18 Mạch chứng và điều trị lở loét tràng ung bệnh ngoài da
Khái thuyết
Thiên này trình bày biện chứng luận trị các bệnh tật như lở loét, tràng ung, kim sang (vết thương do dao kiếm) và bệnh ngoài da. Trong thiên tổng cộng có 8 điều văn, 6 phương dược. Trong đó điều 1 và điều 2 thảo luận về mạch chứng, và phương pháp chẩn đoán phân biệt. Điều 3 và 4 thảo luận về mạch chứng, trị pháp và phương dược của bệnh tràng ung (nhọt trong ruột). Điều 5 và 6 thảo luận mạch chứng của kim sang với cơ chế phát bệnh và phương chứng. Điều 7 và 8 thảo luận kết cục và trị pháp của tẩm dâm sang (bệnh ngoài da). Bởi vì các chứng sang ung, tràng ung, kim sang, tẩm dâm sang đều thuộc bệnh ngoại khoa, vì thế được hợp lại cùng trình bày trong 1 thiên.
Sang ung tức là ung thũng. Đặc điểm của hội chứng là đỏ, sưng và đau, do hoả độc kết ở ngoài, thuộc dương thuộc thực, chưng hấp máu thịt mà thanh nhọt mủ. Bệnh ở bên ngoài, vì thế gọi là sang ung, nếu nhọt mủ độc nhiệt kết ở trong ruột, thì gọi là tràng ung, tên khác là nội ung. Tẩm dâm sang, là do độc của thấp nhiệt, ứ đọng vào hai kinh tâm phế, hướng ra bên ngoài phát ở dưới da, hình như lúa gạo, ngứa không ngưng nghỉ, gãi trầy sước chảy ra nước vàng, gây ẩm ướt, lở loet toàn thân, vì thế gọi là tẩm dâm sang.
Kim sang, là chỉ về da thịt bị thương do khí giới như dao búa, cũng có khi sau khi bị thương lại cảm thụ độc tà, mưng mủ lở loét thì gọi là kim sang.
1/Chư phù sác mạch, ứng đáng phát nhiệt, nhi phản sái tích ố hàn, nhược hữu thống xứ, đáng phát kỳ ung.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày mạch chứng của chứng sang ung tiên phát. Bởi vì thấp nhiệt hoả độc kết tụ bên trong, tà nhiệt chưng hấp ở ngoài, vinh vệ đều nóng, vì thế xuất hiện mạch phù sác. Nếu tà nhiệt cản trở ở vệ phận, vệ khí không thể vận hành dễ dàng, vì thế thấy như vẻ ngoài run rẩy sợ lạnh. Thấp nhiệt hoả độc , tụ vào một nơi, thì tất nhiên máu thịt sẽ bị rữa nát, vì thế doanh huyết ứ nát không thông mà thành ung nhọt. Ung độc hủ hoá khí huyết thì thành mủ, vì thế viết: Đang phát ung nhọt. Như vậy có thể thấy, mạch phù sác và sợ lạnh, nếu không có điểm đau cố định nào, thì là bệnh ngoại cảm; Nếu có một điểm đau cố định thì đó là dấu hiện tiên phát của bệnh ung nhọt.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Mạch phù sác đều thuộc dương; Dương đúng ra là phát nhiệt, nhưng lại sợ lạnh, vệ khí bị cản trở không thể xuất ra, mà vệ cũng chủ vận hành doanh khí, mà vì doanh quá thực (vượt quá tình huống bình thường), nên lại cản trở vệ; Nếu có điểm đau, là dấu hiệu doanh đã thực, vì thế viết là đang phát bệnh ung nhọt.
2.师曰:诸痈肿欲知有脓、无脓,以手掩肿上热者,为有脓;不热者,为无脓。
2/ Sư viết: Chư ung thũng, dục tri hữu nùng vô nùng, dĩ thủ yểm thũng thượng, nhiệt giả vi hữu nùng, bất nhiệt giả vi vô nùng.
