| 19 Phu quyết thủ chỉ tí thũng chuyển cân âm hồ sán hồi trùng bệnh Mạch chứng trị
Khái thuyết Trong thiên này chính là trình bày biện chứng luận trị các chứng như phu quyết (趺蹶) là bệnh Parkinson, thủ chỉ tí thũng (手指臂肿) là hội chứng ống cổ tay, chuyển cân (转筋) là chứng chuột rút, âm hồ sán (阴狐疝) là chứng thoát vị bẹn, và bệnh giun đũa. Trong thiên có 8 điều văn, 5 phương. Trong đó từ điều 1 đến điều 4 thảo luận hội chứng và phương dược của các bệnh như phu quyết (Parkinson), thủ chỉ tí thũng (hội chứng đường hầm cổ tay, chuyển cân (chuột rút) và âm hồ sán (thoát vị bẹn). Từ điều 5 đến điều 8 chính là thảo luận về mạch chứng, cơ chế phát bệnh và phương pháp trị liệu của bệnh hồi trùng (bệnh giun đũa). Trọng điểm của thiên này là bệnh hồi trùng (bệnh giun đũa), các chứng khác thì khá sơ lược , mà 5 loại bệnh này, đều có liên hệ với bệnh biến của quyết âm can kinh, vì thế nên được hợp chung trong 1 thiên để thảo luận. “Phu quyết” (趺蹶) và tên “Phu quyết” tựa như nói về bàn chân bị thương nên người bệnh chỉ có thể tiến về phía trước mà không thể lùi lại. “Thủ chỉ tí thũng” (手指臂肿), là chỉ về hội chứng ngón tay và cánh tay phù thũng và run. “Chuyển cân” (转筋) là chỉ tình trạng cánh tay, chân bị cứng không thể co duỗi (chuột rút). “Âm hồ”, là chỉ về âm nang lớn nhỏ chênh lệch, lúc ở trên, lúc ở dưới, hoặc đau trướng, hoặc có cảm giác nặng đì. Hồi quyết, là do tạng hàn, Hồi (Giun) động không yên, nhiễu loạn lên ngực và hoành cách, xuất hiện các chứng trạng như khó chịu bất an, nôn ra giun, bụng đau kịch liệt, ẩu thổ đàm bọt, chân tay lạnh.
1/ 师曰:病趺蹶,其人但能前,不能却,刺腨入二寸,此太阳经伤也。 【Từ giải】 Phu quyết (趺蹶) Phu là mu bàn chân, quyết là ngã từ trên cao, ngã lăn ra, là trắc trở, chứng phu quyết là bệnh chứng do té ngã, gây tổn thương cân mạch của kinh Túc thái dương mà thành bệnh. Soan (腨) đề cập đến cơ bắp chân. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày nguyên nhân, chứng trạng và trị pháp của bệnh “Phu quyết” (Parkinson?). Thày viết: Bệnh phu quyết khiến bệnh nhân chỉ có thể đi lên phía trước mà không thể lùi lại. Kinh lạc trên cơ thể, dương minh tuần hành ở phía trước, thái dương tuần hành ở phía sau, nay vì “Quyết” mà tổn thương khí của kinh Thái dương, vì thế xuất hiện bệnh biến chỉ có thể tiến về phía trước mà không thể lùi về phía sau. Trị pháp dùng kim châm bắp chân, sâu 2 thốn, thì có thể khỏi. Vì kinh Thái dương thông xuống phía trong bắp chân, mà bắp chân lại là nơi giao nhau của hai kinh Thái dương và Dương minh. Vì thế khi châm vào bắp chân sẽ có tác dụng điều hoà khí huyết của cả hai kinh. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》,“ Trên cơ thể mạch lạc của kinh dương minh ở phía trước, mạch lạc của kinh Thái dương ở phía sau, vì Dương minh khí vượng không bị bệnh, nên có thể tiến về phía trước, thái dương khí vượng không bị bệnh, nên có thể di chuyển về phía sau, đến nay, sau khi té ngã đã không còn như bình thường, chỉ có thể tiến mà không thể lùi, cần phải châm vào bắp chân sâu 2 thốn. Vì bụng chân, là nơi mạch Thái dương đi qua, tà tụ tại mạch thái dương giưa hai huyệt Hợp dương và Thừa cân, vì thế cần phải tả châm để khứ tà, cũng có tác dụng trị tổn thương ở kinh Thái dương. Nhưng kinh Thái kinh quá nhiều, nên cần châm bụng chân, mà bụng chân cũng là bắp chân dưới, căn bản thuộc kinh Dương minh, mạch Thái dương đi qua đây, khi châm thì khí của hai kinh Thái dương và Dương minh tương thông và (tiến) trước (lùi) sau sẽ được như ý.
