Bàn về thủy bệnh, nhiệt bệnh và các huyệt dùng để trị
Đoạn 1
《水热穴论》
黄帝问曰:少阴何以主肾,肾何以主水。歧伯对曰:肾者,至阴也,至阴者,盛水也。肺者,太阴也,少阴者,冬脉也,故其本在肾,其末在肺,皆积水也。帝曰:肾何以能聚水而生病。歧伯曰:肾者,胃之关也,关门不利,故聚水而从其类也,上下溢于皮肤,故为胕肿,胕肿者,聚水而生病也。
Hán Việt
Thủy Nhiệt Huyệt luận.
Hoàng Đế vấn viết: Thiếu âm hà dĩ chủ Thận, Thận hà dĩ chủ thủy?
Kỳ Bá đối viết: Thận giả, chí âm dã; chí âm giả, thịnh thủy dã. Phế giả, Thái âm dã; Thiếu âm giả, đông mạch dã. Cố kỳ bản tại Thận, kỳ mạt tại Phế, giai tích thủy dã.
Đế viết: Thận hà dĩ năng tụ thủy nhi sinh bệnh?
Kỳ Bá viết: Thận giả, Vị chi quan dã. Quan môn bất lợi, cố tụ thủy nhi tòng kỳ loại dã. Thượng hạ dật vu bì phu, cố vi phù thũng. Phù thũng giả, tụ thủy nhi sinh bệnh dã.
Dịch nghĩa
Thủy Nhiệt Huyệt luận.
Hoàng Đế hỏi:
Vì sao Thiếu âm chủ Thận? Vì sao Thận chủ thủy?
Kỳ Bá đáp:
Thận là chí âm. Chí âm là nơi thủy thịnh. Phế là Thái âm; Thiếu âm là mạch của mùa đông. Cho nên gốc của thủy ở Thận, ngọn của thủy ở Phế; cả hai đều có thể tích thủy.
Hoàng Đế hỏi:
Vì sao Thận có thể tụ thủy mà sinh bệnh?
Kỳ Bá nói:
Thận là cửa quan của Vị. Nếu cửa quan không thông lợi, thì thủy tụ lại, theo loại của nó mà lan ra. Thủy tràn lên xuống vào da thịt, cho nên thành phù thũng. Phù thũng là do thủy tụ mà sinh bệnh.
Giải thích từ ngữ
Thiếu âm (少阴): ở đây chủ Thận, là kinh khí thuộc âm sâu, ứng mùa đông.
Chí âm (至阴): âm đến mức cùng cực, nơi thủy khí thịnh.
Thận chủ thủy (肾主水): Thận quản thủy dịch, khí hóa, đóng mở hạ tiêu; khi Thận khí không lợi thì thủy tụ.
Phế là Thái âm (肺者,太阴也): Phế chủ khí, thông điều thủy đạo, là phần trên của thủy dịch.
Bản tại Thận, mạt tại Phế (本在肾,末在肺): gốc ở Thận, ngọn ở Phế; thủy bệnh thường liên hệ cả Phế và Thận.
Thận giả Vị chi quan (肾者,胃之关): Thận như cửa quan giúp thủy cốc sau khi vào Vị được khí hóa, phân biệt thanh trọc, đưa thủy đi đúng đường.
Quan môn bất lợi (关门不利): cửa khí hóa không thông, thủy không bài xuất, không vận hành.
Phù thũng (胕肿): sưng phù do thủy dịch ứ lại dưới da.
Đoạn 2
帝曰:诸水皆生于肾乎。歧伯曰:肾者,牝藏也,地气上者属于肾,而生水液也,故曰至阴。勇而劳甚则肾汗出,肾汗出逢于风,内不得入于藏府,外不得越于皮肤,客于玄府,行于皮里,传为胕肿,本之于肾,名曰风水。所谓玄府者,汗空也。
Hán Việt
Đế viết: Chư thủy giai sinh vu Thận hồ?
Kỳ Bá viết: Thận giả, tẫn tạng dã. Địa khí thượng giả thuộc vu Thận, nhi sinh thủy dịch dã, cố viết chí âm.
