thang Giao ngải để có thể bồi bổ và củng cố, trong phương có Khung, Quy có thể vận hành khí trong huyết; Ngải diệp lợi âm khí, giảm đau an thai, vì thế được dùng cho phụ nữ có thai đau bụng gọi là bào trở. Bào trở là mạch bào thai bị cản trở ứ trệ, huyết ít nên khí không thể vận hành. 【Bệnh án 1】 Chu ××, 25 tuổi, được chẩn đoán vào ngày 19 tháng 10 năm 1973. Sau khi sinh 40 ngày, huyết hôi không sạch, đau bụng dưới, kém ăn, lưỡi mềm, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng màu vàng, mạch nhu tế. Sau khi sinh khí huyết hư nhược, tử cung ứ nhiệt, người viết cho bn uống thang Giao ngải tứ vật gia giảm: Xuyên khung (sao) Xích, Bạch thương Đảng sâm (sao) Bạch truật đạm Hoàng cầm Xuyên đoạn Thất tiếu tán (gói), mỗi vị 10g Ích mẫu thảo Sinh địa Thục địa Hoàng ngư yêu giao mỗi vị 12g, Ngải nhung thán 3g. Uống 5 thang thì hết huyết hôi, duy bụng còn đau nhẹ, ăn uống chưa tốt, dùng nguyên phương gia Cốc nha, uống 5 thang thì khỏi bệnh. 【Bệnh án 2】 Túc ××, nữ, 32 tuổi, giáo viên. Đến phòng khám vào ngày 25 tháng 11 năm 1979. Kinh nguyệt một tháng 2 lần đã hơn một năm, Tây y chẩn đoán bn bị xuất huyết tử cung chức năng. Đã uống hàng chục liều Quy tỳ và Bổ trung ích khí, nhưng hiệu quả không đáng kể. Lần này bn bị đau bụng kinh, lượng nhiều, màu nhạt, loãng, đã mười ngày mà vẫn kéo dài không hết, thân thể mệt mỏi, yếu ớt, chóng mặt, sắc mặt tái nhợt, toàn thân và thắt lưng ớn lạnh, bụng chướng và đau lưng, kém ăn. và đôi khi có cảm giác hồi hộp, tê tay chân, phù nề chi dưới, lưỡi hơi béo, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm tế vô lực. Hội chứng được chẩn đoán là do thận hư, hai mạch xung nhâm không kiên cố, huyết hải không bế tàng, dùng thang Giao ngải tứ vật trong 《Kim Quỹ Yếu Lược》gia vị: Thục địa 20g Bạch thược, Đương quy, Đỗ trọng, Thố ti mỗi vị 12g Tục đoạn 15g Sơn thù 10g Xuyên khung 3g Phục linh 10g Ngải diệp thán 10g A giao 15g (chưng riêng) Sau khi uống 5 thang, thuốc đã có tác dụng ban đầu, các chứng đều giảm, dùng 15 thang vẫn giữ nguyên công thức ban đầu. Vào tháng 12, kinh nguyệt đến một lần bình thường, nhưng số lượng vẫn còn nhiều. Lời khuyên chẩn đoán thứ ba là bắt đầu dùng năm liều theo đơn ban đầu mỗi lần sau khi thấy kinh nguyệt, trong ba tháng liên tục. Sau khi ngừng thuốc nửa năm, mà kinh nguyệt vẫn bình thường.