2.病人常以手指臂肿动,此人身体𥆧𥆧者,藜芦甘草汤主之 2/Bệnh nhân thường dĩ thủ chỉ tí thũng động, thử nhân thân thể nhuận nhuận (co giật) giả, lê lô cam thảo thang chủ chi. Chưa thấy phương 【Giải thích】 Điều văn này trình bày phong đàm cản trở lạc mạch mà thành chứng ngón tay cánh tay sưng thũng run rẩy. Bệnh này vì đàm thấp ngưng trệ trong khớp nên sưng thũng, phong tà xâm nhập gây tổn thương kinh lạc khiến các ngón tay và cánh tay run rẩy. Khi phong đàm cản trở kinh lạc thì dương khí trỗi dậy trừ khứ bệnh tà, phong đàm muốn khứ mà không khứ được, vì thế thân thể bệnh luôn rung động co giật. Điều trị dùng thang Lê lô Cam thảo. Phương dược dù đã thất tán, nhưng người viết đoán đây là thang tễ có tác dụng gây ẩu thổ, chính là “Nhân thế lợi đạo” (因势利导) trị pháp lợi dụng hoàn cảnh để trừ khử phong đàm trên hoành cách. Vị Lê lô dũng thổ phong đàm, nâng dương khí, Cam thảo có thể giải độc của Lê lô và hoà trung dưỡng vị. Phương này khiến phong đàm được tiêu trừ, khí cơ của phế tạng thông sướng, thì các chứng có thể lành. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú》,“ Thấp đàm ngưng trệ trong khớp thì gây phù thũng, phong tà xâm phạm kinh lạc thì ngón tay, cánh tay run rẩy, co giật, thân thể co giật là phong đàm ở hoành cách công phá khắp chi thể; Trần Vô Trạch gọi là đàm dãi lưu tại trên và dưới lồng ngực hoành cách, biến hoá sinh ra các bệnh, tay chân cổ lưng đau như bị co kéo, đi lại thường không ổn định. Vị Lê lô thổ đàm trên hoành cách, Cam thảo cũng có thể gây ẩu thổ, dù chưa thấy phương, nhưng đại lược thì đây là thang tễ dũng (thổ mạnh) vậy.
3. 转筋之为病,其人臂脚直,脉上下行,微弦,转筋入腹者,鸡屎白散主 之。 3/Chuyển cân chi vi bệnh, kỳ nhân tí cước trực, mạch thượng hạ hành, vi huyền. Chuyển cân nhập phúc giả, kê thỉ bạch tán chủ chi. Kê thỉ bạch tán phương: Kê thỉ bạch (phân gà màu trắng) tán bột pha 1 phương thốn chủy với 6 hợp nước uống ấm. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày hội chứng và trị pháp của chứng chuyển cân (chuột rút). Vì thấp trọc hoá nhiệt động phong, nhiệt khiến âm huyết bị tổn thương, gân mạch không được nuôi dưỡng, co cứng và tê, vì thế tay chân người bệnh bị tê cứng, mạch thì thẳng lên và xuống, hơi huyền. Nếu chứng chuyển cân nặng thì đau không chịu nổi và lan lên bụng dưới, cơn đau lan từ hai chân lên bụng dưới và đau kịch liệt, đây là bệnh tà của tạng can trực tiếp tấn công tạng tỳ. Điều trị dùng Kê thỉ bạch tán, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp khứ phong. Trong phương có Kê thỉ bạch khổ hàn tiết nhiệt, lợi tiểu tiện, lợi thấp khứ phong, khiến tà khí theo xuống dưới mà bị trừ khứ, nên kinh lạc khí huyết thông sướng, cân mạch được nhuận hoạt và chứng chuyển cân tự khỏi. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển:“ Tạng can chủ gân, bên trên ứng với phong khí; Bệnh ở tạng can sinh phong, là chứng chuyển cân (chuột rút), người bệnh cánh tay và chân bị tê cứng, mạch đi lên xuống dưới và hơi huyền. Kinh viết: Các chứng tê cứng mạnh (cường trực) đều thuộc về phong. Chứng chuyển cân lan vào bụng là tỳ thổ hư và can mộc thừa tỳ, Kê thuộc mộc, mà thỉ (phân gà) lại lợi tỳ khí, vì thế có tác dụng trị bệnh; Cùng loại tìm nhau, nên càng dễ xâm nhập.