Dũng nhi lao thậm tắc Thận hãn xuất. Thận hãn xuất phùng vu phong, nội bất đắc nhập vu tạng phủ, ngoại bất đắc việt vu bì phu, khách vu huyền phủ, hành vu bì lý, truyền vi phù thũng. Bản chi vu Thận, danh viết phong thủy.
Sở vị huyền phủ giả, hãn không dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Các chứng thủy đều sinh từ Thận chăng?
Kỳ Bá nói:
Thận là tạng thuộc âm nhu. Địa khí đi lên thì thuộc về Thận, mà sinh ra thủy dịch, cho nên gọi là chí âm.
Người mạnh mẽ mà lao lực quá mức thì Thận hãn xuất ra. Thận hãn đã ra mà gặp phong, bên trong không vào được tạng phủ, bên ngoài không vượt ra được da, bèn trú ở huyền phủ, đi ở trong lớp da, truyền thành phù thũng. Bệnh có gốc ở Thận, gọi là phong thủy.
Điều gọi là huyền phủ, chính là lỗ mồ hôi.
Giải thích từ ngữ
Tẫn tạng (牝藏): tạng thuộc âm, có tính chứa, nhận, sinh thủy dịch.
Địa khí thượng (地气上): khí của đất đi lên, tượng trưng thủy âm, âm khí, tân dịch.
Thận hãn (肾汗): mồ hôi liên hệ Thận khí bị hao động do lao lực quá mức; không nên hiểu đơn thuần là mồ hôi từ Thận theo nghĩa giải phẫu hiện đại.
Phong thủy (风水): thủy thũng do phong và thủy kết hợp; gốc ở Thận, biểu hiện ở da.
Huyền phủ (玄府): lỗ mồ hôi, cửa nhỏ rất tinh vi của da, nơi khí và tân dịch ra vào.
Nội bất đắc nhập, ngoại bất đắc việt (内不得入,外不得越): bên trong không vào tạng phủ, bên ngoài không thoát qua da, nên tà thủy mắc kẹt ở giữa da thịt.
Đoạn 3
帝曰:水俞五十七处者,是何主也。歧伯曰:肾俞五十七穴,积阴之所聚也,水所从出入也。尻上五行行五者,此肾俞。故水病,下为胕肿大腹,上为喘呼,不得卧者,标本俱病,故肺为喘呼,肾为水肿,肺为逆不得卧,分为相输俱受者,水气之所留也。伏菟上各二行行五者,此肾之街也。三阴之所交结于脚也。踝上各一行行六者,此肾脉之下行也,名曰太冲。凡五十七穴者,皆藏之阴络,水之所客也。
Hán Việt
Đế viết: Thủy du ngũ thập thất xứ giả, thị hà chủ dã?
Kỳ Bá viết: Thận du ngũ thập thất huyệt, tích âm chi sở tụ dã, thủy sở tòng xuất nhập dã. Khảo thượng ngũ hàng, hàng ngũ giả, thử Thận du.
Cố thủy bệnh, hạ vi phù thũng đại phúc, thượng vi suyễn hô. Bất đắc ngọa giả, tiêu bản câu bệnh. Cố Phế vi suyễn hô, Thận vi thủy thũng, Phế vi nghịch bất đắc ngọa. Phân vi tương du câu thụ giả, thủy khí chi sở lưu dã.
Phục thố thượng các nhị hàng, hàng ngũ giả, thử Thận chi nhai dã. Tam âm chi sở giao kết vu cước dã.
Khỏa thượng các nhất hàng, hàng lục giả, thử Thận mạch chi hạ hành dã, danh viết Thái xung.
Phàm ngũ thập thất huyệt giả, giai tạng chi âm lạc, thủy chi sở khách dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Năm mươi bảy nơi thủy du chủ về điều gì?
Kỳ Bá nói:
Năm mươi bảy huyệt Thận du là nơi âm tích tụ, là chỗ thủy ra vào. Trên xương cùng có năm hàng, mỗi hàng năm huyệt, đó là Thận du.
Cho nên thủy bệnh, ở dưới thì thành phù thũng, bụng to; ở trên thì thành thở suyễn. Người bệnh không nằm được là do cả tiêu và bản đều bệnh. Vì vậy, Phế làm thành suyễn thở; Thận làm thành thủy thũng; Phế khí nghịch thì không nằm được. Các phần cùng truyền cho nhau, cùng chịu bệnh, đều là nơi thủy khí lưu lại.