5.妇人怀娠腹中㽲痛,当归芍药散主之。 5/ Phụ nhân hoài thần phúc trung cấp thống, Đương quy Thược dược tán chủ chi. Đương quy thược dược tán phương Đương quy 3 lượng, Thược dược 1 cân, Xuyên khung 0,5 cân, Phục linh 4 lượng, Bạch truật 4 lượng, Trạch tả 0,5 cân. Tán bột dùng phương thốn chủy hòa với rượu uống ngày 3 lần. 【Từ giải】 㽱痛: Bụng đau liên miên. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị chứng phụ nữ có thai đau bụng. Phụ nữ có thai can huyết hư mà tỳ thấp lại nhiều, khiến khi huyết can tỳ bất hoà nên trong bụng co thắt mà đau liên miên, thấp tà không hoá nên tiểu tiện không thuận lợi khiến hạ chi phù thũng. Điều trị dùng Đương quy Thược dược tán, dưỡng huyết điều tiết can, kiện tỳ lợi thấp. Trong phương trọng dụng Thược dược, bình can khí để an tỳ vị, phối hợp với Đương quy, Xuyên khung điều hoà can dưỡng huyết để hoà huyết khí; Bạch truật kiện tỳ táo thấp, phối hợp Phục linh, Trạch tả thấm thấp lợi thuỷ, tiết trọc trừ thũng. Như thế khiến cho hết đau bụng và thai tự an. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“ 㽲痛者là đau liên miên, không như đau quặn thắt của chứng hàn sán, cũng như đau nhói của khí huyết. Mà chính khí không đầy đủ, khiến cho âm lấn dương, và thuỷ khí thắng thổ, tỳ uất bất thân (không giãn ra), uất mà cầu thân (ứ đọng muốn giãn ra), thổ khí không điều hoà, nên đau liên miên. Vì thế Quy Thược dưỡng huyết, Linh Truật phù tỳ, Trạch tả khứ bớt thuỷ tích tụ có thừa, Khung cùng muốn trục bớt huyết khí. Không dùng vị Hoàng cầm, đau bụng liên miên là do hư tổn, có kèm theo chút hàn lãnh; Nhưng không dùng nhiệt, vì không phải là đại hàn, nên khi chính khí sung mãn thì vi hàn tự khứ thôi. 【Bệnh án】 Họ Phó ××, nữ, 24 tuổi, nông dân, sinh một bé trai vào tháng 10 năm 1979. Sau khi sinh, cô bị chảy máu rất nhiều, hai tháng sau khi sinh, cô vẫn bị chảy máu âm đạo bất quy tắc, máu chảy rỉ rả liên tục và màu sắc nhợt nhạt. Kèm theo đau bụng dưới, chán ăn, bơ phờ, da tái nhợt, gầy gò, khám phụ khoa cho thấy tử cung phục vị kém. Cho uống hai thang Đương quy Thược dược. Sau 4 ngày tái khám âm đạo xuất huyết rất ít và cơn đau bụng biến mất. Cô được khuyên dùng ba thang Đương quy Thược dược tán gia Đảng sâm, Hoàng kỳ. Sau khi uống thuốc tất cả các triệu chứng đều biến mất, và bệnh không tái phát trong thời gian theo dõi sáu tháng.
6. 妊娠呕吐不止,干姜人参半夏丸主之。 Nhâm thần ẩu thổ bất chỉ, Can khương Nhân sâm Bán hạ hoàn chủ chi. Can khưong nhân sâm bán hạ hoàn phương Can khương 1 lạng, Nhân sâm 1 lạng, bán hạ 2 lạng. Tán bột mịn dùng sinh khương trấp làm hoàn to bằng hạt ngô đồng, uống lần 10 hoàn, ngày 3 lần. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị chứng ẩu thổ của phụ nữ có thai do vị hư yếu và có hàn ẩm. Do tỳ vị hư hàn, thuỷ dịch ngưng trệ, tích tụ thành đàm ẩm, trọc âm nghịch lên khiến ẩu thổ đàm bọt và nước. Ẩm đình trệ ở trung tiêu, thường xuất hiện các chứng trạng như khó chịu trong dạ dày và không thể ăn, mạch huyền, rêu lưỡi trơn. Điều trị dùng Can khương Nhân sâm Bán hạ hoàn. Can khương trong phương có tác dụng ôn trung tiêu tán hàn, chấn hưng trung dương (dương của trung tiêu); Nhân sâm kiện tỳ bổ chính; Bán hạ giáng nghịch trị ẩu thổ; Nước gừng tươi trừ ẩm giáng nghịch. Phương dược này có thể khiến trung dương được chấn hưng, tiêu trừ hàn ẩm, vị khí thuận giáng và chứng ẩu thổ tự ngừng. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú》:“ Đây là bệnh mà hậu thế gọi là ố trở (nghén). Đầu tiên do tỳ vị hư nhược, tân dịch lưu trệ, tích lại thành đàm ẩm, sau khi thai được 2 tháng, phôi hoá thành thai, trọc khí xung lên, trung tiêu không thắng được nghịch trọc, đàm ẩm phun ra, không ngừng ẩu thổ, hàn ẩm ở trung tiêu trỗi dậy. Vì thế dùng vị Can khương trị hàn, Nhân sâm bổ hư, Bán hạ Sinh khương trị đàm và tán nghịch.”