【Giải thích】
Bản văn trình bày việc thông qua phương pháp xúc chẩn để phân biệt ung nhọt có mủ hay không có mủ. Bởi vì doanh huyết bị ngưng trệ, vệ khí không vận hành, ứ đọng vào một nơi, ứ nên sinh nhiệt, nhiệt thắng tất máu thịt bị rữa nát, máu thịt rữa nát thì sẽ hình thành nhọt mủ, vì thế khi đặt tay lên nhọt cảm thấy nóng và mềm thì chính là có mủ. Giả như, uất trệ không nặng, còn chưa hoá nhiệt, chỉ là u nhọt, vì thế khi ấn vào không nóng mà lại cứng, thì chính là biểu hiện của nhọt không có mủ.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Xem u nhọt, không có mủ là độc không hoá, mà độc không tụ, thì không thành mủ. Vì thế khi đặt tay lên chỗ sưng, cảm thấy nóng là nhiệt đã tụ, thì có mủ, không thấy nóng là độc không tụ, thì không có mủ.”
3.肠痈之为病,其身甲错,腹皮急,按之濡如肿状,腹无积聚,身无热,脉数,此为肠内有痈脓,薏苡附子败酱散主之。
3/ Tràng ung chi vi bệnh, kỳ thân giáp thác, phúc bì cấp, án chi nhu, như thũng trạng, phúc vô tích tụ, thân vô nhiệt, mạch sác, thử vi tràng nội hữu ung nùng,Ýdĩ phụ tử bại tương tán chủ chi.
Ý dĩ phụ tử bại tương tán phương
Ý dĩ nhân 10 phân, phụ tử 2 phân, bại tương 5 phân. Tán bột mịn lấy (dùng) phương thốn chủy sắc trong 2 thăng nước còn 1 thăng uống, tiểu tiện thông (tiểu tiện đáng hạ).
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày biện chứng luận trị chứng tràng ung đã thành mủ. Bởi vì hoả độc tụ trong ruột mà phát chứng tràng ung, tuy thân thể không sốt, mà mạch lại sác, huyết khí ngưng trệ bên trong, không thể nuôi da thịt bên ngoài, vì thế thân thể tựa như vảy giáp đan xen. Ung nhọt bên trong, cản trở huyết lưu thông nên khí trệ, vì thế da bụng như phù thũng, ấn vào vẫn mềm. Tuy bệnh ở giữa vị và tràng, nhưng thật sự không có tích tụ trong bụng, vì thế chứng này và chứng trong bụng có hòn khối tích tụ là khác nhau.
Điều trị dùng Ý rĩ Phụ tử ại tương tán, trừ mủ tiêu ung nhọt, thông dương hành âm. Trong phương có Ý rĩ nhân tiết nhiệt trừ thấp, trừ mủ lợi tiểu, Bại tương thảo thanh nhiệt giải độc, phá ứ trừ mủ, Phụ tử cay ấm, phù dương và vận hành khí huyết tân dịch,vì thế có thể tán kết tiêu thũng. Dưới phương có câu: “Đốn phục, tiểu tiện đáng hạ”, chính là chỉ về sau khi uống thuốc, thì tiểu tiện, khí hoá liền thông, khí hoá thông thì ung nhọt uất kết có thể mở, nhiệt ứ trệ có thể hành, đại tiện xuất ra máu mủ ô uế, chứng ung nhọt trong ruột khỏi dần. Uống hết thuốc trong một lần, để cho lực thuốc có thể nhanh chóng làm suy giảm thấp nhiệt hoả độc của bệnh.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“ Thảo luận tràng ung là bệnh của tràng vị, tựa như không có gì khác ngoài chứng trạng đau bụng, không biết ung là bệnh ở giữa các mạch máu. Tràng thuộc kinh dương minh, kinh dương minh chủ cơ nhục toàn thân, vì thế toàn thân khô sần, bụng là phủ của tràng, nên da bụng căng, nhiệt khí cũng được cổ động, khí không hữu hình nên ấn vào thấy mềm mại. Tuy da căng như phù thũng, nhưng thực ra cũng không có vật tích tụ. Bệnh không ở biểu nên không phát sốt, tuy không sốt nhưng mạch sác, ung là bệnh của máu, mạch cũng chủ huyết, vì thế viết đây là tràng ung. Ý rĩ tính hàn có thể trừ nhiệt, kèm theo hạ khí thắng thấp, lợi tràng vị, phá độc thũng, nên dùng làm quân dược. Bại tương có tác dụng trừ mủ phá huyết, lợi kết nhiệt độc khí, được dùng làm thần dược. Phụ tử dẫn nhiệt vận hành kết, nên lại làm tá dược.