4.阴狐疝气者,偏有小大,时时上下,蜘蛛散主之。 4/ Âm hồ sán khí giả, thiên hữu tiểu đại, thời thời thượng hạ, tri thù tán chủ chi. Tri thù tán phương Tri thù 14 con (sao vàng), quế chi 0,5 lạng. Tán bột mỗi lần uống 8 phân 1 chủy ngày 2 lần, hoà nước uống. Có thể làm mật hoàn uống. 【Giải thích】 Đoạn văn trình bày hội chứng và trị pháp của chứng âm hồ sán khí. Chứng âm hồ sán khí, là do phong hàn xâm phạm kinh quyết âm can gây ra, vì thế dịch hoàn hoặc thiên về trái hoặc thiên về phải mà có lớn có nhỏ, khi phát bệnh thì nặng đì, bệnh ngừng thì thu lên, vì thế bệnh khi phát khi ngừng thì có biến hoá lên hoặc xuống. Nếu chứng này nặng thì âm nang co kéo bụng dưới gây đau kịch liệt. Điều trị dùng Tri thù tán, ôn tán phong hàn, thông lợi khí huyết, nhanh chóng phá kết thông lợi, khứ phong hạ khí, tiêu tán bệnh tà ở kinh can, Quế chi tân ôn, làm ấm hàn tà ở kinh Quyết âm, phong hàn tiêu tán thì kinh mạch thuận lợi thông sướng, có thể giải trừ các chứng. Dưới phương có ghi chú: “Mật hoàn diệc khả” (cũng có thể dùng mật làm hoàn), là có ý là bệnh cấp bách thì dùng thuốc tán, hoà hoãn thì có thể dùng viên hoàn mật. 【Tuyển Chú】 《Y Tôn Kim Giám》:“ Thiên lệch có lớn nhỏ, gọi là dịch hoàn trái phải cũng có lớn nhỏ. Khi lên khi xuống, gọi là dịch hoàn nhập vào bụng, khi nhập khi xuất. Sán là bệnh của kinh Quyết âm. Chủ trị dùng Tri thù tán, nhập can để trị chứng đau co thắt ở bụng dưới. 【Bệnh án】 Bành Thái, nam, 8 tuổi. Kể rằng: Đã bị thoát vị trong sáu năm. Bìu to như một quả trứng nhỏ, không có màu đỏ, có khi sưng sang trái, có khi sang phải, ban đêm khi trẻ nằm xuống thì vật sưng thũng ở bụng dưới bụng dưới. Ban ngày khi hoạt động thì vật sưng thũng nhập vào âm nang và có cảm giác đau nhức, mấy năm nay đà dùng các thuốc chữa thoát vị như sơ can giải uất, lợi khí giảm đau…Nhưng khối vật vẫn xuất hiện như cũ, chưa thấy hiệu quả. Bệnh nhi có tố chất khoẻ mạnh, ăn uống và đại tiểu tiện bình thường, không bị trở ngại, rêu lưỡi không vàng, chất lưỡi không hồng, mạch tượng huyền hoãn
Chẩn đoán: Thoát vị âm hồ sán do hàn khí ngưng tụ trong kinh can. Nguyên tắc điều trị: Tân ôn thông lợi, phá kết giảm đau. Phương dược: Nguyên phương Tri thù tán trong《Kim Quỹ Yếu Lược 》 Nhện đen to (nên chọn nhện đen to có mạng lưới rộng ở mái hiên, mỗi con to cỡ ngón tay cái, bỏ đầu và chân, nếu lạm dụng nhện hoa có thể bị trúng độc) sáu con, đặt chúng trên một viên gạch từ tính và nướng đến khi thành màu vàng và khô, 12g Quế chi. Hai vị trên dùng chung làm bột, mỗi ngày lấy 4g hòa với một cốc nước nhỏ và rượu uống trong bảy ngày. Tác dụng: Sau khi dùng thuốc, cơn đau thuyên giảm, tình trạng sưng tấy và đau đớn biến mất sau bảy ngày. Thoát vị bẹn đã khỏi hoàn toàn sau một năm theo dõi. (Trích từ “Tạp chí Trường Cao đẳng Y học Cổ truyền Trung Quốc Thành Đô” 2:18, 1981)
