Dẫn nhập
Biện mạch pháp trình bày những nguyên tắc căn bản trong việc nhận biết mạch tượng, phân chia mạch theo âm dương, xét sự thịnh suy của chính khí và tà khí, đồng thời dự đoán chiều hướng tiến triển của bệnh. Nội dung thiên này không chỉ mô tả hình thái từng loại mạch mà còn đặt mạch tượng trong quan hệ với chứng trạng, khí huyết, doanh vệ và âm dương của cơ thể. Vì vậy, khi đọc cần chú trọng nguyên tắc mạch chứng hợp tham, không nên căn cứ vào một mạch tượng riêng lẻ để quyết định toàn bộ tình trạng bệnh.
Điều 01
Nguyên văn
問曰:脈有陰陽,何謂也?答曰:凡脈大、浮、數、動、滑,此名陽也;脈沉、澀、弱、弦、微,此名陰也。凡陰病見陽脈者生,陽病見陰脈者死。
Hán Việt
Vấn viết: Mạch hữu âm dương, hà vị dã? Đáp viết: Phàm mạch đại, phù, sác, động, hoạt, thử danh dương dã; mạch trầm, sáp, nhược, huyền, vi, thử danh âm dã. Phàm âm bệnh kiến dương mạch giả sinh, dương bệnh kiến âm mạch giả tử.
Dịch nghĩa
Hỏi: Mạch có sự phân chia âm và dương, điều ấy có nghĩa là gì?
Đáp: Nói chung, các mạch đại, phù, sác, động và hoạt được gọi là mạch thuộc dương; các mạch trầm, sáp, nhược, huyền và vi được gọi là mạch thuộc âm. Bệnh thuộc âm mà xuất hiện mạch dương thì có chiều hướng thuận; bệnh thuộc dương mà xuất hiện mạch âm thì có chiều hướng nguy hiểm.
Giải thích từ ngữ
Mạch đại: Hình thể mạch lớn, phạm vi dao động dưới ngón tay tương đối rộng.
Mạch phù: Đặt tay nhẹ đã cảm nhận được mạch; ấn sâu thì sức mạch giảm.
Mạch sác: Mạch đến nhanh hơn bình thường.
Mạch động: Mạch dao động rõ, thường có cảm giác như hạt đậu rung chuyển dưới đầu ngón tay.
Mạch hoạt: Mạch đi trơn tru, liên tục, có cảm giác tròn trơn như hạt châu lăn.
Mạch trầm: Ấn nhẹ không rõ, phải ấn sâu mới cảm nhận được.
Mạch sáp: Mạch đi không trơn, có cảm giác trì trệ, khó khăn.
Mạch nhược: Mạch mềm yếu, thường chỉ cảm nhận rõ khi ấn sâu.
Mạch huyền: Mạch thẳng, dài và căng như dây đàn.
Mạch vi: Mạch rất nhỏ và yếu, dường như có, dường như không.
Ý nghĩa căn bản
Điều này lấy âm dương làm tổng cương của phép biện mạch. Các mạch đại, phù, sác, động và hoạt biểu hiện xu hướng nổi lên, vận động, mạnh hoặc nhanh, vì thế được xếp vào dương. Các mạch trầm, sáp, nhược, huyền và vi biểu hiện xu hướng chìm xuống, trì trệ, nhỏ hoặc suy yếu, vì thế được xếp vào âm.
“Âm bệnh gặp dương mạch thì sinh” chủ yếu nói rằng trong bệnh cảnh thiên về âm hàn hoặc suy yếu mà mạch vẫn còn biểu hiện sức vận động, chính khí chưa suy kiệt và cơ thể còn khả năng chống đỡ. “Dương bệnh gặp âm mạch thì tử” nói đến bệnh cảnh tà khí đang thịnh mà mạch lại trầm, nhỏ, yếu hoặc suy vi, cho thấy chính khí không đủ sức chống lại tà khí, dự hậu thường bất lợi.
Chú ý
Chữ “sinh” và “tử” trong điều văn mang ý nghĩa thuận nghịch và tốt xấu của dự hậu, không nên hiểu máy móc rằng gặp dương mạch nhất định sống, gặp âm mạch nhất định chết. Khi nhận định cần kết hợp mạch tượng với thần sắc, hơi thở, tiếng nói, ăn uống, đại tiểu tiện và toàn bộ diễn biến của bệnh.
Bản tham khảo ghi “大、涪数、动、滑”; chữ “涪” là lỗi nhận dạng. Nguyên văn đúng phải là “大、浮、數、動、滑”, tức đại, phù, sác, động và hoạt.
Điều 02
Nguyên văn
問曰:脈有陽結、陰結者,何以別之?答曰:其脈浮而數,能食,不大便者,此為實,名曰陽結也,期十七日當劇;其脈沉而遲,不能食,身體重,大便反硬,名曰陰結也,期十四日當劇。
Hán Việt
Vấn viết: Mạch hữu dương kết, âm kết giả, hà dĩ biệt chi? Đáp viết: Kỳ mạch phù nhi sác, năng thực, bất đại tiện giả, thử vi thực, danh viết dương kết dã, kỳ thập thất nhật đương kịch; kỳ mạch trầm nhi trì, bất năng thực, thân thể trọng, đại tiện phản ngạnh, danh viết âm kết dã, kỳ thập tứ nhật đương kịch.
Dịch nghĩa
Hỏi: Dương kết và âm kết phải căn cứ vào đâu để phân biệt?
Đáp: Mạch phù mà sác, vẫn ăn uống được nhưng không đại tiện, đó là chứng thực, gọi là dương kết; đến khoảng ngày thứ mười bảy bệnh có thể trở nặng. Mạch trầm mà trì, không ăn được, thân thể nặng nề, đại tiện trái lại khô cứng, gọi là âm kết; đến khoảng ngày thứ mười bốn bệnh có thể trở nặng.
Giải thích từ ngữ
Dương kết: Đại tiện bí kết do táo nhiệt kết tụ bên trong.
Âm kết: Đại tiện bí kết do âm hàn ngưng trệ, dương khí không đủ sức vận hóa và truyền tống.
Kịch: Bệnh tình tăng nặng hoặc biểu hiện rõ rệt hơn.
Ý nghĩa căn bản
Điều này phân biệt hai tình trạng đại tiện bí kết có bệnh cơ đối lập.
Dương kết thuộc lý thực nhiệt. Nhiệt tà nung nấu tân dịch khiến ruột mất nhuận, phân khô khó xuống. Dương nhiệt thịnh nên mạch phù sác; công năng của vị chưa suy, vì vậy người bệnh vẫn ăn được.
Âm kết thuộc lý hư hàn. Âm hàn ngưng tụ, dương khí suy yếu, tỳ vị mất khả năng vận hóa và đại trường không đủ sức truyền tống. Vì thế mạch trầm trì, ăn uống giảm, thân thể nặng nề và đại tiện tuy khô cứng nhưng không có những biểu hiện thực nhiệt rõ rệt.
Điểm quan trọng không nằm riêng ở hiện tượng táo bón, mà ở việc phân biệt táo bón do nhiệt kết với táo bón do hàn ngưng. Cùng một biểu hiện đại tiện không thông nhưng phép trị hoàn toàn khác nhau: dương kết có thể cần thanh nhiệt, nhuận táo hoặc công hạ tùy chứng; âm kết cần chú trọng ôn dương, tán hàn và trợ vận hóa.
Chú ý
Không nên chỉ thấy đại tiện khô cứng liền xác định là thực nhiệt. Nếu người bệnh sợ lạnh, chân tay lạnh, bụng lạnh đau, ăn kém, mạch trầm trì hoặc trầm nhược thì cần nghĩ đến âm kết.
Về câu “期十七日當劇”, các bản lưu truyền có dị văn. Có bản chép “thập thất nhật”, có bản chép “thập lục nhật”. Những con số này phản ánh cách người xưa suy xét chu kỳ âm dương và diễn biến bệnh, nhưng lâm sàng không nên lấy đó làm thời hạn cố định.
Điều 03
Nguyên văn
問曰:病有灑淅惡寒,而復發熱者何?答曰:陰脈不足,陽往從之;陽脈不足,陰往乘之。曰:何謂陽不足?答曰:假令寸口脈微,名曰陽不足,陰氣上入陽中,則灑淅惡寒也。曰:何謂陰不足?答曰:尺脈弱,名曰陰不足,陽氣下陷入陰中,則發熱也。
Hán Việt
Vấn viết: Bệnh hữu sái tích ố hàn, nhi phục phát nhiệt giả hà? Đáp viết: Âm mạch bất túc, dương vãng tòng chi; dương mạch bất túc, âm vãng thừa chi. Viết: Hà vị dương bất túc? Đáp viết: Giả lệnh thốn khẩu mạch vi, danh viết dương bất túc, âm khí thượng nhập dương trung, tắc sái tích ố hàn dã. Viết: Hà vị âm bất túc? Đáp viết: Xích mạch nhược, danh viết âm bất túc, dương khí hạ hãm nhập âm trung, tắc phát nhiệt dã.
Dịch nghĩa
Hỏi: Có người vừa cảm thấy ớn lạnh như bị nước lạnh rưới vào thân, lại vừa phát sốt, nguyên nhân là gì?
Đáp: Âm mạch không đầy đủ thì dương khí theo đó lấn vào; dương mạch không đầy đủ thì âm khí thừa cơ lấn lên.
Hỏi: Thế nào là dương không đầy đủ?
Đáp: Giả sử mạch thốn khẩu vi yếu thì gọi là dương bất túc. Dương khí suy, âm khí thừa cơ xâm nhập phần dương, vì thế người bệnh cảm thấy từng cơn ớn lạnh.
Hỏi: Thế nào là âm không đầy đủ?
Đáp: Mạch bộ xích yếu thì gọi là âm bất túc. Âm không đủ sức giữ dương, dương khí lấn xuống phần âm, vì thế phát nhiệt.
Giải thích từ ngữ
Sái tích ố hàn: Cảm giác ớn lạnh từng cơn, tựa như có nước lạnh rưới lên người.
Thốn khẩu: Trong phạm vi điều văn này chủ yếu chỉ vị trí xem mạch ở cổ tay; khi đối với xích mạch, có thể hiểu thiên về bộ thốn.
Thừa: Bên này nhân lúc bên kia suy yếu mà lấn át.
Tòng: Đi theo, thuận theo; ở đây biểu thị một bên mất khả năng chế ước khiến bên kia thiên thắng.