Trên Phục thố, mỗi bên có hai hàng, mỗi hàng năm huyệt, đó là đường nhai của Thận, là nơi ba kinh âm giao kết ở chân.
Trên mắt cá, mỗi bên một hàng, mỗi hàng sáu huyệt, đó là đường Thận mạch đi xuống, gọi là Thái xung.
Phàm năm mươi bảy huyệt ấy đều là âm lạc của tạng, là nơi thủy khí trú lại.
Giải thích từ ngữ
Thủy du (水俞): nhóm huyệt trị thủy bệnh, phù thũng, thủy khí đình trệ.
Thận du ngũ thập thất huyệt (肾俞五十七穴): năm mươi bảy huyệt thuộc hệ trị Thận thủy trong văn cổ, không chỉ là một huyệt Thận du hiện nay.
Tích âm (积阴): âm khí, thủy khí tích tụ.
Tiêu bản câu bệnh (标本俱病): cả ngọn và gốc cùng bệnh. Ở đây gốc là Thận thủy, ngọn là Phế khí.
Phế vi suyễn hô, Thận vi thủy thũng (肺为喘呼,肾为水肿): Phế chủ khí, thủy nghịch lên thì suyễn; Thận chủ thủy, khí hóa không lợi thì phù thũng.
Phục thố (伏菟): vùng trước đùi.
Thận chi nhai (肾之街): đường lớn, nơi khí Thận đi qua và giao hội.
Tam âm giao kết vu cước (三阴交结于脚): ba kinh âm ở chân giao kết, gồm Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm.
Thái xung (太冲): ở đây là tên chỉ đường khí Thận mạch đi xuống, không nên đồng nhất máy móc với huyệt Thái xung của kinh Can hiện nay.
Âm lạc của tạng (藏之阴络): lạc mạch thuộc âm phần, nơi thủy khí dễ lưu trú.
Đoạn 4
帝曰:春取络脉分肉,何也。歧伯曰:春者,木始治,肝气始生,肝气急,其风疾,经脉常深,其气少,不能深入,故取络脉分肉间。帝曰:夏取盛经分腠,何也。歧伯曰:夏者,火始治,心气始长,脉瘦气弱,阳气留溢,热熏分腠,内至于经,故取盛经分腠绝肤而病去者,邪居浅也,所谓盛经者,阳脉也。帝曰:秋取经俞,何也。歧伯曰:秋者,金始治,肺将收杀,金将胜火,阳气在合,阴气初胜,湿气及体,阴气未盛,未能深入,故取俞以写阴邪,取合以虚阳邪,阳气始衰,故取于合。帝曰:冬取井荣,何也。歧伯曰:冬者,水始治,肾方闭,阳气衰少,阴气坚盛,巨阳伏沈,阳脉乃去,故取井以下阴逆,取荣以实阳气。故曰:冬取井荣,春不鼽衄,此之谓也。
Hán Việt
Đế viết: Xuân thủ lạc mạch phân nhục, hà dã?
Kỳ Bá viết: Xuân giả, Mộc thủy trị, Can khí thủy sinh, Can khí cấp, kỳ phong tật, kinh mạch thường thâm, kỳ khí thiểu, bất năng thâm nhập, cố thủ lạc mạch phân nhục gian.
Đế viết: Hạ thủ thịnh kinh phân tấu, hà dã?
Kỳ Bá viết: Hạ giả, Hỏa thủy trị, Tâm khí thủy trưởng, mạch sấu khí nhược, dương khí lưu dật, nhiệt huân phân tấu, nội chí vu kinh, cố thủ thịnh kinh phân tấu, tuyệt phu nhi bệnh khứ giả, tà cư thiển dã. Sở vị thịnh kinh giả, dương mạch dã.
Đế viết: Thu thủ kinh du, hà dã?
Kỳ Bá viết: Thu giả, Kim thủy trị, Phế tương thu sát, Kim tương thắng Hỏa, dương khí tại hợp, âm khí sơ thắng, thấp khí cập thể, âm khí vị thịnh, vị năng thâm nhập, cố thủ du dĩ tả âm tà, thủ hợp dĩ hư dương tà. Dương khí thủy suy, cố thủ vu hợp.
Đế viết: Đông thủ tỉnh vinh, hà dã?