5.问曰:病腹痛有虫,其脉何以别之?师曰:腹中痛,其脉当沉,若弦反洪 大,故有蚘虫。 5/Vấn viết: Bệnh phúc thống hữu trùng, kỳ mạch hà dĩ biệt chi? Sư viết: Phúc trung thống, kỳ mạch đáng trầm nhược huyền, phản hồng đại (lớn), cố hữu hồi trùng. 【Giải thích】 Đoạn văn này sử dụng thủ pháp so sánh chủ khách để trình bày đặc điểm mạch chứng của bệnh đau bụng do giun đũa. Hỏi viết: Bệnh đau bụng có giun, mạch có gì để phân biệt? Đáp viết: Đau bụng mà do hàn tà xâm phạm tỳ khí gây ra thì có mạch tượng trầm hoặc mạch huyền; Nếu đau bụng do hồi trùng (giun đũa) nhiễu loạn gây ra, thì mạch không trầm mà không huyền. Mà xuất hiện mạch hồng đại, chính là hồi trùng nhiễu động khí huyết, là hiện tượng nhiệt khí phù động ra ngoài. Đồng thời kèm theo các chứng trạng như đau bụng, lúc đau lúc không, lợm giọng ẩu thổ, thổ dãi bọt, phát sinh ban trắng trên mặt, nghiến răng trong khi ngủ, muốn ăn mà không tiêu hoá, đại tiện không điều hoà, mũi rất ngứa. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển:“ Đau bụng thường thấy mạch phục, là dương khí bế tắc ở bên trong; Hoặc là tà khí nhập vào trong. Nếu mạch hồng đại, thì không phải là bệnh do chính khí hoặc tà khí gây ra, mà là giun nhiễu động và khí quyết nghịch gây ra, tất nhiên sẽ kèm theo các chứng như ẩu thổ, đau tim, như viết ở điều văn bên dưới, là không nghi ngờ vậy.
6. 蚘虫之为病,令人吐涎,心痛发作时,毒药不止,甘草粉蜜汤主之。 6/Hồi trùng chi vi bệnh, lệnh nhân thổ diên, tâm thống phát tác hữu thời, độc dược bất chỉ, cam thảo phấn mật thang chủ chi. (6) Cam thảo phấn mật thang phương Cam thảo 2 lạng, phấn (bột gạo) 1 lạng, mật 4 lạng dùng 3 thăng nước sắc cam thảo trước lấy 2 thăng cho phấn và mật sắc tiếp giống như cháo loãng uống 1 thăng lúc ấm. Bệnh khỏi thì ngưng uống. 【Từ giải】 Độc dược bất chỉ: 《Bản thảo kinh》chia vị thuốc thành 3 loại: Thượng, trung và hạ, loại hạ chứa nhiều độc tố. Độc dược bất chỉ, chính là chỉ về việc dùng quá nhiều loại thuốc khu trùng, không thể ngăn chặn. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày hội chứng và điều trị bệnh hồi trùng (giun đũa) Giun đũa ký sinh trong ruột, hoạt động quấy nhiễu không yên, nếu quấy nhiễu lên vị, thì huyệt Liêm tuyền khai phóng (mở lớn), vì thế người bệnh nôn ra bọt dãi; Hồi (Giun) hoạt động thì gây đau, Hồi ngưng hoạt động thì hết đau, nên cơn đau phát tác tuỳ lúc, chứng này nếu dùng thuốc độc để bẻ gẫy