Ý nghĩa căn bản
Điều văn giải thích một dạng phát nhiệt, ố hàn phát sinh từ sự thiên suy của âm dương bên trong, không hoàn toàn đồng nhất với phát nhiệt, ố hàn do ngoại tà mới xâm nhập.
Dương khí bất túc thì không đủ sức ôn ấm và bảo vệ phần ngoài. Âm hàn nhân đó lấn lên, làm xuất hiện cảm giác ớn lạnh. Âm dịch bất túc thì không đủ sức hàm dưỡng và chế ước dương khí. Dương khí trở nên thiên thắng, vì thế xuất hiện phát nhiệt.
Khi âm và dương đều suy, hai bên mất khả năng nương tựa và chế ước lẫn nhau, người bệnh có thể vừa ố hàn vừa phát nhiệt. Mạch thốn vi phản ánh dương khí suy; mạch xích nhược phản ánh âm phần không đầy đủ.
Chú ý
Phát nhiệt do âm hư và ố hàn do dương hư cần được phân biệt với ngoại cảm phong hàn. Ngoại cảm thường có thêm đau đầu, đau mình, nghẹt mũi, ho, mạch phù và diễn biến tương đối cấp. Âm dương bất túc thường có nền thể trạng suy yếu, bệnh kéo dài hoặc phát sinh sau khi ra nhiều mồ hôi, nôn, tiêu chảy, mất máu hay điều trị không thích hợp.
Điều 04
Nguyên văn
陽脈浮,陰脈弱者,則血虛,血虛則筋急也。其脈沉者,榮氣微也;其脈浮,而汗出如流珠者,衛氣衰也。榮氣微者,加燒針則血流不行,更發熱而躁煩也。
Hán Việt
Dương mạch phù, âm mạch nhược giả, tắc huyết hư; huyết hư tắc cân cấp dã. Kỳ mạch trầm giả, vinh khí vi dã; kỳ mạch phù, nhi hãn xuất như lưu châu giả, vệ khí suy dã. Vinh khí vi giả, gia thiêu châm tắc huyết lưu bất hành, cánh phát nhiệt nhi táo phiền dã.
Dịch nghĩa
Mạch phần dương phù, mạch phần âm yếu, đó là huyết hư; huyết hư thì gân mạch co rút, căng gấp. Nếu mạch trầm là doanh khí suy yếu; nếu mạch phù mà mồ hôi chảy thành giọt như những hạt châu thì vệ khí đã suy. Khi doanh khí vốn suy yếu mà lại dùng thiêu châm, huyết càng khó lưu hành, người bệnh sẽ phát nhiệt thêm, bứt rứt và phiền táo.
Giải thích từ ngữ
Dương mạch, âm mạch: Tùy cách hiểu có thể chỉ bộ thốn và bộ xích, cũng có thể chỉ phần mạch biểu hiện dương và phần mạch biểu hiện âm.
Vinh khí: Chính là doanh khí, thuộc âm, vận hành trong mạch và có quan hệ mật thiết với huyết.
Vệ khí: Thuộc dương, vận hành bên ngoài mạch, có tác dụng bảo vệ cơ thể, làm ấm phần ngoài và điều hòa sự đóng mở của tấu lý.
Cân cấp: Gân mạch co rút, căng cứng hoặc đau quắp do không được huyết nuôi dưỡng đầy đủ.
Thiêu châm: Một phương pháp dùng kim kết hợp sức nóng. Có thể nung kim hoặc truyền nhiệt qua thân kim, tùy phương pháp cụ thể của từng thời kỳ.
Ý nghĩa căn bản
Doanh thuộc âm, vệ thuộc dương. Doanh huyết không đầy đủ thì gân mạch mất sự nhu dưỡng, vì thế co rút và căng gấp. Vệ khí suy thì không giữ vững được phần ngoài, tấu lý mở, mồ hôi có thể chảy ra thành từng giọt.
Mạch phù trong trường hợp này không nhất thiết biểu thị ngoại tà ở biểu. Nếu mạch phù mà vô lực, lại kèm mồ hôi tự ra nhiều, đó có thể là vệ dương không bền chắc. Mạch trầm mà yếu cho thấy doanh huyết ở bên trong suy kém.
Khi doanh huyết đã hư mà dùng phương pháp trợ nhiệt quá mạnh, nhiệt có thể làm tổn thương âm huyết thêm. Huyết thiếu lại gặp nhiệt thì sự vận hành càng mất điều hòa, từ đó sinh phát nhiệt, bứt rứt và phiền táo.
Chú ý
Câu “血流不行” không chỉ nên hiểu theo nghĩa huyết hoàn toàn ngừng lưu thông. Trong mạch văn này, ý chính là doanh huyết vốn hư, lại bị nhiệt pháp làm tổn thương, khiến sự lưu hành và nuôi dưỡng của huyết càng trở ngại.
Không nên thấy mạch phù liền dùng phép phát hãn. Cần xét mạch phù hữu lực hay vô lực, có ngoại cảm hay không, đồng thời quan sát tình trạng mồ hôi và dấu hiệu suy tổn của doanh vệ.
Điều 05
Nguyên văn
脈藹藹如車蓋者,名曰陽結也。一云秋脈。
脈累累如循長竿者,名曰陰結也。一云夏脈。
脈瞥瞥如羹上肥者,陽氣微也。
脈縈縈如蜘蛛絲者,陽氣衰也。一云陰氣。
脈綿綿如瀉漆之絕者,亡其血也。
Hán Việt
Mạch ái ái như xa cái giả, danh viết dương kết dã. Nhất vân thu mạch.
Mạch luy luy như tuần trường can giả, danh viết âm kết dã. Nhất vân hạ mạch.
Mạch miết miết như canh thượng phì giả, dương khí vi dã.
Mạch oanh oanh như tri thù ty giả, dương khí suy dã. Nhất vân âm khí.
Mạch miên miên như tả tất chi tuyệt giả, vong kỳ huyết dã.
Dịch nghĩa
Mạch đến đầy và nổi như mui xe, gọi là mạch của dương kết. Có bản chép là mạch mùa thu.
Mạch đến liên tiếp, cứng và dài, dưới tay tựa như lần theo một cây sào, gọi là mạch của âm kết. Có bản chép là mạch mùa hạ.
Mạch thoáng nổi, mong manh như lớp mỡ nổi trên mặt canh, đó là dương khí đã suy vi.
Mạch nhỏ mảnh, quanh quẩn như sợi tơ nhện, đó là dương khí suy yếu. Có bản chép là âm khí suy.
Mạch mềm yếu, kéo dài rồi dần dứt như dòng sơn đang trút xuống gần cạn, đó là biểu hiện huyết đã hao tổn nghiêm trọng.
Giải thích từ ngữ
Ái ái: Chỉ trạng thái thịnh, đầy và nổi lên.
Luy luy: Có ý liên tiếp, thẳng và cứng.
Miết miết: Thoáng nổi, nhẹ và không bền chắc.
Oanh oanh: Nhỏ mảnh, quấn quanh, khó nắm bắt rõ ràng.
Miên miên: Mềm yếu nhưng kéo dài không dứt ngay.
Tả tất chi tuyệt: Hình ảnh dòng sơn được trút xuống, ban đầu còn lớn, sau nhỏ dần rồi sắp đứt.
Ý nghĩa căn bản
Điều văn dùng những hình ảnh quen thuộc để mô tả cảm giác mạch dưới đầu ngón tay. Đây là phương pháp thường gặp trong mạch học cổ đại, bởi hình thái mạch rất khó diễn đạt hoàn toàn bằng lời.
Mạch của dương kết có xu hướng nổi và thịnh, giống như mui xe nhô cao. Mạch của âm kết có xu hướng trầm, cứng và kéo dài, giống như lần tay theo một cây sào. Hai hình ảnh này tiếp tục làm rõ sự khác biệt giữa nhiệt kết thuộc dương và hàn kết thuộc âm.
Mạch như lớp mỡ nổi trên mặt canh tuy ở phía trên nhưng nhẹ, tản và không chịu được sức ấn, cho thấy dương khí không còn bền chắc. Mạch như tơ nhện nhỏ mảnh đến mức khó nhận biết, biểu thị khí đã suy đáng kể. Mạch mềm yếu, trước tương đối lớn rồi nhỏ dần như dòng sơn sắp hết phản ánh huyết suy hao, mạch đạo không được充 đầy.
Chú ý
Những hình ảnh như “mui xe”, “cây sào”, “mỡ nổi trên canh”, “tơ nhện” và “dòng sơn sắp dứt” chỉ nhằm gợi tả cảm giác dưới tay. Không nên cố gắng đồng nhất hoàn toàn mỗi hình ảnh với một tên mạch hiện đại.
Bản tham khảo ghi “前大后孝”; chữ “孝” là lỗi nhận dạng. Câu đúng phải là “前大後小”, nghĩa là phía trước lớn, về sau nhỏ dần.
Đối với câu “脈縈縈如蜘蛛絲者”, có bản chép “陽氣衰也”, có bản lại ghi “陰氣衰也”. Vì vậy, khi giải thích cần giữ thái độ thận trọng, đồng thời căn cứ toàn bộ mạch chứng để nhận định khí hay âm huyết đang suy tổn.
Điều 06
Nguyên văn
脈來緩,時一止復來者,名曰結;脈來數,時一止復來者,名曰促。脈陽盛則促,陰盛則結,此皆病脈。
Hán Việt
Mạch lai hoãn, thời nhất chỉ phục lai giả, danh viết kết; mạch lai sác, thời nhất chỉ phục lai giả, danh viết xúc. Mạch dương thịnh tắc xúc, âm thịnh tắc kết, thử giai bệnh mạch.
Dịch nghĩa
Mạch đến chậm, thỉnh thoảng ngừng một nhịp rồi trở lại, gọi là kết mạch. Mạch đến nhanh, thỉnh thoảng ngừng một nhịp rồi trở lại, gọi là xúc mạch. Dương thịnh thì mạch xúc, âm thịnh thì mạch kết; cả hai đều là mạch bệnh.
Giải thích từ ngữ
Hoãn: Trong điều văn này chủ yếu chỉ nhịp mạch đến tương đối chậm, không nên hoàn toàn đồng nhất với hoãn mạch theo định nghĩa của mạch học đời sau.
Thời nhất chỉ phục lai: Thỉnh thoảng ngừng một nhịp nhưng sau đó tự trở lại; thời điểm ngừng không có quy luật cố định.