【Bệnh án】
Họ Trương ××, nam, 23 tuổi. Chẩn đoán và điều trị vào ngày 20 tháng 10 năm 1965. Trương đau bụng một ngày, sốt và nôn mửa, sau đó cơn đau di chuyển xuống vùng bụng dưới bên phải. Tây y chẩn đoán là viêm ruột thừa cấp tính. Đã được điều trị liên tục bằng thuốc kháng sinh và các loại thuốc khác nhưng cơn đau vẫn kéo dài, bn bị sốt và nôn mửa. Bệnh nhân không muốn phẫu thuật và tìm đến Thầy Chu để điều trị. Các triệu chứng bao gồm nước da nhợt nhạt và vàng, vẻ mệt mỏi, đau dai dẳng ở vùng bụng dưới bên phải, kịch phát, đau nhức rõ rệt, đau dội ngược và căng cơ, khối to bằng lòng bàn tay, ớn lạnh và sốt, chân tay lạnh khi đau dữ dội, rêu lưỡi vàng , có dịch, mạch hoạt sác . Nhiệt độ cơ thể là 38,7°C, số lượng bạch cầu là 20.000/mm3. Đây thuộc loại hàn thấp ứ đọng và chuyển hóa nhiệt, cần được xử lý bằng ôn dương, khứ thấp và thanh nhiệt. Dùng 90 gam Ý rĩ, 30 gam rễ phụ tử (nước sắc trước) và 30 gam Bại tương thảo: Hướng dẫn sắc đặc và uống hết trong 1 lần. Sau 4 thang, cơn đau giảm đi nhiều, hết nôn mửa, thân nhiệt trở về bình thường, tổng số bạch cầu giảm xuống còn 13.000/mm3. Sau khi tiếp tục uống 6 thang trên, tổng số bạch cầu trong máu là 10.000/mm3, chỉ còn lại khối ở vùng bụng dưới. Sau khi uống hơn 20 liều thuốc trên, khối u biến mất và lành hẳn.
(Trích từ “Tạp chí Y học cổ truyền Trung Quốc Thượng Hải” 5:5: 1982).
4/Tràng ung giả, thiếu phúc thũng bĩ, án chi tức thống, như lâm, tiểu tiện tự điều, thời thời phát nhiệt, tự hạn xuất, phục ố hàn. Kỳ mạch trì khẩn giả, nùng vị (chưa) thành, khả hạ chi, đáng hữu huyết. Mạch hồng sác giả, nùng dĩ thành, bất khả hạ dã. Đại hoàng mẫu đơn thang chủ chi. (4) Đại hoàng mẫu đơn thang phương Đại hoàng 4 lượng, mẫu đơn 1 lượng, đào nhân 50 hột, qua tử 0,5 thăng, mang tiêu 3 hợp. Dùng 6 thăng nước sắc còn 1 thăng bỏ bã cho mang tiêu vô sắc sôi rồi uống. Hữu nùng đáng hạ (có mủ thì sẽ tiêu ra mủ) vô nùng, đáng hạ huyết (không mủ thì sẽ tiêu ra máu).