nó, thì thuốc với trùng ghét nhau và trùng không thụ nhận thuốc độc, vì thế viết: “Độc dược bất chỉ”. Điều trị dùng thang Cam thảo phấn mật, trước tiên là dùng vị ngọt là vị hồi trùng ham thích, kế tiếp dùng duyên phấn có tác dụng sát trùng, huống chi Cam thảo phấn và Bạch mật có tác dụng dưỡng vị hoà trung, hoãn cấp giảm đau, để đề phòng độc tính của Duyên phấn. Độc tính của Duyên phấn rất mạnh, không nên uống nhiều, vì thế dưới phương có ghi chú: “Khỏi bệnh là ngừng uống”. Phấn (bột) trong thuốc có người chú thích là “Bột gạo”có vị ngọt, tính hoà bình. Có tác dụng điều hoà vị, giải độc, ưu tiên nhanh chậm (hoãn cấp), vì sau khi uống thuốc sát trùng,không ngừng nôn ra bọt dãi và đau bụng, trong vị không điều hoà, vị khí đã bị tổn hại, vì thế dùng mễ phấn (bột gạo) để dưỡng vị hoà trung, an hồi (giun) giảm đau, đợi khi chính khí khôi phục, tình trạng bệnh hoà hoãn, sau lại tiếp tục dùng thuốc sát trùng, đây là lý thuyết để cho mọi người cùng tham khảo. 【Tuyển chú】 《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị chú》:“ Ẩm thực vào vị, trong vị có nhiệt nên trùng hoạt động, hoạt động thì vị hoà hoãn, vị hoãn thì huyệt liêm tuyền mở rộng, nên thổ ra dãi bọt. Hồi (giun) xâm nhập lên hoành cách nên đau tim. Giun ngửi mùi thực phẩm thì xuất ra, giun được ăn uống thì yên, nên cơn đau phát tác tuỳ lúc. Gọi là độc dược bất chỉ, là ghét nên không ăn. Giun thích vị ngọt, nên dùng vị ngọt của Cam thảo, tuỳ theo tình hình mà sử dụng thuốc, hồ phấn ngọt lạnh, chủ diệt 3 loại trùng, khi giun gặp vị ngọt muốn ăn nên đầu hướng lên trên liền cho bn uống hồ phấn để diệt trừ giun, đây là nhờ làm trái ngược mà thu được hiệu quả. 【Bệnh án】 Vương thị hơn 20 tuổi, có tiền sử bệnh giun đũa. Vào giữa mùa hè năm 1943, bệnh cũ của bà tái phát, gây đau vùng thượng vị và bụng, nôn mửa, ăn không ngon, ngồi nằm không yên. Những viên thuốc Sơn đạo niên dược phiến không mang laị hiệu quả và tôi được yêu cầu đi kiểm tra. Thuốc khu trùng lý khí vẫn không thu được hiệu quả. Tôi nhớ lại có một đơn thuốc bột cam thảo và thuốc sắc mật ong trong “Kim Quỹ Yếu Lược” chủ yếu dùng trị bệnh giun đũa, nôn mửa, tiết nước bọt, đau tim. Nếu thỉnh thoảng lên cơn mà thuốc không khỏi thì dùng thử. Sau đó dùng 15 gam cam thảo nguyên chất, sắc lấy nước, thêm 5 gam bột chì, 30 ml mật ong trắng, trộn đều, nấu như cháo loãng, chia làm hai vị thuốc ấm, uống lần đầu đầu cơn đau hơi dịu. sau đó uống lại, cơn đau và nôn mửa sẽ dần chấm dứt, bạn sẽ đi đại tiện vào ngày hôm sau. Người bệnh đại tiện ra hơn 20 con giun đũa và đã khỏi bệnh.