Kỳ Bá viết: Đông giả, Thủy thủy trị, Thận phương bế, dương khí suy thiểu, âm khí kiên thịnh, Cự dương phục trầm, dương mạch nãi khứ, cố thủ tỉnh dĩ hạ âm nghịch, thủ vinh dĩ thực dương khí. Cố viết: đông thủ tỉnh vinh, xuân bất cừu nục, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Mùa xuân lấy lạc mạch và khoảng phân nhục là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Mùa xuân là lúc Mộc bắt đầu làm chủ, Can khí bắt đầu sinh. Can khí gấp, phong của nó đi nhanh. Kinh mạch thường ở sâu, nhưng khí lúc ấy còn ít, không thể vào sâu, cho nên lấy lạc mạch và khoảng phân nhục.
Hoàng Đế hỏi:
Mùa hạ lấy thịnh kinh và phân tấu là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Mùa hạ là lúc Hỏa bắt đầu làm chủ, Tâm khí bắt đầu trưởng. Mạch nhỏ, khí yếu; dương khí lưu lại và tràn ra, nhiệt hun ở phân tấu, bên trong đến kinh. Cho nên lấy thịnh kinh và phân tấu, xuyên qua da mà bệnh đi, vì tà còn ở nông. Điều gọi là thịnh kinh tức là dương mạch.
Hoàng Đế hỏi:
Mùa thu lấy kinh du là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Mùa thu là lúc Kim bắt đầu làm chủ, Phế sắp thu liễm và tiêu sát, Kim sắp thắng Hỏa. Dương khí ở huyệt hợp, âm khí mới bắt đầu thắng, thấp khí phạm thân, nhưng âm khí chưa thịnh, chưa thể vào sâu. Cho nên lấy du huyệt để tả âm tà, lấy hợp huyệt để làm hư dương tà. Dương khí bắt đầu suy, nên lấy ở hợp.
Hoàng Đế hỏi:
Mùa đông lấy tỉnh và vinh là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Mùa đông là lúc Thủy bắt đầu làm chủ, Thận đang đóng kín. Dương khí suy ít, âm khí cứng thịnh. Cự dương ẩn phục và trầm xuống, dương mạch lui đi. Cho nên lấy tỉnh huyệt để hạ âm nghịch, lấy vinh huyệt để làm đầy dương khí.
Vì vậy nói: mùa đông lấy tỉnh và vinh, thì mùa xuân không bị chảy nước mũi trong và chảy máu cam. Chính là nghĩa này.
Giải thích từ ngữ
Xuân thủ lạc mạch phân nhục (春取络脉分肉): mùa xuân tà khí còn ở lạc và phân nhục, nên trị tầng nông.
Mộc thủy trị (木始治): Mộc khí bắt đầu chủ lệnh, ứng Can.
Can khí cấp, kỳ phong tật (肝气急,其风疾): Can khí có tính cấp, phong đi nhanh.
Thịnh kinh (盛经): kinh khí thịnh, ở đây chỉ dương mạch.
Phân tấu (分腠): khe thớ giữa da thịt, nơi khí ra vào.
Thu thủ kinh du (秋取经俞): mùa thu lấy kinh du để tả tà, vì khí thu thu liễm, tà bắt đầu vào sâu hơn.
Hợp (合): hợp huyệt, nơi kinh khí đi vào sâu, thường dùng khi khí bệnh vào trong.
Đông thủ tỉnh vinh (冬取井荣): mùa đông lấy tỉnh huyệt và vinh huyệt để điều âm nghịch, trợ dương khí.
Tỉnh (井): huyệt đầu mút của kinh khí, nơi khí bắt đầu phát.
Vinh (荣): huyệt dòng suối, nơi khí bắt đầu chảy mạnh hơn.
Cừu nục (鼽衄): chảy nước mũi trong và chảy máu cam.
Đoạn 5
帝曰:夫子言治热病五十九俞,余论其意,未能领别其处,愿闻其处,因闻其意。歧伯曰:头上五行行五者,以越诸阳之热逆也。大杼膺俞缺盆背俞此八者,以写胸中之热也。气街三里巨虚上下廉此八者,以写胃中之热也。云门髃骨委中髓空此八者,以写四支之热也。五藏俞傍五此十者,以写五藏之热也。凡此五十九穴者,皆热之左右也。帝曰:人伤于寒而传为热,何也。歧伯曰:夫寒盛,则生热也。
Hán Việt
Đế viết: Phu tử ngôn trị nhiệt bệnh ngũ thập cửu du, dư luận kỳ ý, vị năng lĩnh biệt kỳ xứ, nguyện văn kỳ xứ, nhân văn kỳ ý.