Kết mạch: Mạch đến chậm và có lúc ngừng không đều.
Xúc mạch: Mạch đến nhanh và có lúc ngừng không đều.
Ý nghĩa căn bản
Kết mạch và xúc mạch đều có hiện tượng ngừng nhịp, nhưng tính chất căn bản khác nhau.
Kết mạch lấy chậm làm nền tảng. Âm hàn thiên thịnh hoặc dương khí suy yếu khiến khí huyết vận hành chậm, mạch khí không nối tiếp đều đặn, vì vậy thỉnh thoảng xuất hiện một nhịp ngừng.
Xúc mạch lấy nhanh làm nền tảng. Dương nhiệt thiên thịnh làm khí huyết vận hành gấp, nhưng sự vận hành ấy không điều hòa, vì vậy mạch đang nhanh lại có lúc ngừng đột ngột.
Điểm chung của hai mạch là sau khi ngừng đều có thể tự trở lại và khoảng cách giữa những lần ngừng không cố định. Điều này phản ánh nhịp vận hành của khí huyết đã mất điều hòa, nhưng mạch khí chưa hoàn toàn đứt đoạn.
Chú ý
Kết mạch không phải lúc nào cũng chỉ do âm thịnh. Mạch này còn có thể gặp trong khí kết, hàn đàm, huyết ứ hoặc khí huyết suy yếu. Xúc mạch ngoài dương nhiệt thịnh còn có thể xuất hiện khi đàm, thực tích hoặc khí huyết trở ngại làm mạch khí không thông.
Cần phân biệt kết mạch và xúc mạch với đại mạch. Kết và xúc ngừng không có quy luật; đại mạch thường ngừng theo khoảng cách tương đối cố định, thời gian ngừng dài hơn, thường biểu thị tạng khí suy hoặc nguyên khí tổn thương đáng kể.
Trong thực hành hiện nay, nếu bắt gặp mạch có nhịp ngừng hoặc không đều, cần kết hợp thăm khám tim mạch và các phương tiện chẩn đoán thích hợp, không nên chỉ căn cứ vào tên mạch cổ truyền.
Điều 07
Nguyên văn
脈浮而緊者,名曰弦也。弦者,狀如弓弦,按之不移也。
脈緊者,如轉索無常也。
Hán Việt
Mạch phù nhi khẩn giả, danh viết huyền dã. Huyền giả, trạng như cung huyền, án chi bất di dã.
Mạch khẩn giả, như chuyển sách vô thường dã.
Dịch nghĩa
Mạch nổi mà căng gấp được gọi là huyền. Sở dĩ gọi là huyền vì hình trạng của nó thẳng và căng như dây cung, ấn xuống vẫn giữ nguyên vị trí, không chuyển động sang hai bên.
Khẩn mạch thì căng gấp và xoay chuyển dưới tay, tựa như sợi dây đang được vặn, trạng thái không cố định.
Giải thích từ ngữ
Huyền: Mạch thẳng, dài và căng, dưới tay có cảm giác như ấn lên dây đàn hoặc dây cung.
Khẩn: Mạch căng gấp và mạnh, có cảm giác xoay chuyển, bật sang hai bên như sợi dây đang được vặn.
Chuyển sách: Xoắn hoặc vặn một sợi dây.
Án chi bất di: Khi ấn xuống, thân mạch vẫn thẳng và giữ tương đối ổn định, không có cảm giác xoay chuyển.
Ý nghĩa căn bản
Điều văn dùng hình ảnh dây cung và dây thừng xoắn để phân biệt huyền mạch với khẩn mạch. Hai mạch đều có cảm giác căng gấp nên dễ nhầm lẫn, nhưng hình thái dưới tay không giống nhau.
Huyền mạch thẳng, dài, căng và tương đối ổn định. Khi tăng hoặc giảm sức ấn, người khám vẫn cảm nhận một đường mạch ngay thẳng, không chuyển động rõ sang hai bên.
Khẩn mạch căng gấp, mạnh và có cảm giác xoay chuyển. Mạch đến như sợi dây được vặn chặt, dưới ngón tay có xu hướng bật và chuyển động không ổn định.
Về chủ bệnh, huyền mạch thường liên quan đến bệnh của can đởm, đau, đàm ẩm hoặc khí cơ không thông. Khẩn mạch thường gặp khi hàn tà bó buộc, đau cấp hoặc thực tích. Tuy nhiên, điều văn này trước hết nhằm mô tả hình trạng, chưa phải là quy định đầy đủ mọi bệnh chứng của hai mạch.
Chú ý
Câu “脈浮而緊者,名曰弦也” dễ khiến người đọc hiểu rằng phù kết hợp với khẩn chính là huyền. Thực ra, ý chính nằm ở đặc điểm căng, thẳng và không chuyển dịch như dây cung. Không nên lấy một mạch phù khẩn điển hình của Thái dương thương hàn đồng nhất với huyền mạch.
Khi nhận biết huyền và khẩn, cần chú ý cả chiều dài, độ thẳng, sức căng, cảm giác xoay chuyển và sự thay đổi khi tăng sức ấn.
Điều 08
Nguyên văn
脈弦而大,弦則為減,大則為芤,減則為寒,芤則為虛,寒虛相搏,此名為革,婦人則半產漏下,男子則亡血失精。
Hán Việt
Mạch huyền nhi đại, huyền tắc vi giảm, đại tắc vi khâu; giảm tắc vi hàn, khâu tắc vi hư; hàn hư tương bác, thử danh vi cách. Phụ nhân tắc bán sản lậu hạ, nam tử tắc vong huyết thất tinh.
Dịch nghĩa
Mạch vừa huyền vừa đại. Tính chất huyền biểu thị sự suy giảm; tính chất đại mà rỗng ở giữa biểu hiện như khâu mạch. Suy giảm thì sinh hàn, khâu mạch biểu thị hư. Hàn và hư kết hợp với nhau tạo thành cách mạch. Phụ nữ gặp mạch này thường liên quan đến sẩy thai hoặc huyết ra rỉ rả; nam giới thường liên quan đến mất máu hoặc thất thoát tinh khí.
Giải thích từ ngữ
Giảm: Suy giảm, không đầy đủ; ở đây chủ yếu chỉ dương khí suy.
Khâu mạch: Mạch nổi và tương đối lớn, hai bên có lực nhưng khoảng giữa rỗng, được ví như ấn lên thân ống hành.
Cách mạch: Mạch nổi, lớn, bên ngoài căng cứng nhưng bên trong rỗng, giống như mặt trống được căng bằng da.
Bán sản: Thai chưa đủ tháng đã ra; gần với khái niệm sẩy thai hoặc sinh non tùy hoàn cảnh.
Lậu hạ: Huyết từ tử cung ra dai dẳng, nhỏ giọt, không đúng kỳ.
Vong huyết: Mất máu hoặc huyết hao tổn nghiêm trọng.
Thất tinh: Tinh khí thất thoát, thường biểu hiện di tinh, hoạt tinh hoặc tinh huyết suy tổn.
Ý nghĩa căn bản
Cách mạch có đặc điểm bên ngoài căng cứng mà bên trong trống rỗng. Phần nổi và căng khiến mạch có vẻ mạnh, nhưng khi ấn sâu lại thấy thiếu lực. Đây là hiện tượng bề ngoài có vẻ hữu dư nhưng bên trong thực chất bất túc.
Mạch huyền biểu hiện sự căng gấp do dương khí không còn nhu hòa; mạch đại mà rỗng như khâu cho thấy âm huyết không充 đầy mạch đạo. Dương suy thì hàn sinh, tinh huyết hư thì mạch mất sự充 dưỡng. Hư và hàn cùng hiện diện tạo nên hình thái của cách mạch.
Ở phụ nữ, tinh huyết tổn thương có thể biểu hiện thai không vững, sẩy thai hoặc lậu hạ. Ở nam giới, tình trạng này thường liên quan đến mất máu, tinh khí suy tổn, di tinh hoặc hoạt tinh. Điều văn lấy những chứng trạng ấy để minh họa bệnh cơ chủ yếu của cách mạch là dương khí suy và tinh huyết hư.
Chú ý
Cách mạch tuy có cảm giác nổi, lớn và căng nhưng không phải mạch thực. Điểm quan trọng là khi ấn sâu thấy rỗng và kém lực. Nếu chỉ căn cứ vào phần nổi bên ngoài, rất dễ nhận nhầm hư chứng thành thực chứng.
“Phụ nhân tắc bán sản lậu hạ, nam tử tắc vong huyết thất tinh” không có nghĩa mọi người xuất hiện cách mạch đều nhất định mắc những bệnh này. Đây là những bệnh chứng tiêu biểu do tinh huyết suy hao mà điều văn nêu ra.
Điều 09
Nguyên văn
問曰:病有戰而汗出,因得解者,何也?答曰:脈浮而緊,按之反芤,此為本虛,故當戰而汗出也。其人本虛,是以發戰,以脈浮,故當汗出而解也。若脈浮而數,按之不芤,此人本不虛,若欲自解,但汗出耳,不發戰也。
Hán Việt
Vấn viết: Bệnh hữu chiến nhi hãn xuất, nhân đắc giải giả, hà dã? Đáp viết: Mạch phù nhi khẩn, án chi phản khâu, thử vi bản hư, cố đương chiến nhi hãn xuất dã. Kỳ nhân bản hư, thị dĩ phát chiến; dĩ mạch phù, cố đương hãn xuất nhi giải dã. Nhược mạch phù nhi sác, án chi bất khâu, thử nhân bản bất hư; nhược dục tự giải, đản hãn xuất nhĩ, bất phát chiến dã.
Dịch nghĩa
Hỏi: Có người lên cơn run rẩy, sau đó ra mồ hôi rồi bệnh được giải, nguyên nhân là gì?
Đáp: Mạch phù mà khẩn, nhưng ấn xuống lại thấy rỗng như khâu, đó là chính khí vốn hư, vì vậy trước khi ra mồ hôi phải trải qua cơn run rẩy. Người bệnh vốn hư nên phát chiến; mạch phù cho thấy tà khí có chiều hướng ra ngoài, vì thế sau khi ra mồ hôi bệnh có thể được giải.
Nếu mạch phù sác, ấn xuống không thấy rỗng, người này chính khí vốn không hư. Khi bệnh muốn tự giải thì chỉ ra mồ hôi mà không phát chiến.