7. 蚘厥者,当吐蚘,令病者静而复时烦,此为藏寒,蚘上入膈,故烦;须臾 复止,得食而呕,又烦者,蚘闻食臭出,其人当自吐蚘。 7/ Hồi quyết giả, đáng thổ hồi, kim bệnh giả tĩnh nhi phục thời phiền, thử vi tạng hàn, hồi thượng nhập cách, cố phiền, tu du phục chỉ, đắc thực nhi ẩu, hựu phiền giả, hối văn thực xú xuất, kỳ nhân đáng tự thổ hồi. 【Từ giải】 Tàng hàn: Tức là tạng hàn, chỉ về trong ruột bị lạnh. 【Giải thích】 Đoạn văn này trình bày bệnh cơ của chứng hồi quyết. Chứng này vì nóng trong tràng vị, hồi trùng (giun đũa) tránh lạnh theo ấm, quấy rối ở vị, hoặc chui vào ống mật, vì thế có câu: Hồi lên hoành cách. Hồi trùng (giun) vì lạnh mà động, vị (dạ dày) bị quấy nhiễu nên rất khó chịu. Nếu được ấm áp (hồi trùng) tắc an, vì thế bệnh lại yên tĩnh. Nếu được ăn uống, giun ngửi mùi thức ăn, lại ra quấy nhiễu, nên bệnh nhân ăn vào là ẩu thổ, lại khó chịu mà thổ ra giun. Vì tạng hàn mà giun quấy nhiễu gây đau bụng, hàn nhiệt đan xen lẫn lộn, khí âm dương không liên tiếp nhau thuận lợi, nên chân tay lạnh ngược lên. Vì thế chứng này cũng có tên là chứng hồi quyết. 【Tuyển Chú】 《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú》:“ Hồi quyết là bệnh hồi trùng mà chân tay lạnh ngược lên. Bệnh hồi quyết đáng ra phải nôn ra trùng (giun), bệnh yên tĩnh nhưng bực bội, vì tạng can lạnh mà hồi trùng nhập lên hoành cách, vì thế nên bứt rứt khó chịu, nói giun sống ở tạng can, vì can lạnh nên nhập vào hoành cách. Một lát lại ngừng, ăn vào ẩu thổ, lại bực bội, là hồi trùng ngửi mùi thực phẩm mà xuất vào vị, nên người bệnh thường nôn ra giun. Nói hồi trùng do phong mà sinh ở can, can hàn nên giun nhập vào hoành cách, ngửi mùi thực phẩm mà xuất vào vị.”
8. 蚘厥者,乌梅丸主之。 8/ Hồi quyết giả, ô mai hoàn chủ chi. Ô mai hoàn phương Ô mai 300 hột, tế tân 6 lạng, can khương 10 lạng, hoàng liên 1 cân, đương quy 4 lạng, phụ tử 6 lạng (bào), xuyên tiêu 4 lạng (khứ hạn), quế chi 6 lượng, nhân sâm 6 lượng, hoàng bá 6 lượng tán bột. Riêng ô mai dùng khổ tửu (giấm) ngâm 1 đêm bỏ hạt, chưng dưới 5 thăng gạo, gạo chín lấy ra giả thành bánh trộn các thuốc còn lại rồi đặt trong cối giả 2000 chày, vò viên to bằng hạt ngô, uống 10 hoàn trước ăn, ngày 3 lần, tăng dần tới 20 hoàn, kỵ đồ ăn sống lạnh hoạt, xú (nhờn, hôi). 【Giải thích】 Đoạn văn này thảo luận về trị pháp của chứng hồi quyết, chứng hồi quyết là do tạng hàn khiến hồi trùng nhiễu động, nhập lên hoành cách dẫn đến chứng hàn nhiệt hỗn tạp. Điều trị dùng Ô mai hoàn, an hồi chỉ quyết (an hồi trùng, trị chứng tay chân lạnh), điều hoà can vị. Trong phương có Ô mai toan ôn (chua ấm) dưỡng can vị, hồi (giun) gặp vị chua thì ngừng nhiễu động; Phụ tử, Can khương, Quế chi, Xuyên tiêu, Tế tân, vị cay tính nóng, có thể thông dương phá âm, đồng thời có tác dụng sát trùng; Hoàng liên, Hoàng bá đắng lạnh thanh tả nhiệt ở tâm vị, để trị ẩu phiền, lại có thể đưa giun đi xuống; Nhân sâm, Đương quy bổ dưỡng khí huyết, để phù trợ chính khí bị hư tổn. Phương này đồng dụng hàn nhiệt, khiến tạng hàn được ấm áp, vị nhiệt hạ xuống, khí huyết điều hoà, tạng an hồi (giun) xuống dưới, khiến các chứng đều được giải trừ. 