Kỳ Bá viết: Đầu thượng ngũ hàng, hàng ngũ giả, dĩ việt chư dương chi nhiệt nghịch dã. Đại trữ, ưng du, Khuyết bồn, bối du, thử bát giả, dĩ tả hung trung chi nhiệt dã. Khí nhai, Tam lý, Cự hư, thượng hạ liêm, thử bát giả, dĩ tả Vị trung chi nhiệt dã. Vân môn, Ngung cốt, Ủy trung, Tủy không, thử bát giả, dĩ tả tứ chi chi nhiệt dã. Ngũ tạng du bàng ngũ, thử thập giả, dĩ tả ngũ tạng chi nhiệt dã. Phàm thử ngũ thập cửu huyệt giả, giai nhiệt chi tả hữu dã.
Đế viết: Nhân thương vu hàn nhi truyền vi nhiệt, hà dã?
Kỳ Bá viết: Phù hàn thịnh, tắc sinh nhiệt dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Phu tử đã nói năm mươi chín du huyệt dùng trị nhiệt bệnh. Ta xét ý ấy nhưng chưa thể lãnh hội và phân biệt rõ vị trí của chúng. Xin được nghe vị trí ấy, đồng thời nghe ý nghĩa của chúng.
Kỳ Bá nói:
Trên đầu có năm hàng, mỗi hàng năm huyệt, dùng để vượt tán nhiệt nghịch của các dương.
Đại trữ, ưng du, Khuyết bồn, bối du, tám huyệt này dùng để tả nhiệt trong ngực.
Khí nhai, Tam lý, Cự hư, thượng liêm, hạ liêm, tám huyệt này dùng để tả nhiệt trong Vị.
Vân môn, Ngung cốt, Ủy trung, Tủy không, tám huyệt này dùng để tả nhiệt ở bốn chi.
Năm tạng du, hai bên mỗi tạng, cộng mười huyệt, dùng để tả nhiệt của năm tạng.
Phàm năm mươi chín huyệt ấy đều là những nơi hai bên dùng trị nhiệt.
Hoàng Đế hỏi:
Người bị hàn làm thương mà truyền thành nhiệt là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Hàn thịnh thì sinh nhiệt.
Giải thích từ ngữ
Nhiệt bệnh ngũ thập cửu du (热病五十九俞): năm mươi chín huyệt dùng trị nhiệt bệnh trong hệ thống Nội Kinh.
Việt chư dương chi nhiệt nghịch (越诸阳之热逆): làm cho nhiệt nghịch ở các kinh dương vượt ra, tản đi.
Đại trữ (大杼): huyệt vùng lưng trên, liên hệ xương, khí dương.
Ưng du (膺俞): huyệt vùng ngực trước.
Khuyết bồn (缺盆): hõm trên xương đòn, nơi khí của ngực cổ qua lại.
Bối du (背俞): các huyệt du ở lưng.
Khí nhai (气街): vùng bẹn, nơi khí huyết hạ chi hội.
Tam lý (三里): Túc Tam lý, huyệt quan trọng của Dương minh Vị.
Cự hư, thượng hạ liêm (巨虚、上下廉): các huyệt vùng cẳng chân thuộc hệ Dương minh, dùng trị Vị, trường phủ và nhiệt.
Vân môn (云门): huyệt vùng ngực vai, thuộc Phế.
Ngung cốt (髃骨): vùng xương vai, huyệt vùng vai.
Ủy trung (委中): huyệt khoeo chân, thường dùng tiết nhiệt, thông lưng chân.
Tủy không (髓空): chỗ rỗng liên hệ tủy, dùng trong hệ thống trị nhiệt ở chi thể.
Hàn thịnh tắc sinh nhiệt (寒盛则生热): hàn tà thịnh, bế uất khí dương, lâu ngày hóa nhiệt; hoặc hàn cực sinh nhiệt theo lý âm dương chuyển hóa.