【Giải thích】
Đoạn văn này biện chứng luận trị chứng tràng ung chưa thành mủ. Hoả độc tà khí ứ đọng trong ruột, tuy tụ lại thành hình, nhưng chưa gây rữa nát hoá mủ, vì thế xuất hiện bụng dưới sưng thũng bĩ tắc, thũng bĩ ứ trở bức bách bàng quang, vì thế khi ấn vào thì đau như bị bệnh lậu, mà thực ra thì không phải bệnh lậu, vì thế tiểu tiện điều hoà. Do độc tà tụ ở trong, khí vinh vệ tương tranh, vì thế luôn luôn phát sốt, xuất mồ hôi và sợ lạnh. Huyết nhiệt ứ trệ, kết lại không thông, mạch máu co lại, nên mạch trì mà khẩn. Đây là nhiệt phục huyết ứ, ung nhọt chưa thành, vì thế có thể công hạ để ngăn chặn, khiến ung nhọt tiêu tán. Nếu mạch không trì khẩn, mà lại là mạch hồng sác, là biểu hiện của nhiệt thế đã thành, vinh khí rữa nát thành mủ, vì thế không thể công hạ. Căn cứ theo quan sát lâm sàng, chứng này công hạ cũng tựa như vô hại.
Điều trị dùng thang Đại hoàng Mẫu đan bì, tiết nhiệt trục ứ là chính. Trong phương có Đại hoang, Đan bì, Đào nhân tả nhiệt trục ứ, tiêu tán ung thũng, Qua tử và Mang tiêu, tẩy rửa tích tụ, trừ mủ, thay cũ đổi mới, bên dưới phương thang có câu: “Đốn phục chi, hữu nùng đáng hạ, như vô nùng, đáng hạ huyết” (顿服之,有脓当下,如无脓,当下 血。) là uống hết thuốc trong 1 lần, có mủ thì tiêu ra mủ, nếu không có mủ thì tiêu ra máu.Cho thấy chứng tràng ung bất luận có hay không có mủ, phàm thuộc chứng thực nhiệt, đều có thể dùng phép tẩy nhiệt hành ứ, khiến ứ nhiệt được trừ khứ theo đại tiện và chứng tràng ung có thể được trị lành.
Nếu tà độc gây rữa nát thịt hoá thành mủ, khí độc nhiệt lan ra khắp nơi, tổn thương chính khí, vì thế xuất hiện mạch hồng sác. Điều trị nên thanh nhiệt giải độc, trừ mủ tiêu thũng. Nhưng nên thận trọng khi sử dụng phép công hạ, để tránh tổn thương chính khí.
Ý rĩ Phụ tử Bại tương tán và thang Đại hoàng Mẫu đan bì đểu trị bệnh tràng ung, phương trước thích hợp với chứng tràng ung đã thành mủ, chính khĩ cũng đã thụ thương, lý nhiệt không nhiều; Phương dược sau thích hợp với chứng tràng ung chưa hoá mủ, thuộc thực chứng nhiệt độc nhiều.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị chú》:“Chứng tràng mà bụng dưới không thể ấn nắn, là do dương tà kết ở dưới, và vị trí bị lôi kéo. Ấn vào như bị bệnh lậu, hình dung dạng đau, là do như vậy. Mà huyết bị bệnh mà khí không bệnh, vì thế tiểu tiện điều hoà, nhưng dương tà đã nhiều, vệ khí hư, liền phát sốt xuất hãn và cũng sợ lạnh, đây chính là biểu hiện của chứng tràng ung. Điều trị có sự khác biệt giữa đã thành mủ và chưa thành mủ, phương pháp nhận biết thì không thể bỏ qua mạch, mạch trì khẩn cho biết nhiệt phục gây huyết ứ ở trong, không thành mủ, công hạ cần sớm, chẳng phải nên dùng thang Đào nhân thừa khí ư? Nếu mạch hồng sác, thì ung đã thành mủ, đâu phải cứ ứ thì có thể công hạ, thang Đại hoàng Đan bì điều đàm trừ nhiệt là thế tất dụng của bệnh.”