【Tuyển chú】 《Y Tôn Kim Giám》:“ Lý viết: Ô mai vị chua, Hoàng liên, Hoàng bá vị đắng, Quế chi, Độc tiêu, Can khương, Tế tân vị cay, với hồi (giun) gặp vị chua thì ngừng, vị đắng thì an, gặp vị ngọt thì nhiễu động lên trên, gặp vị cay thì phục xuống dưới. Nhưng vị khí hư hàn, dùng Nhân sâm Phụ tử để ôn bổ, thổ mất tân dịch, Đương quy vị cay để tẩm nhuận thì chứng hồi quyết có thể lành vậy.” 【Bệnh án】 Hoàng, nữ, 13 tuổi. Ngày 10 tháng 5 năm 1979, sau khi ăn sáng, đột nhiên bị đau bụng kịch phát ở vùng bụng trên bên phải, giống như bị dao cắt, nằm ngồi không yên, buồn nôn và nôn mửa. Chất nôn ra lúc đầu là cặn thức ăn, sau đó nôn ra mật và 2 con giun. khỏi bệnh nhờ điều trị. Cậu ta được đưa vào bệnh viện lúc 4h30 chiều ngày hôm đó. Khi chẩn đoán, bệnh nhân tỉnh táo và có biểu hiện bệnh cấp tính, cúi xuống ôm bụng, rên rỉ đau đớn, nằm ngồi không yên, nhiệt độ cơ thể 36,5°C, bụng phẳng, đau sâu ở vùng bụng trên bên phải, cơ bụng hơi căng, tình trạng bình thường. âm ruột bình thường. Chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch huyền. Không có tiền sử đau dạ dày và chẩn đoán là: Giun đũa ống mật. Điều trị: Ngay sau khi nhập viện, cho uống Ô mai hoàn gia vị: Ô Mai 120g, Xuyên Liên 10g, Hoàng bá 10g, Phụ tử 6g, Can khương 6g, Quế chi 3g, Đảng sâm 10g, Đương quy 10g, Xuyên tiêu 6g Binh lang 30g, Sử quân tử 15g, Khổ luyện bì 15g, Phỉ tử 15g, Mộc hương 10g. Một thang sắc uống liên tục, đến khoảng 8 giờ tối hôm đó, bệnh nhân hết đau và lặng lẽ chìm vào giấc ngủ, buổi chiều ngày hôm sau, bn đại tiện ra hơn 10 con giun. 2 ngày sau đã hồi phục hoàn toàn và xuất viện. (Trích từ “Y học cổ truyền Quảng Tây” 3:47, 1981).
Kết ngữ
Bài viết này bàn về hội chứng, bệnh sinh và các bài thuốc như phu quyết (mu bàn chân bị cứng), sưng ngón tay và cánh tay, chuyển cân (chuột rút), âm hồ sán (thoát vị bẹn), Hồi trùng (giun đũa). Nếu bệnh phu quyết thì dùng kim châm vào bụng chân để khí huyết lưu thông thuận lợi thì bệnh sẽ khỏi. Các ngón tay, cánh tay sưng tấy là do phong đàm. Dùng thang Lê lô Cam thảo dũng thổ (gây thổ mạnh) phong đàm thì khỏi bệnh . Chuyển cân (chứng chuột rút) là do phong nhiệt hiệp với thấp gây bệnh, điều trị chứng chuyển cân dùng Kê thỉ bạch tán có tác dụng lợi thấp thanh nhiệt khứ phong. Bệnh âm hồ sán (Bệnh thoát vị bẹn), do bệnh tà hàn thấp xâm phạm kinh can, vì thế dùng Tri thù tán, tân ôn (cay ấm) thông lợi, để giải bệnh tà. Bệnh hồi trùng (bệnh giun), gây đau tim thổ ra đàm dãi, thỉnh thoảng phát tác, đã dùng nhiều loại độc dược mà không trị khỏi bệnh, có thể dùng thang Cam thảo mật phấn, sẽ thu được hiệu quả tốt, dẫn dụ và sát hại hồi trùng; Đến như chứng hồi quyết (bệnh giun và tay chân lạnh) thì dùng hoàn Ô mai để điều hoà âm dương, an vị và trừ khứ hồi trùng.
|