Giải thích từ ngữ
Chiến: Toàn thân run rẩy tương đối mạnh, răng có thể va vào nhau, khác với cảm giác hơi ớn lạnh thông thường.
Hãn xuất nhi giải: Sau khi ra mồ hôi, tà khí được giải, thân nhiệt điều hòa và các chứng giảm xuống.
Bản hư: Chính khí của cơ thể vốn suy yếu.
Án chi phản khâu: Khi ấn sâu thấy mạch rỗng và thiếu lực như khâu mạch.
Ý nghĩa căn bản
Điều này trình bày hai hình thức bệnh tự giải qua đường mồ hôi, căn cứ vào mức độ mạnh yếu của chính khí.
Trường hợp thứ nhất, tà khí còn ở phần ngoài nên mạch phù, nhưng mạch ấn xuống rỗng cho thấy chính khí không đầy đủ. Khi chính khí tập trung để đẩy tà ra ngoài, hai bên tranh chấp mạnh mà sinh phát chiến. Sau cơn run, dương khí thông đạt, tấu lý mở và mồ hôi thoát ra; tà theo mồ hôi mà giải.
Trường hợp thứ hai, mạch phù sác nhưng ấn xuống vẫn có lực, chứng tỏ chính khí chưa suy. Cơ thể có thể đẩy tà ra ngoài tương đối thuận lợi, vì vậy bệnh tự giải bằng mồ hôi mà không cần trải qua cơn run rẩy.
Điều văn cho thấy hiện tượng phát chiến trước khi ra mồ hôi không nhất thiết biểu thị bệnh trở nặng. Trong hoàn cảnh mạch chứng phù hợp, phát chiến rồi ra mồ hôi có thể là dấu hiệu chính tà giao tranh và bệnh chuyển sang chiều hướng được giải.
Chú ý
Không phải mọi trường hợp run rẩy rồi vã mồ hôi đều là dấu hiệu tốt. Chỉ có thể xem là chiến hãn giải bệnh khi sau đó thân nhiệt điều hòa, tinh thần khá hơn, mạch hòa hoãn và các chứng giảm rõ.
Nếu sau khi vã mồ hôi mà tay chân lạnh, sắc mặt nhợt, thở yếu, mạch vi muốn tuyệt hoặc thần trí thay đổi thì cần nghĩ đến dương khí thoát hoặc tình trạng nguy cấp, không được xem đó là bệnh đang tự giải.
Điều 10
Nguyên văn
問曰:病有不戰而汗出解者,何也?答曰:脈大而浮數,故知不戰汗出而解也。
Hán Việt
Vấn viết: Bệnh hữu bất chiến nhi hãn xuất giải giả, hà dã? Đáp viết: Mạch đại nhi phù sác, cố tri bất chiến hãn xuất nhi giải dã.
Dịch nghĩa
Hỏi: Có người không phát chiến mà ra mồ hôi rồi bệnh được giải, nguyên nhân là gì?
Đáp: Vì mạch đại, phù và sác, nên biết người ấy có thể ra mồ hôi mà bệnh được giải, không cần trải qua cơn run rẩy.
Giải thích từ ngữ
Đại nhi phù sác: Mạch có hình thể lớn, vị trí nổi và nhịp đến nhanh. Trong mạch văn này, mạch vẫn có sức, không mang đặc điểm rỗng yếu như khâu mạch.
Bất chiến: Không xuất hiện cơn run mạnh do chính khí phải tập trung chống lại tà khí.
Ý nghĩa căn bản
Điều này tiếp nối điều trước, làm rõ vai trò của chính khí trong quá trình bệnh tự giải.
Mạch đại, phù, sác cho thấy khí huyết còn tương đối充盛, dương khí có khả năng đưa tà khí từ phần ngoài theo mồ hôi mà giải. Chính khí không hư nên quá trình đẩy tà diễn ra tương đối thuận lợi, không tạo thành cuộc tranh chấp mạnh biểu hiện bằng phát chiến.
Có phát chiến hay không phụ thuộc vào tương quan giữa chính khí và tà khí. Chính khí hơi hư nhưng vẫn còn khả năng chống tà thì có thể phải trải qua chiến hãn; chính khí充足 hơn thì chỉ cần ra mồ hôi, bệnh cũng có thể được giải.
Chú ý
Mạch đại, phù, sác trong điều này được hiểu trong hoàn cảnh bệnh có chiều hướng tự giải. Nếu mạch đại sác mà vô lực, kèm sốt cao, khát nhiều, phiền táo hoặc thần khí suy giảm thì cần phân tích theo bệnh cảnh khác, không thể chỉ dựa vào hình thái mạch để kết luận bệnh sắp khỏi.
Điều 11
Nguyên văn
問曰:傷寒三日,脈浮數而微,病人身涼和者,何也?答曰:此為欲解也,解以夜半。脈浮而解者,濈然汗出也;脈數而解者,必能食也;脈微而解者,必大汗出也。
Hán Việt
Vấn viết: Thương hàn tam nhật, mạch phù sác nhi vi, bệnh nhân thân lương hòa giả, hà dã? Đáp viết: Thử vi dục giải dã, giải dĩ dạ bán. Mạch phù nhi giải giả, trập nhiên hãn xuất dã; mạch sác nhi giải giả, tất năng thực dã; mạch vi nhi giải giả, tất đại hãn xuất dã.
Dịch nghĩa
Hỏi: Người mắc thương hàn đã ba ngày, mạch phù sác nhưng dần nhỏ lại, thân thể trở nên mát và điều hòa, đó là biểu hiện gì?
Đáp: Đây là dấu hiệu bệnh sắp được giải, thời điểm có thể chuyển biến rõ vào khoảng nửa đêm. Nếu bệnh giải từ phù mạch thì toàn thân sẽ ra mồ hôi thông suốt; nếu bệnh giải từ sác mạch thì người bệnh nhất định có thể ăn uống trở lại; nếu bệnh giải mà mạch chuyển vi thì có thể ra nhiều mồ hôi.
Giải thích từ ngữ
Thân lương hòa: Thân thể không còn nóng dữ hoặc lạnh bất thường, nhiệt độ và cảm giác toàn thân dần trở lại điều hòa.
Dục giải: Bệnh đang có chiều hướng lui và sắp được giải.
Dạ bán: Khoảng nửa đêm, thời điểm âm cực và dương bắt đầu sinh theo quan niệm thời khí cổ truyền.
Trập nhiên hãn xuất: Mồ hôi thấm ra toàn thân một cách thông suốt và hòa hoãn.
Ý nghĩa căn bản
Điều văn căn cứ vào sự chuyển biến của mạch, thân nhiệt, khả năng ăn uống và mồ hôi để nhận biết bệnh sắp tự giải.
Mạch phù biểu thị tà còn có đường ra ngoài; khi bệnh giải, tấu lý thông mà mồ hôi thấm ra. Mạch sác vốn biểu thị nhiệt hoặc sự tranh chấp của chính tà; khi bệnh lui, vị khí phục hồi và người bệnh có thể ăn trở lại. Mạch từ phù sác chuyển vi, đồng thời thân thể mát và điều hòa, có thể biểu thị tà khí đang suy, không nhất thiết là chính khí suy kiệt.
Nửa đêm là lúc âm khí đạt đến cực điểm rồi dương khí bắt đầu sinh. Điều văn dùng quy luật âm dương tiêu trưởng để giải thích thời điểm bệnh có thể chuyển sang trạng thái điều hòa.
Chú ý
Chữ “vi” phải được đặt trong toàn bộ mạch chứng. Nếu mạch chuyển nhỏ nhưng thân thể mát hòa, tinh thần tỉnh, hơi thở đều và các chứng thuyên giảm thì có thể là tà lui. Nếu mạch vi đi kèm tay chân quyết lạnh, sắc mặt nhợt, mồ hôi lạnh, tinh thần suy hoặc hơi thở yếu thì lại là chính khí suy thoát, thuộc tình trạng nguy hiểm.
Câu “脈微而解者,必大汗出也” có cách giải thích khác nhau. Không nên hiểu rằng ra mồ hôi càng nhiều thì bệnh càng dễ khỏi. Mồ hôi tự nhiên, đều và sau đó mạch chứng điều hòa mới có ý nghĩa bệnh giải; mồ hôi ra quá nhiều làm tổn thương tân dịch và dương khí thì không thuộc phạm vi này.
Điều 12
Nguyên văn
問曰:脈病欲知愈未愈者,何以別之?答曰:寸口、關上、尺中三處,大小、浮沉、遲數同等,雖有寒熱不解者,此脈陰陽為和平,雖劇當愈。
Hán Việt
Vấn viết: Mạch bệnh dục tri dũ vị dũ giả, hà dĩ biệt chi? Đáp viết: Thốn khẩu, quan thượng, xích trung tam xứ, đại tiểu, phù trầm, trì sác đồng đẳng, tuy hữu hàn nhiệt bất giải giả, thử mạch âm dương vi hòa bình, tuy kịch đương dũ.
Dịch nghĩa
Hỏi: Khi chẩn sát bệnh, muốn biết bệnh sẽ khỏi hay chưa khỏi thì căn cứ vào đâu để phân biệt?
Đáp: Nếu ba bộ thốn, quan và xích có sự tương ứng; mạch lớn nhỏ, nổi chìm, nhanh chậm đều tương đối điều hòa, thì dù người bệnh vẫn còn nóng lạnh chưa dứt, mạch ấy cũng cho thấy âm dương đang trở lại hòa bình. Bệnh tuy còn nặng nhưng rồi sẽ khỏi.
Giải thích từ ngữ
Mạch bệnh: Có thể hiểu là xem mạch để chẩn sát bệnh, không phải tên của một loại mạch.
Thốn khẩu: Vị trí xem mạch ở cổ tay, gồm ba bộ thốn, quan và xích.
Quan thượng: Bộ quan, nằm giữa bộ thốn và bộ xích.
Xích trung: Bộ xích, ở phía gần khuỷu tay hơn so với bộ quan.
Đồng đẳng: Các bộ mạch không chênh lệch quá mức, trên dưới và trước sau còn giữ được sự tương ứng.
Âm dương hòa bình: Âm dương dần trở lại cân bằng, khí huyết vận hành có trật tự, mạch tượng không còn biểu hiện sự phân ly nghiêm trọng.
Ý nghĩa căn bản
Điều này lấy trạng thái điều hòa của ba bộ mạch làm căn cứ dự đoán chiều hướng hồi phục.