【Bệnh án】
Họ Lâu××, nam, 20 tuổi. Đến khám bác sĩ ngày 8 tháng 9 năm 1977. Đau lan xuống bụng dưới bên phải đã 2 ngày. Có ấn đau và ấn đau hồi ứng, buồn nôn, khô miệng, táo bón, test đại cơ eo dương tính, ấn đau vùng ruột thừa chi dưới bên phải, rêu lưỡi mỏng màu vàng, mạch huyền sác, nhiệt độ cơ thể 37,3°C, bạch cầu 12.000/ milimét khối, trung tính 79%. Chẩn đoán: nhọt đường ruột (viêm ruột thừa cấp tính). Uống thang Đại hoàng Mẫu Đan bì gia giảm: Đại hoàng sống 12g, Mẫu đan bì Đào nhân Đông qua nhân Mộc hương Chỉ xác đều 9g Kim ngân hoa Hồng đằng Bồ công anh để 30g Mang tiêu Cam thảo sống đều 6g. Trong ngày uống 2 thang, sắc xong phân thành 4 lần uống, sau khi uống thuốc bn đi tả 3 lần, đau bụng giảm nhẹ, sau đó dùng nguyên phương trên khứ Mang tiêu, uống mỗi ngày 1thang, uống liên tiếp 6 thang thì mọi chứng trạng đều biến mất.
【Bệnh án 2】
Họ Từ ××, nam, 44 tuổi. Ông phàn nàn rằng ông bị đau bụng sau khi phẫu thuật cắt trĩ. Tiến hành điều trị bằng thuốc xổ, khi khám thì phát hiện có một vật giống như sợi dây ở đại tràng xuống bên trái, đè vào một bên cơ thể, đau không chịu nổi, bệnh nhân không ăn uống được và không thể uống được. tiêu chảy, có mủ và chất giống như thịt thối trong phân. Mỗi ngày đại tiện 5,6 lần, có chưng trạng lý cấp hậu trọng (mót rặn có cảm giác nặng nề mà không đại tiện được) Mạch huyền hoạt, rêu lưỡi vàng nhầy.
Biện chứng: Nhiệt tà ở can đảm, bức bách dến ruột, tổn thương đến khí huyết, hiệp theo ứ trệ, từ đó hình thành chứng này.
Trị pháp: Thông nhân thông dụng (dùng thuốc thông lợi để điều trị chứng thông tiết thực tính), tả ứ trệ trong ruột, tiêu ứ trệ ngưng kết, phương dùng thang Đại hoàng Mẫu đan bì.
Xử phương: Đại hoàng 12g Đào nhân 12g Đông qua nhân 30g Bại tương thảo 15g Kê huyết đằng 30g Song hoa15g Hải tảo 15g Phật thủ 15g Sài hồ 12g Chỉ thực 10g.
Sau khi uống thuốc bn đi tả ra rất nhiều phân uế trọc, uống đến thang thứ ba thì cơ bản là khỏi bệnh hoàn toàn. (Kinh nghiệm trị bệnh của Lưu Độ Châu)
5/Vấn viết: Thốn khẩu mạch phù vi nhi sáp, pháp đáng vong huyết, nhược hãn xuất. Thiết bất hãn giả vân hà? Đáp viết: Nhược thân hữu sang, bị đao phủ (cái rìu) sở thương, vong huyết cố dã.
【Giải thích】
Đoạn văn này thảo luận mạch chứng của xuất huyết do kim sang (ngoại thương). Vì do các nguyên nhân như thổ huyết, khạc huyết, tự hãn,đạo hãn, di tinh, dẫn đến âm huyết khuy thiểu, huyết không lưu lợi, vì thế mạch sáp. Âm huyết hư mà dương khí nổi ra ngoài, vì thế lại là mạch phù mà vi (nhỏ), như khi huyết hoặc hãn xuất tổn thương vinh, nếu như không vong huyết, cũng không xuất hãn thì là vì sao? Nguyên nhân ở đây là, nếu thân thể có mụn nhọt, hoặc bị thương do đao búa, là nguyên do của mất máu.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Huyết và mồ hôi đều thuộc âm; Âm vong, thì huyết lưu không vận hành, mà khí cũng không phụ giúp, vì thế mạch phù vi nhi sáp dã (nhỏ bé mà sáp rít) 《Kinh》vân: Đoạt huyết giả vô hãn, đoạt hãn giả vô huyết (Đã mất máu thì không được phát hãn, đã xuất mồ hôi thì không được khứ huyết, vì sẽ làm cho tình trạng bệnh tệ hơn). Owrddaay không xuất hãn mà thân có ung nhọt,thì biết do bị thương do dao búa mà mất máu, với xuất hãn không ngừng, dấu vết thì khác mà lý thì cũng tương đồng.