7. 妊娠小便难,饮食如故,当归贝母苦参丸主之。 7/Nhâm thần, tiểu tiện nan, ẩm thực như cố, Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn chủ chi. Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn phương: (nam tử gia Hoạt thạch 0,5 lạng). Đương quy 4 lạng, Bối mẫu 4 lạng, Khổ sâm 4 lạng. Tán bột luyện mật làm hoàn bằng hạt đậu nhỏ, uống 3 hoàn, gia tăng tới 10 hoàn. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị chứng có thai tiểu tiện khó khăn. Phụ nữ có thai tiểu tiện khó, ăn uống như thường, cho thấy bệnh ở hạ tiêu mà không ở trung tiêu. Vì khi mang thang mà huyết hư, hạ tiêu lại có thấp nhiệt, dẫn đến tiểu tiện khó khăn không thuận lợi sảng khoái. Điều trị dùng Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn, vị Đương quy hoà huyết nhuận táo, Bối mẫu khai kết giải uất, Khổ sâm thanh lợi thấp nhiệt. Ba vị thuốc hợp lại, thì can được điều tiết và huyết được thuận lợi, khí khai mở thấp được vận hành và tiểu tiện tự thuận lợi. Phương dược này dùng trên lâm sàng đã thu được hiệu quả không ngờ. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa》:“ Phụ nữ có thai tiểu tiện khó khăn, ăn uống như thường, huyết hư sinh nhiệt, tân dịch bị tổn thương nên khí hoá bất lợi, Chủ trị với Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn, Đương quy sinh huyết, Bối mẫu thanh nguồn khí hoá, Khổ sâm giáng hoả của huyết nhiệt, lại cũng là trị pháp lập riêng cho phụ nữ hư nhiệt mang thai.
8. 妊娠有水气,身重,小便不利,洒浙恶寒,起即头眩, 葵子茯苓散主之。 8/Nhâm thân hữu thủy khí, thân trọng tiểu tiện bất lợi, sái tích ố hàn, khởi tức đầu huyễn, Quỳ tử Phục linh tán chủ chi. Quỳ tử phục linh tán phương Quỳ tử 1 cân Phục linh 3 lạng. Tán bột mỗi lần dùng phương thốn chuỷ ngày 3 lần, tiểu tiện thuận lợi là khỏi. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị chứng thuỷ khí của phụ nữ có thai. Phụ nữ mang thai có thuỷ khí, thường do sau khi có thai, kinh lạc huyết mạch không vận hành thông sướng, khí hoá bị trở ngại, vì thế tiểu tiện không thuận lợi. Thuỷ khí đình trệ bên trong, tràn ra da thịt, khiến thân thể phù thũng nặng nề, kinh lạc huyết mạch không vận hành dễ dàng, thuỷ thấp ngưng trệ, dương khí không thông ra da thịt, nên có vẻ ngoài run rẩy sợ lạnh. Thanh dương không thăng, nên đầu huyễn. Điểm then chốt của biện chứng là tiểu tiện không thuận lợi, cần phải chú ý. Điều trị dùng Quỳ tử Phục linh tán thông lạc lợi thuỷ. Trong phương có Phục linh kiện tỳ hoá khí, thấm thấp thông lạc, lợi thuỷ khứ thấp; Quỳ tử hoạt khiếu hành thuỷ, khiến thủy lợi thấp khứ. Quỳ tử Phục linh tán khiến mạch lạc vận hành thông sướng, thuỷ thấp hạ hành thuận lợi. Cho nên tiểu tiện thuận lợi thì mọi chứng đều có thể khỏi. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Xiển Nghĩa》:“Phụ nữ mang thai có thuỷ khí, thuỷ là vật âm thấp, dương toàn thân tất bị kiềm chế lấn át, như dương của cơ nhục không vận hành nên thân thể nặng nề, dương của bàng quang không hoá mà tiểu tiện bất lợi, vệ dương không kiên cố mà bên ngoài ghét lạnh, vị dương không thăng nên đầu huyễn. Quỳ tử Phục linh tán chủ trị bệnh này, Quỳ tử có tác dụng hoạt lợi thông dương, Phục linh vị nhạt thấm thấp thông dương, khi thuỷ âm thấp tiết xuống dưới thì chư dương đều thông.”