Nhận xét chung
Thiên Thủy Nhiệt Huyệt luận bàn hai vấn đề lớn: thủy bệnh và nhiệt bệnh. Phần đầu lấy Thận làm gốc của thủy, Phế làm ngọn của thủy; phần sau bàn cách lấy huyệt theo bốn mùa và năm mươi chín huyệt trị nhiệt. Đây là một thiên rất quan trọng để hiểu thủy thũng, phong thủy, Phế Thận tương quan và nguyên tắc chọn huyệt theo thời khí.
Điểm đầu tiên là Thận chủ thủy vì Thận là chí âm, nơi thủy khí thịnh. Nhưng thủy bệnh không chỉ ở Thận. Phế là Thái âm, thông điều thủy đạo ở trên; Thận là Thiếu âm, gốc thủy ở dưới. Vì vậy thủy bệnh có gốc ở Thận, ngọn ở Phế. Thận khí không mở được cửa quan của Vị thì thủy tụ; thủy tràn lên xuống vào da thì phù thũng. Nếu thủy lên Phế thì suyễn, không nằm được.
Điểm thứ hai là phong thủy được giải thích rất hay. Người mạnh mà lao lực quá mức, Thận hãn xuất; mồ hôi ấy gặp phong, trong không vào tạng phủ, ngoài không thoát qua da, mắc ở huyền phủ và đi trong lớp da, cuối cùng thành phù thũng. Vì vậy phong thủy có gốc ở Thận, nhưng biểu hiện ở da và huyền phủ. Cách giải thích này nối liền lao lực, mồ hôi, phong tà, lỗ mồ hôi và thủy thũng.
Điểm thứ ba là năm mươi bảy thủy du đều là nơi thủy ra vào, âm khí tụ lại. Khi thủy bệnh ở dưới thì phù thũng, bụng to; ở trên thì suyễn hô. Nếu không nằm được là tiêu bản cùng bệnh: Phế nghịch ở trên, Thận thủy ở dưới. Do đó trị thủy không thể chỉ lợi tiểu, mà phải xét Phế khí có giáng không, Thận khí có hóa không, thủy khí lưu ở đâu.
Điểm thứ tư là cách chọn huyệt theo bốn mùa. Mùa xuân Can Mộc mới sinh, phong đi nhanh nhưng khí còn ít, nên lấy lạc mạch và phân nhục. Mùa hạ Hỏa chủ, nhiệt ở nông, dương mạch thịnh, nên lấy thịnh kinh và phân tấu. Mùa thu Kim chủ, âm khí bắt đầu thắng, dương khí ở hợp, nên lấy du để tả âm tà, lấy hợp để hư dương tà. Mùa đông Thủy chủ, Thận đóng, dương suy, âm thịnh, nên lấy tỉnh để hạ âm nghịch, lấy vinh để thực dương khí. Đây là phép châm thuận thời khí.
Điểm thứ năm là năm mươi chín huyệt trị nhiệt được chia theo nơi nhiệt ở. Nhiệt nghịch các dương thì lấy các huyệt trên đầu. Nhiệt ở ngực thì lấy Đại trữ, ưng du, Khuyết bồn, bối du. Nhiệt ở Vị thì lấy Khí nhai, Tam lý, Cự hư, thượng hạ liêm. Nhiệt ở bốn chi thì lấy Vân môn, Ngung cốt, Ủy trung, Tủy không. Nhiệt ở năm tạng thì lấy các tạng du hai bên. Như vậy nhiệt bệnh cũng phải phân vùng, không phải thấy sốt là trị một phép.
Tóm lại, Thủy Nhiệt Huyệt luận dạy rằng thủy và nhiệt đều phải xét gốc ngọn, nông sâu, mùa khí và kinh huyệt. Thủy có gốc ở Thận, ngọn ở Phế, cửa ở Vị, biểu hiện ở da. Nhiệt có thể ở dương, ở ngực, ở Vị, ở tứ chi, ở năm tạng. Chọn huyệt phải thuận xuân hạ thu đông, thuận lạc, kinh, du, hợp, tỉnh, vinh. Đây là tinh thần rất tinh tế của Nội Kinh: trị bệnh không rời khí hóa của tạng phủ, cũng không rời thời khí của trời đất.