6/Bệnh Kim Sang, vương bất lưu hành tán chủ chi.
Vương bất lưu hành tán phương
Vương bất lưu hành 10 phân (ngày 8 tháng 8 thu hái), Sóc diệu tế diệp (lá nhỏ) 10 phân (thu hái ngày 7 tháng 7); Tang đông nam, Căn bạch bì 10 phân (rễ dâu tằm ăn hướng đông nam thu hái vào ngày 3 tháng 3), Cam thảo 18 phân, Xuyên tiêu 3 phân (bỏ mắt), hoàng cầm 2 phân, Can khương 2 phân, Hậu phác 2 phân, Thược dược 2 phân. Ba vị trước sao than tồn tính nhưng đừng cháy quá, tán riêng từng vị trộn đều. Mỗi lần dùng phương thốn chủy. Vết thương nhỏ thì rắc trên bề mặt, vết thương lớn thì vừa uống vừa rắc. Sản hậu cũng có thể uống. Ba vị trước đều âm can 100 ngày
【Giải thích】
Đoạn văn này thảo luận phương pháp điều trị kim sang, Do dao búa gây thương tích, kinh mạch da thịt gân xương bị gãy đứt, doanh vệ khí huyết không thể tiếp tục, vết thương đau nhức, thậm chí khí huyết lở loét gây nhiễm trùng.
Điều trị dùng Vương bất lưu hành tán, nối mạch, trị lành vết thương, hoạt huyết hành khí, hoá ứ giảm đau. Trong phương có Vương bất lưu hành hoạt huyết khứ ứ, cầm máu, giảm đau làm quân dược; Tá dược là Sóc diệu tế diệp hành huyết thông kinh, tiêu ứ hoá trệ; Tang căn bạch bì nối mạch lành vết thương. Ba vị trên thiêu tồn tính, dùng than để có tác dụng cầm máu. Khương, Tiêu, Hậu phác hành khí phá trệ, ôn thông huyết mạch, Hoàng cầm, Thược dược thanh huyết nhiệt, liễm huyết âm; rọng dụng Cam thảo bổ âm sinh cơ, điều hoà các vị thuốc,phối Hoàng cầm thanh nhiệt giải độc. Phương này phối hợp hàn và nhiệt, chiếu cố cả khí và huyết, có thể đắp thuốc bên ngoài, cũng có thể uống điều trị bên trong. Trong ngoài cùng điều trị, vận hành thông sướng khí huyết, điều hoà âm dương, sinh trưởng cơ nhục. “Tiểu sang tức phấn chi”, cho thấy khi da thịt bị tổn thương tương đối nhẹ thì chỉ cần đắp thuốc bên ngoài mà không cần uống. “Đại sang đãn phục chi”, do tổn thương khá nặng, cần điều trị bên trong để an bên ngoài, vì thế nên cần uống thuốc, hoặc điều trị cả bên trong và bên ngoài. “Sản hậu diệc khả phục” Sau khi sanh cũng có thể uống, vì có công dụng tán ứ cầm máu, hành khí hoạt lạc. Nếu ngoại cảm phong hàn thì khứ Tang căn bạch bì, để tránh dẫn bệnh tà vào trong. “Tiền tam vật giai âm can bách nhật” chính là gồm Vương bất lưu hành, Sóc diệu tế diệp, 3 vị này không nên phơi nắng to hoặc sao bằng lửa, chính là có ý để giữ dược tính hàn lương của thuốc.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Kim sang là đao gây thành vết thương, kinh mạch bị cắt đứt, vinh vệ tan nát rời rạc; Điều trị là phải hồi phục vận hành kinh lạc; doanh vệ mối kết. Thuốc tán Vương bất lưu hành là thuốc tốt để vận hành khí huyết và điều hoà âm dương.