9.妇人妊娠,宜常服当归散主之。 9/ Phụ nhân nhâm thần, nghi thường phục Đương quy tán chủ chi. Đương quy tán phương Đương quy Hoàng cầmThược dược Xuyên khung mỗi loại 1cân bạch truật 0, 5 cân. Tán bột uống phương thốn chuỷ với rượu. Phụ nữ có thai uống thường thì dễ sinh, thai nhi không bệnh, sản hậu chủ trị trăm bệnh. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày phương pháp dưỡng thai cho phụ nữ có thai huyết hư nội nhiệt. Sau khi có thai, thai đoạt khí huyết, can huyết hư tổn nên sinh nội nhiệt, tỳ khí hư nên sinh nội thấp, bệnh do huyết hư kết với thấp nhiệt xuất hiện các chứng trạng như thân thể gầy yếu, trong người nóng nhiệt phiền muộn, vựng đầu tức ngực, ăn ít lợm giọng, đau bụng động thai, thậm chí sảy thai. Nên thường xuyên uống Đương quy tán có tác dụng dưỡng huyết kiện tỳ, tiêu hoá thấp nhiệt. Trong phương có Đương quy, Thược dược bổ can dưỡng huyết, hoà huyết liễm âm, Xuyên khung hoạt huyết giải uất, điều đạt can khí; Bạch truật kiện tỳ hoá thấp; Hoàng cầm thanh nhiệt kiên âm, hợp lại thì có công hiệu an thai. Hội chứng can tỳ lưỡng hư, thật bất công với công dụng của thuốc, nếu không uống thường xuyên. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Xiển Nghĩa》:“ Phụ nữ mang thai dùng huyết dưỡng thai, huyết bị thai đoạt mất nên hư tổn mà sinh nhiệt là lẽ thường. ‘Nên uống thường xuyên ’ , là không bị bệnh cũng nên uống thường xuyên. Đương quy, Thược dược, hai vị một tĩnh một động để dưỡng huyết, Xuyên khung điều đạt can dương, Hoàng cầm thanh nhiệt hoà âm, Bạch truật kiện tỳ thắng thấp, uống một thìa cổ (phương thốn chuỷ) thuốc với rượu, theo huyết phận để điều hoà hai tạng can và tỳ.” 【Bệnh án】 Họ Lý ××, nữ, 27 tuổi, có ba lần mang thai sau khi kết hôn hai năm, tất cả đều bị sảy thai khoảng hai tháng sau khi mang thai. Cô đến gặp bác sĩ vào tháng 7 năm 1976. Cố đã tắt kinh nguyệt hơn 40 ngày, hơi buồn nôn, chóng mặt và đau bụng nhẹ, không ra máu, mạch nhu hoạt mà sác, đầu lưỡi hơi hồng. Để ngăn ngừa sảy thai lần nữa, người viết cho bệnh nhân uống Đương quy tán: Đương quy 10g Hoàng cầm 10g Bạch thược 10g sao Xuyên khung 5g Bạch truật 10g Tử tô cánh 10g Thanh Trúc nhự 10g Sau khi uống hơn 20 thang, thai đã hoàn thành đủ tháng.