Mạch khỏe mạnh không nhất thiết phải hoàn toàn giống nhau ở mọi bộ, mà chủ yếu cần có vị khí, có thần và có căn. Ba bộ thốn, quan, xích tuy có thể khác nhau đôi chút nhưng vẫn nối tiếp, cân đối và không xuất hiện sự chênh lệch quá lớn về sức mạnh, độ nổi chìm hoặc nhanh chậm.
Khi bệnh còn biểu hiện hàn nhiệt nhưng mạch đã dần hòa hoãn, đó là dấu hiệu chính khí đang phục hồi và âm dương có khả năng tự điều chỉnh. Vì vậy, bệnh trạng bên ngoài tuy chưa hết, xu hướng bên trong đã chuyển về thuận.
Ngược lại, nếu triệu chứng có vẻ không nặng nhưng ba bộ mạch tán loạn, trước sau không nối tiếp, phù trầm không tương ứng hoặc mạch không có căn thì dự hậu cần được xem xét thận trọng.
Chú ý
“Đại tiểu, phù trầm, trì sác đồng đẳng” không có nghĩa ba bộ mạch phải giống nhau hoàn toàn. Nam nữ, tuổi tác, thể chất, thời tiết và vị trí tạng phủ đều có thể tạo nên những sai biệt sinh lý. Điều văn nhấn mạnh sự điều hòa chung, không phải sự đồng nhất máy móc.
Bản tham khảo có các lỗi “大孝” và “疾玻”. Đây là lỗi nhận dạng chữ. Văn bản đúng lần lượt là “大小”, nghĩa là lớn nhỏ, và “疾病”, nghĩa là bệnh tật.
Điều 13
Nguyên văn
師曰:立夏脈洪大,是其本位,其人病身體苦疼重者,須發其汗。若明日身不疼不重者,不須發汗。若汗濈濈自出者,明日便解矣。何以言之?立夏脈洪大,是其時脈,故使然也。四時仿此。
Hán Việt
Sư viết: Lập hạ mạch hồng đại, thị kỳ bản vị; kỳ nhân bệnh thân thể khổ đông trọng giả, tu phát kỳ hãn. Nhược minh nhật thân bất đông bất trọng giả, bất tu phát hãn. Nhược hãn trập trập tự xuất giả, minh nhật tiện giải hĩ. Hà dĩ ngôn chi? Lập hạ mạch hồng đại, thị kỳ thời mạch, cố sử nhiên dã. Tứ thời phỏng thử.
Dịch nghĩa
Thầy nói: Vào tiết Lập hạ, mạch hồng đại là mạch phù hợp với thời mùa. Nếu người bệnh khổ sở vì thân thể đau nhức, nặng nề thì cần xem xét phát hãn. Nếu sang ngày hôm sau thân thể không còn đau và nặng thì không cần phát hãn nữa. Nếu mồ hôi tự thấm ra khắp người thì sang ngày hôm sau bệnh có thể được giải.
Vì sao nói như vậy? Bởi vào tiết Lập hạ, mạch hồng đại là mạch tương ứng với thời khí. Chính khí còn thuận theo mùa nên bệnh có khả năng chuyển giải. Mạch của bốn mùa đều có thể suy xét tương tự.
Giải thích từ ngữ
Lập hạ: Một trong hai mươi bốn tiết khí, đánh dấu thời điểm bắt đầu mùa hạ theo lịch pháp cổ truyền.
Hồng đại: Mạch đến mạnh, phạm vi rộng, có khí thế tương đối lớn; thường là mạch tương ứng với mùa hạ.
Bản vị: Vị trí hoặc trạng thái vốn có; ở đây chỉ mạch phù hợp với thời mùa.
Hãn trập trập: Mồ hôi thấm ra liên tục và hòa hoãn, không phải mồ hôi thoát ra đầm đìa.
Tứ thời phỏng thử: Có thể dựa theo nguyên tắc này để suy xét mạch tượng của bốn mùa.
Ý nghĩa căn bản
Khí huyết của con người có quan hệ mật thiết với sự biến đổi của thiên nhiên. Người xưa khái quát mạch bốn mùa bằng các đặc điểm: mùa xuân hơi huyền, mùa hạ hơi hồng, mùa thu hơi phù hoặc mao, mùa đông hơi trầm hoặc thạch.
Mạch hồng đại vào đầu mùa hạ chưa hẳn là bệnh mạch, bởi đó có thể là phản ứng sinh lý thuận theo thời khí. Nếu người bệnh có thân đau, nặng nề, biểu tà chưa giải thì có thể cân nhắc phát hãn. Nhưng nếu sang ngày hôm sau đau nặng đã hết hoặc mồ hôi tự ra hòa hoãn thì biểu tà đang tự giải, không cần tiếp tục dùng phép phát hãn.
Điều văn nhấn mạnh rằng mạch tượng phải được đặt trong hoàn cảnh thời tiết, mùa khí và diễn biến cụ thể của chứng trạng. Cùng một mạch hồng đại, mùa hạ có thể là mạch thuận thời; xuất hiện trong hoàn cảnh khác lại có thể phản ánh tà nhiệt hoặc chính khí suy tổn.
Chú ý
Câu “tu phát kỳ hãn” không có nghĩa hễ thấy thân thể đau nặng vào mùa hạ là phải phát hãn. Cần xác định còn biểu chứng và chính khí có khả năng chịu được phép trị hay không.
Nếu mồ hôi đã tự ra, thân đau nặng đã giảm thì tiếp tục phát hãn có thể làm tổn thương tân dịch và dương khí. Điều này thể hiện nguyên tắc theo dõi sự biến đổi của bệnh, không giữ nguyên phép trị khi chứng đã thay đổi.
Điều 14
Nguyên văn
寸口脈,浮為在表,沉為在裏,數為在腑,遲為在臟。假令脈遲,此為在臟也。
Hán Việt
Thốn khẩu mạch, phù vi tại biểu, trầm vi tại lý, sác vi tại phủ, trì vi tại tạng. Giả lệnh mạch trì, thử vi tại tạng dã.
Dịch nghĩa
Xét mạch ở thốn khẩu, mạch phù biểu thị bệnh ở biểu; mạch trầm biểu thị bệnh ở lý; mạch sác biểu thị bệnh thiên về phủ; mạch trì biểu thị bệnh thiên về tạng. Giả sử xuất hiện trì mạch thì có thể nhận định bệnh thiên về phần tạng.
Giải thích từ ngữ
Tại biểu: Bệnh ở phần ngoài của cơ thể, thường liên quan đến da lông, tấu lý, kinh lạc và sự chống đỡ ban đầu của vệ khí.
Tại lý: Bệnh đã vào phần bên trong, liên quan đến tạng phủ, khí huyết hoặc các tổ chức sâu hơn.
Tại phủ: Trong điều văn này chủ yếu biểu thị bệnh thiên về dương, nhiệt hoặc thực, không nhất thiết chỉ đích danh một phủ cụ thể.
Tại tạng: Chủ yếu biểu thị bệnh thiên về âm, hàn hoặc hư, không có nghĩa cứ gặp trì mạch là một trong năm tạng đã tổn thương thực thể.
Ý nghĩa căn bản
Điều văn dùng bốn mạch phù, trầm, sác và trì để khái quát bệnh vị cùng thuộc tính âm dương của bệnh.
Phù chủ biểu vì mạch khí biểu hiện ở phần nông; trầm chủ lý vì phải ấn sâu mới cảm nhận được. Sác thuộc dương, thường liên quan đến nhiệt và hoạt động tăng mạnh nên được quy về phủ. Trì thuộc âm, thường liên quan đến hàn và sự vận hành suy chậm nên được quy về tạng.
Đây là phép quy nạp tổng quát nhằm định hướng biện chứng. Khi áp dụng vẫn phải kết hợp sức mạch và chứng trạng. Chẳng hạn, mạch phù hữu lực thường gặp ở biểu thực; phù vô lực có thể thuộc biểu hư hoặc dương khí không thu liễm. Mạch trầm hữu lực thường nghiêng về lý thực; trầm vô lực thường nghiêng về lý hư.
Chú ý
Không nên hiểu “sác tại phủ, trì tại tạng” theo nghĩa tuyệt đối. Mạch sác cũng có thể gặp trong âm hư nội nhiệt hoặc dương khí sắp thoát; mạch trì cũng có thể xuất hiện do tà thực, đàm ẩm, khí trệ hoặc đau làm trở ngại mạch khí.
Việc xác định bệnh ở tạng hay phủ cần kết hợp triệu chứng toàn thân, tiêu hóa, đại tiểu tiện, thần chí, lưỡi và các bộ mạch liên quan.
Điều 15
Nguyên văn
趺陽脈浮而澀,少陰脈如經者,其病在脾,法當下利。何以知之?若脈浮大者,氣實血虛也;今趺陽脈浮而澀,故知脾氣不足,胃氣虛也。以少陰脈弦而浮纔見,此為調脈,故稱如經也。若反滑而數者,故知當屎膿也。《玉函》作溺。
Hán Việt
Phù dương mạch phù nhi sáp, Thiếu âm mạch như kinh giả, kỳ bệnh tại tỳ, pháp đương hạ lợi. Hà dĩ tri chi? Nhược mạch phù đại giả, khí thực huyết hư dã; kim Phù dương mạch phù nhi sáp, cố tri tỳ khí bất túc, vị khí hư dã. Dĩ Thiếu âm mạch huyền nhi phù tài kiến, thử vi điều mạch, cố xưng như kinh dã. Nhược phản hoạt nhi sác giả, cố tri đương thỉ nùng dã. Ngọc Hàm tác niệu.
Dịch nghĩa
Phù dương mạch phù mà sáp, trong khi Thiếu âm mạch vẫn như thường, thì bệnh thuộc về tỳ, theo bệnh cơ có thể xuất hiện hạ lợi. Vì sao biết như vậy?
Nếu mạch phù đại thì có thể là khí thịnh mà huyết hư. Nay Phù dương mạch không phù đại mà lại phù sáp, nên biết tỳ khí bất túc, vị khí suy yếu. Thiếu âm mạch chỉ hơi huyền và phù, vẫn là mạch tương đối điều hòa, vì thế nói là như thường.
Nếu Thiếu âm mạch trái lại hoạt sác thì biết hạ tiêu có nhiệt, về sau có thể đại tiện ra mủ máu. Sách Ngọc Hàm chép chữ “niệu”, tức có thể hiểu là tiểu tiện ra mủ.