7/ Bài nùng tán phương Chỉ thực 16 quả, Thược dược 6 phân, Cát cánh 2 phân. Tán bột mịn dùng 1 lòng đỏ hột gà và một lạng bột thuốc tương đương trộn đều uống ngày một lần.
Bài nùng thang phương Cam thảo 2 lạng, Cát cánh 3 lượng, Sinh khương 1 lạng, đại táo 10 quả. Dùng 3 thăng nước sắc lấy 1 thăng uống lúc ấm 5 hợp.
【Giải thích】
Hai phương thuốc trên thảo luận về trị pháp của chứng sang ung đã thành mủ, chính khí bị tổn thương. Vì hoả độc phát viêm, tụ vào một nơi, khí huyết không thông sướng, nhiệt uất huyết ứ, , chưng rữa nát huyết nhục hoá thành mủ và tổn thương chính khí. Nếu âm phận bị tổn thương, điều trị dùng phương Bài nùng tán, bổ âm hoạt huyết, hành khí trừ mủ. Trong phương có Kê tử hoàng, Thược dược bổ âm dưỡng huyết, mát máu giải độc, hoạt huyết tán ứ, Chỉ thực và Cát cánh một thăng một giáng, khai khí hành trệ, khiến đại khí xoay chuyển, uất kết liền tan. Các vị thuốc hợp lại, có thể dưỡng âm bảo hộ chính khí, khiến mủ chảy ra ngoài, có thể giải nhiệt độc. Nếu chính khí bị tổn thương, điều trị dùng thang Bài nùng. Trong phương có cam thảo điều trung trừ mủ, thanh nhiệt giải độc, Cát cánh khai đề phế khí, đại khí tự chuyển, uất kết có thể tan, Sinh khương Đại táo cay ngọt thuộc dương, điều hoà vinh vệ, phù chính đạt tà. Phối hợp chư dược, để cùng trừ mủ giải độc, có công dụng điều trung khứ tà. Như thế có thể biết, phương Bài nùng tán trị ung mủ tổn thương huyết phận; Thang Bài nùng trị ung nhọt tổn thương khí phận. Nhưng cả hai đều có khả năng điều chỉ cơ chế thăng giáng, tiêu ứ trệ lâu ngày của ung nhọt, có thể điều trị bao quát các bệnh chứng ung nhọt lâu ngày không tan.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Biên chú》:“ Chứng tràng ung tất bắt đầu khi bệnh tà nghẽn tắc khí huyết mà thành, tắc nghẽn khí là nhiệt, hun chưng rữa nát máu thịt thành mủ, vì thế với Kê tử hoàng, Thược dược chuên bổ âm huyết là chính, Cánh cánh khai đề phế khí mà đi xuống, Chỉ thực lan toả khí kết ở tràng vị. Khiến khí lợi thì nùng hoá độc, vì thế cũng dùng làm Bài nùng tán.”
Chứng tràng ung là thuộc đại tiểu tràng thụ bệnh, vì thế dùng Cam thảo, Cát cánh nhập tốt và kinh thủ túc dương minh, thăng đề chư khí mà tuyên hành giải độc, với Khương, Táo thông điều doanh vệ mà trừ huyết là nùng. Hai phương này được thiết lập để điều trị bệnh của vị tràng trong cơ thể.