10. 妊娠养胎,白术散主之。 10/ Nhâm thần dưỡng thai, Bạch truật tán chủ chi. Bạch truật tán phương: Bạch truật Xuyên khung mỗi loại 4 phân Thục tiêu 3 phân Mẫu lệ 2 phân. Tán bột mịn uống 1 chỉ với rượu ngày 3 lần đêm 1 lần. Nếu đau nhiều gia Thược dược. Tâm hạ thống gấp đôi luợng Xuyên khung; tâm phiền ẩu thổ không ăn uống được gia Tế tân 1 lạng Bán hạ 20 củ, uống cùng giấm nếu nôn khan. Nếu không giảm uống thêm nước tiểu mạch. Xuất hiện miệng khát thì uống thêm cháo đại mạch. Bệnh tuy đã khỏi, uống hết đừng bỏ. 【词解】 Thố tương thuỷ: Một tên là Toan tương thuỷ, một loại nước uống cổ xưa, có tác dụng kiện vị tiêu nhiệt. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày phương pháp dưỡng thai của thai phụ tỳ hư hàn thấp. Sau khi có thai, thai chiếm đoạt khí huyết, nếu can kinh hư hàn mà huyết thiểu (ít), không thể nuôi dưỡng thai khiến thai động bất an. Tỳ kinh hư hàn mà sinh ra hàn thấp, hàn thấp gây trở ngại trung tiêu, nên xuất hiện các chứng trạng như có lúc đau bụng, nôn ra nước trong. Điều trị dùng Bạch truật tán, ấm áp can tỳ, trừ thấp an thai. Trong phương có Thục tiêu ấm áp can tỳ, kiện vị dưỡng thai, Xuyên khung thư can hoà huyết, Bạch truật kiện tỳ hoá thấp, Mẫu lệ liễm âm tiềm dương, có thể kết hợp với Thục tiêu để thúc đẩy vị tràng tiêu hoá. Hội chứng nêu trên nếu thuộc can huyết sáp thiểu, âm huyết bất lợi, trong bụng bị kìm nén gây đau thì gia Bạch thược để hoà âm huyết, ứ huyết gây trở trệ, âm huyết không thể xuống đến bào thai, tâm hạ đau đớn thì gia Xuyên khung phá ứ thông lạc, vận hoá huyết của thai đi xuống (hạ hành); Nếu hàn thấp đình lưu ở trung tiêu, đàm thấp uất trệ vì thế gây tức ngực phiền muộn, ẩu thổ bọt dãi, đau bụng không thể ăn uống, thì gia Tế tân ôn hoá hàn ẩm, tán trầm hàn cố lãnh (hàn lãnh lâu ngày); Nếu ẩu thổ khí nghịch thì gia Bán hạ kiện tỳ hoá đàm, hoà vị chỉ ẩu. Nếu sau khi uống vẫn không ngừng ẩu thổ, thì thay bằng nước tiểu mạch có vị ngọt để điều hoà vị (dạ dày). Nếu đã ngừng ẩu thổ, tân dịch trong dạ dày không đầy đủ, người bệnh khát nước thì ăn cháo Đại mạch để bổ tỳ điều hoà trung tiêu, sinh tân dịch trị khát nước. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Xiển Nghĩa》:“ Dưỡng thai, là thai không sinh trưởng, uống thuốc để nuôi dưỡng cơ hội sinh trưởng, không phải vô cớ mà uống thuốc, điều cần của thai là chú trọng hai tạng can và tỳ, tạng can là nguồn sinh huyết, thổ là mẹ vạn vật, chủ yếu với Bạch truật tán, Xuyên khung lợi cho tạng can, Bạch truật bồi bổ thổ, Thục tiêu hỗ trợ can dương, Mẫu lệ hoà can âm, khi can tỳ âm dương điều hoà thì sức sống sẽ mạnh mẽ thôi.”