Giải thích từ ngữ
Phù dương mạch: Mạch động ở mu bàn chân, tại khu vực huyệt Túc Dương minh Vị kinh Vị-42 Xung dương. Người xưa dùng mạch này để khảo sát tình trạng của vị khí.
Thiếu âm mạch: Thường chỉ mạch động ở vùng phía sau mắt cá trong, gần huyệt Thận-3 Thái khê, dùng để khảo sát thận khí và tình trạng của phần dưới cơ thể.
Như kinh: Như thường, vẫn tuân theo trạng thái bình thường.
Hạ lợi: Đại tiện lỏng nhiều lần; tùy bệnh cảnh có thể là tiêu chảy thông thường hoặc lỵ.
Thỉ nùng: Đại tiện có mủ; trong bối cảnh hoạt sác thường có thể kèm máu.
Ngọc Hàm: Chỉ Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh (金匱玉函經), một hệ thống văn bản quan trọng có quan hệ với Thương Hàn Luận.
Ý nghĩa căn bản
Điều văn phối hợp Phù dương mạch với Thiếu âm mạch để phân định bệnh thuộc tỳ vị hay thuộc thận.
Phù dương là vị trí khảo sát vị khí. Mạch ở đây phù sáp, không trơn tru và充盛, cho thấy nguồn sinh hóa của tỳ vị suy yếu. Tỳ khí không vận hóa được thủy cốc, thanh khí không thăng, trọc âm không giáng theo trật tự nên dễ phát sinh hạ lợi.
Trong khi đó, Thiếu âm mạch vẫn tương đối bình thường, chứng tỏ bệnh chưa lấy thận khí suy tổn làm chính. Vì vậy, bệnh vị được xác định thiên về tỳ vị.
Nếu Thiếu âm mạch chuyển thành hoạt sác thì tính chất bệnh đã thay đổi. Hoạt chủ đàm, thấp hoặc tà khí thịnh; sác chủ nhiệt. Thấp nhiệt kết ở hạ tiêu, làm tổn thương huyết lạc, có thể dẫn đến đại tiện ra mủ máu hoặc tiểu tiện đục có mủ, tùy theo dị văn được sử dụng.
Chú ý
Câu “少陰脈弦而浮纔見” có văn nghĩa khó và tồn tại những cách giảng khác nhau. Không nên dựa riêng vào sự quy thuộc ngũ hành của huyền mạch và phù mạch để kết luận Thiếu âm hoàn toàn vô bệnh. Trọng điểm vẫn là so sánh: Phù dương mạch đã bất thường, còn Thiếu âm mạch chưa biểu hiện biến đổi nghiêm trọng.
Bản tham khảo xác định Phù dương mạch ở giữa xương bàn chân thứ hai và thứ ba, tương ứng huyệt Vị-42 Xung dương. Khi biên soạn nên ghi đầy đủ tên huyệt như trên để thuận tiện tra cứu.
Dị văn “屎膿” và “溺膿” dẫn đến hai cách hiểu là đại tiện ra mủ máu hoặc tiểu tiện có mủ. Khi không có thêm chứng trạng, cần giữ lại cả hai khả năng, không nên tự ý khẳng định một cách duy nhất.
Điều 16
Nguyên văn
寸口脈浮而緊,浮則為風,緊則為寒,風則傷衛,寒則傷榮,榮衛俱病,骨節煩疼,當發其汗也。
Hán Việt
Thốn khẩu mạch phù nhi khẩn, phù tắc vi phong, khẩn tắc vi hàn; phong tắc thương vệ, hàn tắc thương vinh; vinh vệ câu bệnh, cốt tiết phiền đông, đương phát kỳ hãn dã.
Dịch nghĩa
Thốn khẩu mạch phù mà khẩn. Phù biểu thị phong tà, khẩn biểu thị hàn tà; phong làm tổn thương vệ, hàn làm tổn thương doanh. Doanh và vệ đều bị tà khí xâm phạm nên các khớp xương đau nhức khó chịu; lúc này nên dùng phép phát hãn để giải tà ở biểu.
Giải thích từ ngữ
Phong: Ngoại tà có tính mở, động và làm vệ khí mất điều hòa.
Hàn: Ngoại tà có tính thu dẫn, ngưng trệ và bế tắc.
Thương vệ: Vệ khí ở phần ngoài bị phong tà làm rối loạn, công năng bảo vệ và điều hòa tấu lý không còn bình thường.
Thương vinh: Hàn tà bó buộc phần doanh, khiến khí huyết trong kinh mạch vận hành không thông.
Cốt tiết phiền đông: Xương khớp đau nhức, bứt rứt, khó chịu.
Phát kỳ hãn: Dùng phép giải biểu thích hợp để làm tà khí theo mồ hôi mà ra; không đồng nghĩa với việc làm ra thật nhiều mồ hôi.
Ý nghĩa căn bản
Mạch phù cho thấy bệnh còn ở biểu; mạch khẩn biểu thị hàn tà bó buộc. Phong hàn xâm nhập, vệ khí không thể bảo vệ phần ngoài, doanh khí trong kinh mạch cũng bị trở ngại. Doanh vệ đều không điều hòa khiến kinh khí bế tắc, xương khớp và cơ nhục mất sự thông lợi nên sinh đau nhức.
Phép trị căn bản là tân ôn giải biểu, tuyên thông doanh vệ, giúp phong hàn theo mồ hôi mà giải. Trong hệ thống Thương Hàn Luận, nếu đầy đủ các biểu hiện Thái dương thương hàn như phát nhiệt, ố hàn, không có mồ hôi, đầu mình đau nhức, mạch phù khẩn và không có chống chỉ định, Ma hoàng thang là phương tiêu biểu.
Phương thang
Thang Ma hoàng: Ma hoàng, Quế chi, Hạnh nhân, Chích cam thảo.
Liều lượng và cách dùng cần căn cứ thể trạng, tuổi tác, mức độ biểu thực, tình trạng tim mạch và quy định chuyên môn hiện hành; không nên tự sử dụng chỉ dựa vào một đoạn điều văn.
Chú ý
“Phù là phong, khẩn là hàn; phong thương vệ, hàn thương doanh” là cách phân tích thuộc tính của mạch và bệnh cơ. Trong thực tế, phong và hàn thường cùng xâm nhập, doanh và vệ cũng có quan hệ mật thiết, không nên tách chúng thành những phạm vi tuyệt đối.
Không phải mọi trường hợp mạch phù khẩn đều được phát hãn. Nếu người bệnh có biểu hiện huyết hư, dương hư, tân dịch suy, mạch xích trì, ra mồ hôi nhiều, mất máu hoặc bệnh lý cần thận trọng với thuốc phát hãn thì phải xem xét phép trị khác.
Dòng “大葉釣樟” xuất hiện sau nguyên văn trong bản tham khảo không thuộc điều văn Thương Hàn Luận. Đây có thể là văn bản rác được chèn vào trong quá trình số hóa hoặc sao chép, vì vậy được loại bỏ khỏi bản biên soạn.
Điều 17
Nguyên văn
師曰:病人脈微而澀者,此為醫所病也。大發其汗,又數大下之,其人亡血,病當惡寒,後乃發熱,無休止時。夏月盛熱,欲著複衣;冬月盛寒,欲裸其身。所以然者,陽微則惡寒,陰弱則發熱。此醫發其汗,使陽氣微;又大下之,令陰氣弱。五月之時,陽氣在表,胃中虛冷,以陽氣內微,不能勝冷,故欲著複衣。十一月之時,陽氣在裏,胃中煩熱,以陰氣內弱,不能勝熱,故欲裸其身。又陰脈遲澀,故知亡血也。
Hán Việt
Sư viết: Bệnh nhân mạch vi nhi sáp giả, thử vi y sở bệnh dã. Đại phát kỳ hãn, hựu sác đại hạ chi, kỳ nhân vong huyết, bệnh đương ố hàn, hậu nãi phát nhiệt, vô hưu chỉ thời. Hạ nguyệt thịnh nhiệt, dục trước phục y; đông nguyệt thịnh hàn, dục lõa kỳ thân. Sở dĩ nhiên giả, dương vi tắc ố hàn, âm nhược tắc phát nhiệt. Thử y phát kỳ hãn, sử dương khí vi; hựu đại hạ chi, lệnh âm khí nhược. Ngũ nguyệt chi thời, dương khí tại biểu, vị trung hư lãnh, dĩ dương khí nội vi, bất năng thắng lãnh, cố dục trước phục y. Thập nhất nguyệt chi thời, dương khí tại lý, vị trung phiền nhiệt, dĩ âm khí nội nhược, bất năng thắng nhiệt, cố dục lõa kỳ thân. Hựu âm mạch trì sáp, cố tri vong huyết dã.
Dịch nghĩa
Thầy nói: Người bệnh có mạch vi mà sáp, đó là tình trạng do thầy thuốc điều trị sai gây nên. Trước hết phát hãn quá mạnh, sau đó lại nhiều lần dùng phép công hạ, khiến người bệnh hao tổn huyết dịch. Bệnh nhân sẽ sợ lạnh, sau đó lại phát nhiệt, nóng lạnh kéo dài không dứt.
Giữa mùa hạ nóng bức mà người bệnh vẫn muốn mặc thêm áo; giữa mùa đông rét buốt lại muốn cởi bỏ quần áo. Nguyên nhân là dương khí suy vi thì sợ lạnh, âm huyết suy yếu thì phát nhiệt. Thầy thuốc phát hãn quá mức làm dương khí suy; lại công hạ mạnh khiến âm khí tổn thương.
Vào tháng năm, dương khí thiên về phần ngoài, bên trong vị lại hư lạnh. Do dương khí bên trong suy yếu, không chống nổi lạnh nên người bệnh muốn mặc thêm áo. Vào tháng mười một, dương khí thu tàng vào trong, vị trung lại phiền nhiệt. Do âm khí bên trong suy yếu, không chế ước được nhiệt nên người bệnh muốn để thân trần. Mạch phần âm lại trì sáp, vì vậy biết huyết đã bị hao tổn.
Giải thích từ ngữ
Y sở bệnh: Bệnh hoặc biến chứng do thầy thuốc điều trị không đúng gây ra.
Đại phát kỳ hãn: Dùng phép phát hãn quá mạnh, khiến mồ hôi ra quá nhiều.
Sác đại hạ chi: Nhiều lần sử dụng phép công hạ mạnh.
Vong huyết: Huyết và âm dịch bị tổn hao. Trong điều này không nhất thiết chỉ tình trạng xuất huyết nhìn thấy được.