8.浸淫疮,从口流向四支者,可治;从四支流来入口者,不可治。
8/ Tẩm dâm sang, tòng khẩu lưu hướng tứ chi giả, khả trị; Tòng tứ chi lưu lai nhập khẩu giả, bất khả trị.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày tiên lượng của các bệnh ngoài da gọi là tẩm dâm sang (ghẻ, chàm …) tẩm dâm sang là bệnh ngoài da do thấp nhiệt hoá độc xâm phạm da thịt, ngứa trước đau sau, gãi rách da chảy nước, lan dần ra toàn thân. Nếu tẩm dâm sang phát sinh từ tứ chi hướng về miệng, đó là phản ảnh nhiệt ở da thịt, qua huyết mạch truyền vào bên trong, bệnh tà từ ngoài hướng vào trong, từ nhẹ biến thành nặng, vì thế khó trị. Nếu chứng tẩm dâm sang từ miệng hướng ra tứ chi, là nhiệt độc ở kinh tâm, lưu tán ra da thịt, thế bệnh hướng ra ngoài, từ nặng biến thành nhẹ, vì thế có thể điều trị.
【Tuyển chú】
《Y Tôn Kim Giám》:“ Tẩm dâm sang, tẩm gọi là ngấm, dâm là không ngừng, cũng gọi tẩm dâm là không ngừng trì hoãn, bịn rịn, từ miệng ra tứ chi là bệnh nhẹ, cũng là từ miệng đi ra ngoài, nên viết là có thể điều trj, từ tứ chi đi vào miệng, là từ ngoài đi vào trong, là nghịch là từ nhẹ biến thành nặng do đó gọi là bệnh bất trị.
9/ Tẩm dâm sang, hoàng liên phấn chủ chi. (không thấy phương)
【Giải thích】
Đoạn văn này thảo luận về trị pháp của bệnh tẩm dâm sang. Ttaarm dâm sang là nhiệt độc ở tâm mạch, là bệnh ngoài da, điều trị dùng phương Hoàng liên phấn, thanh nhiệt giải độc. Trong phương có Hoàng liên đắng lạnh nhập tâm, không kể là uống hay bôi đắp bên ngoài, đều có công dụng giải nhiệt độc, mát máu táo thấp (khô ẩm thấp).
Căn cứ theo quan sát trên lâm sàng, dùng Hoàng liên, Lồ cam thạch lượng bằng nhau tán thafh bột mịn, dùng dầu mè, trộn để bôi đắp trên da, điều trị chứng chảy nước vàng của bệnh ngoài da có tác dụng rất tốt.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Thiển Chú》:“ Chưa thấy phương Hoàng liên phấn, nghĩ rằng chỉ dùng một vị Hoàng liên, tán bột đắp bên ngoài vết loét, thậm chí cũng có thể uống, các vết loét đau ngứa, đều thuộc tâm hoả. Vị Hoàng liên đắng lạnh tả tâm hoả, cho nên chủ trị chứng này.
Kết luận
Thiên này trình bày nguyên nhân, cơ chế và phương pháp điều trị của các bệnh như mụn nhọt lở loét, mụn nhọt trong ruột, bệnh ngoài da, bị thương do dao búa. Ý rĩ Phụ tử Bại tương tán, trừ mủ tiêu thũng, trấn dương tiêu âm, có thể trị chứng mụn nhọt trong ruột đã thành mủ và chính khí bị tổn thương; Thang Đại hoàng Mẫu đan bì, tiết nhiệt trục ứ, trị chứng thực nhiệt tràng ung (nhọt trong ruột); Bài nùng tán có thể trị ung nhọt sưng phù kiêm hiện tượng âm bị tổn thương; Bài nùng thang có thể điều trị chứng ung nhọt kèm theo chứng trạng đặc trưng của khí bị tổn thương. Thuốc tán Vương bất lưu hành, có tác dụng hoạt huyết hành khí, cầm máu giảm đau, vì thế có thể dùng điều trị chứng kim sang (ngoại thương do dao búa). Hoàng liên phấn có công dụng thanh nhiệt táo thấp, mát máu giải độc, dùng thích hợp với các bệnh ngoài da (tẩm dâm sang).
Trường Xuân dịch