11.妇人伤胎怀身,腹满不得小便,从腰以下重,如有水气状,怀身七月, 太阴当养不养,此心气实,当刺泻劳宫及关元,小便微利则愈。見《玉函》. 11/ Phụ nhân thương thai hoài thân, phúc mãn bất đắc tiểu tiện, tùng yêu dĩ hạ trọng, như hữu thủy khí trạng, hoài thân thất nguyệt, thái âm đáng dưỡng bất dưỡng, thử tâm khí thực, đáng thích tả Lao cung cập Quan nguyên, tiểu tiện vi lợi (hơi thông) tắc dũ. Kiến 《Ngọc hàm》 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị của hoài dựng thương thai. Mang thai 7 tháng, thủ thái âm phế kinh cần phải dưỡng thai, nhưng do tâm hoả khí thực, gây tổn thương phế âm, phế khí, phế không giáng xuống được nên không thể dưỡng thai, lại không thể thông điều thuỷ đạo,vì thế động thai bất an, đầy bụng và tiểu tiện bất lợi, từ eo lưng trở xuống nặng nề phù thũng, như có thuỷ khí. Hội chứng này là tâm hoả khí thực, truyền vào phế kinh, tổn thương thai khí, vì thế không thể trị phế, mà phải tả tâm khí và vận hành thuỷ khí. Tâm hoả giáng thì phế khí tự hành, tiểu tiện thông lợi thì tâm khí có thể hạ giáng. Dùng kim châm huyệt Lao cung để tả tâm khí, châm huyệt Quan nguyên để vận hành thuỷ khí. Hai huyệt Lao cung và Quan nguyên, khi dùng cho phụ nữ có thai phải cẩn thận, châm sâu cường tả (tả mạnh) có thể gây sảy thai, vì vậy phép châm nên châm nông và nhẹ nhàng. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Trực Giải》:“ Tháng thứ 7 thủ thái âm phế kinh dưỡng thai, kim bị hoả thừa (lấn), nên phế kim thụ thương mà thai không được dưỡng, lại không thể thông điều thuỷ đạo, vì thế xuất hiện chứng trạng đầy bụng và khó tiểu tiện, từ eo trở xuống như có thuỷ khí. Huyệt Lao cung trong bàn tay, là chủ huyệt quyết âm tâm, dùng phép tả để hoả không thừa kim. Huyệt Quan nguyên ở dưới rốn, là mộ huyệt của tiểu tràng, dùng tả pháp để tiểu tiện thông lợi. Các huyệt này phải dùng cẩn thận nhẹ nhàng, châm sâu tả mạnh có thể gây sảy thai. Lời kết Thiên này chủ yếu là trình bày biện chứng luận trị của bệnh tật trong thời gian mang thai. Có thai ẩu thổ, có hội chứng âm huyết không đầy đủ, vị hư yếu có nhiệt, có thể dùng thang Quế chi, điều hoà tỳ vị, sinh trưởng khí huyết; Có hội chứng vị hư và hàn ẩm nghịch lên thì có thể dùng Can khương Nhân sâm Bán hạ hoàn, chấn hưng dương ở trung tiêu, trừ hoá hàn ẩm. Có thai đau bụng, thuộc dương hư hàn thịnh, có thể dùng thang Phụ tử, ôn dương tán hàn, ấm tử cung an thai. Nếu can tỳ không điều hoà, có thể dùng Đương quy Thược dược tán, dưỡng huyết sơ (tiết) can, kiện tỳ lợi thấp. Có thai xuất huyết, có chưng tích (hòn khối) lậu hạ (ra máu rỉ rả), có thể dùng Quế chi Phục linh hoàn, khứ ứ hoá chưng tích, chưng tích khứ thì huyết tự cầm. Nếu hai mạch xung nhâm hư hàn, không thể thống nhiếp huyết dịch, có thể dùng thang Giao ngải, bổ huyết kiên cố kinh mạch, điều hoà hai mạch xung nhâm. Phụ nữ mang thai có hai chứng tiểu tiện không thuận lợi và tiểu tiện khó khăn, tiểu tiện khó khăn thường thuộc khí uất huyết hư, sinh nhiệt hoá táo, có thể dùng Đương quy Bối mẫu Khổ sâm hoàn, hoà huyết giải uất, thanh nhiệt nhuận táo. Tiểu tiện không thuận lợi thường do khí hoá bị trở ngại, có thể dùng Quỳ tử Phục linh tán, hoá khí thông lạc lợi thuỷ, khi thuỷ có đường ra thì thuỷ khí sẽ tự tiêu. Phụ nữ dưỡng thai, nếu can huyết hư thiểu và tỳ kinh thấp nhiệt thì có thể dùng Đương quy tán, dưỡng huyết kiện tỳ, thanh hoá thấp nhiệt. Nếu can huyết sáp thiểu, tỳ kinh hàn thấp, thì có thể dùng Bạch truật tán, có công dụng ấm áp can tỳ, trừ thấp an thai. Đại pháp dưỡng thai cần chú trọng điều chỉnh hai tạng can và tỳ. Vì tạng can chủ về trữ tàng huyết dịch, mà huyết sung túc thì có thể dưỡng thai, tạng tỳ chủ về hoá sinh khí huyết, tạng tỳ kiện vượng thì nguồn khí huyết sẽ sung túc, và từ đó sẽ đạt được mục đích của dưỡng thai và an thai. |