Phục y: Áo mặc nhiều lớp hoặc áo dày.
Dương vi: Dương khí suy yếu, không đủ sức ôn ấm cơ thể.
Âm nhược: Âm huyết và tân dịch suy giảm, không đủ sức hàm dưỡng và chế ước dương khí.
Ý nghĩa căn bản
Điều văn trình bày một biến chứng do phát hãn và công hạ quá mức làm tổn thương cả âm lẫn dương.
Phát hãn vốn có tác dụng đưa tà khí ở biểu ra ngoài, nhưng mồ hôi là dịch của tâm và có quan hệ mật thiết với dương khí. Phát hãn quá mức không những làm hao tân dịch mà còn khiến dương khí theo mồ hôi thoát ra, vì vậy người bệnh xuất hiện mạch vi và sợ lạnh.
Công hạ quá mức làm tổn thương tỳ vị, hao tân dịch và huyết. Âm huyết suy thì mạch sáp, cơ thể mất sự nhu dưỡng, hư nhiệt phát sinh. Dương suy gây ố hàn, âm tổn gây phát nhiệt; âm dương đều thương nên hàn nhiệt có thể kéo dài, không còn quy luật rõ ràng như hàn nhiệt của ngoại cảm.
Điều văn còn đặt bệnh trạng trong quan hệ với thời khí. Mùa hạ, dương khí hướng ra ngoài, phần dương bên trong tương đối ít; người vốn bị tổn thương dương khí càng dễ cảm thấy lạnh từ bên trong. Mùa đông, dương khí thu tàng vào lý; người vốn âm hư không đủ sức chế ước dương, vì vậy có thể cảm thấy phiền nhiệt dù thời tiết bên ngoài rất lạnh.
Chú ý
Không nên đồng nhất tình trạng sợ lạnh này với biểu hàn, cũng không nên thấy phát nhiệt mà lập tức sử dụng thuốc thanh nhiệt. Mạch vi sáp cùng tiền sử phát hãn, công hạ quá mức là những căn cứ quan trọng để nhận ra âm dương cùng bị tổn thương.
Câu “mùa hạ muốn mặc áo, mùa đông muốn để thân trần” nhằm làm nổi bật mức độ rối loạn hàn nhiệt do âm dương suy tổn. Trong lâm sàng, biểu hiện có thể không hoàn toàn điển hình như điều văn mô tả.
Điều 18
Nguyên văn
脈浮而大,心下反硬,有熱屬臟者,攻之不令發汗;屬腑者,不令溲數,溲數則大便硬。汗多則熱愈,汗少則便難,脈遲尚未可攻。
Hán Việt
Mạch phù nhi đại, tâm hạ phản ngạnh, hữu nhiệt thuộc tạng giả, công chi bất lệnh phát hãn; thuộc phủ giả, bất lệnh sưu sác, sưu sác tắc đại tiện ngạnh. Hãn đa tắc nhiệt dũ, hãn thiểu tắc tiện nan, mạch trì thượng vị khả công.
Dịch nghĩa
Mạch phù mà đại nhưng vùng tâm hạ trái lại cứng đầy. Nếu nhiệt đã kết ở bên trong thì khi điều trị không được dùng phép phát hãn. Nếu nhiệt thuộc phần phủ thì cũng không được làm cho tiểu tiện quá nhiều, bởi tiểu tiện nhiều sẽ khiến đại tiện khô cứng.
Nếu mồ hôi ra đầy đủ, nhiệt tà có thể theo đó mà lui; nếu mồ hôi ra quá ít, nhiệt không được giải lại làm hao tân dịch, đại tiện sẽ khó khăn. Tuy có thể xuất hiện chứng đại tiện khó, nhưng nếu mạch còn trì thì chưa thể vội dùng phép công hạ.
Giải thích từ ngữ
Tâm hạ: Vùng dưới tim và trên rốn, chủ yếu tương ứng khu vực thượng vị.
Phản ngạnh: Đáng lẽ mạch phù đại thường gợi ý bệnh ở biểu, nhưng vùng tâm hạ lại cứng đầy, cho thấy bệnh không còn thuần túy ở biểu.
Thuộc tạng: Trong điều này chỉ tà nhiệt đã vào phần lý, không nhất thiết nói một tạng cụ thể mắc bệnh.
Thuộc phủ: Nhiệt tà thiên về dương minh hoặc phần phủ, có xu hướng làm hao tân dịch.
Sưu sác: Tiểu tiện nhiều lần hoặc dùng phép lợi tiểu khiến lượng tiểu tiện tăng.
Công chi: Tiến hành điều trị. Chữ “công” ở đây không nhất thiết chỉ phép công hạ.
Ý nghĩa căn bản
Mạch phù đại vốn thường khiến người ta nghĩ đến bệnh ở biểu, nhưng nếu đi kèm tâm hạ cứng đầy thì cần xét khả năng nhiệt tà đã kết ở lý. Khi ấy, tiếp tục phát hãn sẽ làm hao tân dịch mà không giải quyết được bệnh tà bên trong.
Nhiệt ở phủ vốn dễ làm tổn thương tân dịch. Nếu lại dùng phép lợi tiểu quá mức, thủy dịch đi xuống theo đường tiểu tiện, đại trường càng mất sự nhuận dưỡng, phân sẽ khô cứng và khó đi.
Câu “hãn đa tắc nhiệt dũ” nói đến trường hợp chính khí còn khả năng đưa tà nhiệt ra ngoài, mồ hôi thấm ra thích đáng thì nhiệt có thể lui. “Hãn thiểu tắc tiện nan” cho thấy tà nhiệt chưa được giải, lại tiếp tục tiêu hao tân dịch nên đại tiện trở nên khó khăn.
Tuy nhiên, có đại tiện khó chưa đủ để quyết định công hạ. Nếu mạch trì, cần nghĩ đến dương khí hoặc doanh huyết không đầy đủ. Công hạ lúc này có thể làm chính khí tổn thương thêm.
Chú ý
Không nên hiểu “hãn đa” là càng ra nhiều mồ hôi càng tốt. Ý chính là tà có đường giải qua mồ hôi. Mồ hôi ra quá nhiều do phát hãn sai vẫn có thể làm hao tân dịch và khiến bệnh nặng hơn.
Chỉ có thể dùng phép công hạ khi biểu chứng đã giải, lý thực đã thành, bụng đầy đau hoặc cự án, đại tiện bí, rêu lưỡi khô dày và mạch có lực. Nếu mạch trì vô lực, tân dịch suy hoặc dương khí yếu thì cần thận trọng.
Điều 19
Nguyên văn
趺陽脈浮,浮則為虛,浮虛相搏,故令氣䭇,言胃氣虛竭也。脈滑則為噦,此為醫咎,責虛取實,守空迫血。脈浮,鼻中燥者,必衄也。
Hán Việt
Phù dương mạch phù, phù tắc vi hư, phù hư tương bác, cố lệnh khí ế, ngôn vị khí hư kiệt dã. Mạch hoạt tắc vi uế, thử vi y cữu, trách hư thủ thực, thủ không bách huyết. Mạch phù, tỵ trung táo giả, tất nục dã.
Dịch nghĩa
Phù dương mạch xuất hiện phù; ở vị trí này, mạch phù biểu thị vị khí hư. Phù và hư cùng hiện khiến khí nghẹn, cho thấy vị khí đã suy kiệt. Nếu mạch hoạt mà xuất hiện nấc hoặc khí nghịch có tiếng, đó là hậu quả do thầy thuốc điều trị sai: đem hư chứng xử trí như thực chứng, trong lúc doanh huyết bên trong vốn trống rỗng lại dùng phép công đoạt, khiến huyết càng bị bức迫. Nếu mạch phù và trong mũi khô thì có thể phát sinh chảy máu mũi.
Giải thích từ ngữ
Phù dương mạch: Mạch ở vùng huyệt Túc Dương minh Vị kinh Vị-42 Xung dương, được dùng để khảo sát vị khí.
Khí 䭇: Chữ cổ hiếm, chỉ khí nghẹn, khí cơ bế tắc hoặc ăn uống nghẹn trở.
Uế: Khí từ vị nghịch lên thành tiếng; tùy ngữ cảnh có thể hiểu là nấc cụt hoặc nôn khan có tiếng.
Y cữu: Sai lầm hoặc trách nhiệm do thầy thuốc điều trị không thích hợp.
Trách hư thủ thực: Bệnh vốn hư nhưng lại nhận định là thực và dùng phép trị thực chứng.
Thủ không: Doanh huyết bên trong đã trống rỗng, không còn đủ sức giữ gìn và nuôi dưỡng.
Bách huyết: Làm huyết bị bức迫, vận hành sai đường hoặc tiếp tục hao tổn.
Nục: Chảy máu mũi.
Ý nghĩa căn bản
Phù dương là vị trí xem mạch của tỳ vị. Mạch ở đây đáng lẽ phải hòa hoãn và có lực vừa phải, biểu thị vị khí còn sung túc. Khi Phù dương mạch chỉ nổi ở bên ngoài mà không có căn lực ở bên trong, đó không phải biểu thực mà là vị khí hư.
Vị khí suy thì chức năng thu nạp và giáng trọc mất điều hòa. Khí không giáng được mà nghịch lên, có thể gây nghẹn, nấc hoặc nôn khan. Nếu không nhận ra bản chất hư mà tiếp tục công hạ hoặc công phá, tỳ vị và doanh huyết càng tổn thương.
Mạch phù kết hợp mũi khô cho thấy dương nhiệt hoặc hư dương dồn lên phần trên, làm huyết lạc ở mũi mất sự yên định, vì vậy có thể phát sinh chảy máu mũi.
Chú ý
Trong điều này, Phù dương mạch phù được giải thích là hư vì phải căn cứ vào vị trí mạch và toàn bộ chứng trạng. Không thể lấy quy tắc “phù chủ biểu” áp dụng máy móc cho mọi vị trí xem mạch.
Chữ “䭇” là chữ cổ ít dùng và thường bị mất hoặc nhận dạng sai trong các bản điện tử. Bản tham khảo đã bỏ trống chữ này. Khi biên soạn nên giữ nguyên chữ cổ và chú giải ý nghĩa, không tự ý loại bỏ.
Điều 20
Nguyên văn
諸脈浮數,當發熱而灑淅惡寒。若有痛處,飲食如常者,蓄積有膿也。
Hán Việt
Chư mạch phù sác, đương phát nhiệt nhi sái tích ố hàn. Nhược hữu thống xứ, ẩm thực như thường giả, súc tích hữu nùng dã.
Dịch nghĩa
Nói chung, mạch phù sác thường đi kèm phát nhiệt và cảm giác ớn lạnh như bị nước lạnh rưới vào người. Nhưng nếu cơ thể có một vị trí đau rõ rệt, trong khi ăn uống vẫn như thường, thì nên nghĩ đến bên trong vị trí ấy đang tích tụ mủ.
Giải thích từ ngữ
Chư mạch phù sác: Các trường hợp mạch vừa nổi vừa nhanh.
Thống xứ: Vị trí đau tương đối cố định, không phải cảm giác đau nhức lan khắp người do ngoại cảm.
Súc tích hữu nùng: Tà độc và khí huyết kết tụ tại một chỗ, dần hóa thành mủ; thường thuộc phạm vi ung nhọt hoặc ổ viêm hóa mủ.
Ý nghĩa căn bản
Mạch phù sác, phát nhiệt và ố hàn thường gặp khi ngoại tà xâm nhập phần biểu. Tuy nhiên, ung nhọt hoặc mủ tích tụ bên trong cũng có thể làm chính khí chống lại tà độc, gây phát nhiệt, ố hàn và mạch phù sác.
Điểm phân biệt được điều văn nêu ra là đau khu trú và ăn uống vẫn tương đối bình thường. Ngoại cảm phong hàn thường gây đau đầu, đau mình, đau các khớp lan tỏa và có thể ảnh hưởng toàn thân. Khi mủ tích tụ, đau thường tập trung tại một vị trí, có thể kèm sưng, nóng, đỏ hoặc cảm giác căng tức.
Ăn uống như thường cho thấy vị khí chưa bị ảnh hưởng đáng kể. Vì vậy, phát nhiệt và ố hàn trong trường hợp này có thể không phải bệnh ngoại cảm thông thường mà là phản ứng toàn thân do ổ mủ khu trú.
Chú ý
Không phải cứ có đau khu trú và mạch phù sác là đã hình thành mủ. Cần xem thêm sưng nóng, đỏ, ấn đau, cảm giác dao động, diễn biến của khối sưng và các dấu hiệu toàn thân.
Trong thực hành hiện nay, tình trạng sốt, rét run kèm đau khu trú có thể liên quan đến nhiễm khuẩn hoặc ổ áp-xe và cần được thăm khám kịp thời. Điều văn có giá trị định hướng biện chứng nhưng không thay thế các phương pháp xác định ổ nhiễm trùng.
Dòng “大紫草” xuất hiện sau phần bình tích trong bản tham khảo không thuộc nguyên văn Thương Hàn Luận. Đây có thể là nội dung rác bị chèn vào khi số hóa, vì vậy được loại bỏ.
Điều 21
Nguyên văn
脈浮而遲,面熱赤而戰惕者,六七日當汗出而解;反發熱者差遲。遲為無陽,不能作汗,其身必癢也。
Hán Việt
Mạch phù nhi trì, diện nhiệt xích nhi chiến dịch giả, lục thất nhật đương hãn xuất nhi giải; phản phát nhiệt giả, sái trì. Trì vi vô dương, bất năng tác hãn, kỳ thân tất dưỡng dã.
Dịch nghĩa
Mạch phù mà trì, mặt nóng đỏ và toàn thân run rẩy, đến khoảng ngày thứ sáu hoặc thứ bảy đáng lẽ mồ hôi sẽ ra rồi bệnh được giải. Nếu không ra mồ hôi mà trái lại tiếp tục phát nhiệt thì thời gian khỏi bệnh sẽ chậm hơn. Mạch trì biểu thị dương khí không đầy đủ; dương khí không đủ sức hóa sinh mồ hôi, tà khí lưu lại ở phần da thịt nên toàn thân có thể ngứa.
Giải thích từ ngữ
Chiến dịch: Run rẩy hoặc chấn động toàn thân do chính khí và tà khí tranh chấp.
Sái trì: Bệnh khỏi chậm, thời điểm hồi phục bị kéo dài.
Vô dương: Dương khí bất túc, không phải hoàn toàn không còn dương khí.
Tác hãn: Dương khí chưng hóa tân dịch, đưa mồ hôi ra ngoài.
Thân dưỡng: Toàn thân ngứa do tà khí lưu lại ở phần da thịt, khí huyết không thông đạt ra ngoài.
Ý nghĩa căn bản
Mạch phù cho thấy tà khí còn ở phần ngoài; mạch trì cho thấy dương khí bên trong không đầy đủ. Tà uất ở biểu làm mặt nóng đỏ; chính khí cố gắng đẩy tà ra ngoài nên người bệnh phát chiến.
Nếu sau quá trình chính tà tranh chấp, dương khí có thể tiếp tục nâng đỡ và chưng hóa tân dịch thì mồ hôi sẽ ra, biểu tà theo đó được giải. Nhưng nếu dương khí vốn yếu, sức đẩy tà không nối tiếp được, mồ hôi không hình thành đầy đủ. Tà vẫn lưu ở cơ biểu nên người bệnh tiếp tục phát nhiệt, bệnh lâu khỏi và da thịt có thể ngứa.
Ngứa trong trường hợp này không nhất thiết do phong tà đơn thuần. Đó còn là biểu hiện của dương khí không thông đạt, tân dịch không thể theo dương khí ra ngoài, khiến tà khí lưu luyến giữa da thịt và tấu lý.
Chú ý
Con số sáu hoặc bảy ngày biểu thị một giai đoạn chuyển biến thường được nhắc đến trong Thương Hàn Luận, không phải thời hạn cố định cho mọi người bệnh.
Không nên vì thấy tà ở biểu mà phát hãn mạnh. Mạch phù trì cho thấy dương khí không đầy đủ; nếu phát hãn quá mức, dương khí và tân dịch có thể tổn thương thêm. Phép trị phải đồng thời xét biểu tà và tình trạng hư suy của chính khí.
Điều 22
Nguyên văn
脈陰陽俱緊者,口中氣出,脣口乾燥,踡臥足冷,鼻中涕出,舌上胎滑,勿妄治也。到七日以來,其人微發熱,手足溫者,此為欲解。或到八日以上,反大發熱者,此為難治。設使惡寒者,必欲嘔也;腹內痛者,必欲利也。
Hán Việt
Mạch âm dương câu khẩn giả, khẩu trung khí xuất, thần khẩu can táo, quyền ngọa túc lãnh, tỵ trung thế xuất, thiệt thượng thai hoạt, vật vọng trị dã. Đáo thất nhật dĩ lai, kỳ nhân vi phát nhiệt, thủ túc ôn giả, thử vi dục giải. Hoặc đáo bát nhật dĩ thượng, phản đại phát nhiệt giả, thử vi nan trị. Thiết sử ố hàn giả, tất dục ẩu dã; phúc nội thống giả, tất dục lợi dã.
Dịch nghĩa
Nếu mạch ở cả phần âm và phần dương đều khẩn, hơi thở thoát ra qua miệng, môi miệng khô, người bệnh co mình nằm, bàn chân lạnh, trong mũi chảy nước và trên lưỡi có rêu trơn ướt thì không được vội vàng điều trị.
Từ khoảng ngày thứ bảy, nếu người bệnh chỉ hơi phát nhiệt và tay chân dần ấm thì đó là dấu hiệu bệnh sắp được giải. Nếu đến ngày thứ tám trở đi, trái lại phát sốt cao thì bệnh thuộc loại khó trị.
Nếu người bệnh tiếp tục sợ lạnh thì có thể sẽ muốn nôn; nếu trong bụng đau thì có thể sẽ phát sinh hạ lợi.
Giải thích từ ngữ
Âm dương câu khẩn: Mạch ở cả bộ thốn và bộ xích đều khẩn; cũng có thể hiểu phần mạch thuộc dương và phần mạch thuộc âm đều biểu hiện căng gấp.
Khẩu trung khí xuất: Hơi thở thoát ra qua miệng, có thể do mũi bị tắc hoặc khí cơ không thông.
Quyền ngọa: Nằm co mình, không muốn duỗi chân tay, thường là biểu hiện có hàn.
Túc lãnh: Bàn chân lạnh, cho thấy dương khí không thông đạt xuống phần dưới.
Thai hoạt: Rêu lưỡi trơn ướt. Chữ “胎” trong nguyên văn được dùng thay cho chữ “苔”.
Vật vọng trị: Không được điều trị tùy tiện khi bệnh cơ chưa được xác định rõ.
Dục giải: Bệnh đang chuyển theo chiều hướng thuận và sắp được giải.
Ý nghĩa căn bản
Điều văn mô tả một bệnh cảnh phức tạp, trong đó biểu hiện hàn nhiệt, hư thực và biểu lý xen lẫn, chưa thể vội quy về một chứng đơn thuần.
Mạch âm dương đều khẩn, mũi chảy nước và hơi thở thoát qua miệng cho thấy ngoại hàn còn bế tắc ở phần biểu. Tuy nhiên, nằm co, chân lạnh và rêu lưỡi trơn lại biểu thị dương khí không đầy đủ, hàn thấp thiên thịnh ở bên trong. Môi miệng khô có vẻ như thuộc nhiệt, nhưng cũng có thể do thở bằng miệng, tân dịch không được phân bố hoặc khí hóa bất lợi, chưa đủ để xác định lý nhiệt.
Trong hoàn cảnh mạch chứng phức tạp như vậy, điều văn nhấn mạnh “vật vọng trị”. Nếu chưa phân biệt rõ biểu lý và hư thực mà vội phát hãn, công hạ, thanh nhiệt hoặc ôn bổ đều có thể làm bệnh biến đổi theo chiều hướng bất lợi.
Sau khoảng bảy ngày, nếu tay chân từ lạnh chuyển ấm và chỉ hơi phát nhiệt thì dương khí đã dần thông đạt, chính khí có khả năng đẩy tà ra ngoài, bệnh có chiều hướng được giải. Nếu sau tám ngày lại phát sốt cao, bệnh không những chưa giải mà chính tà tiếp tục tranh chấp hoặc dương khí rối loạn, vì vậy điều trị khó khăn hơn.
Ố hàn kéo dài cho thấy hàn tà còn làm vị khí không giáng, vì vậy có thể xuất hiện buồn nôn. Bụng đau phản ánh hàn tà ảnh hưởng trung tiêu, tỳ dương không vận hóa, vì thế có thể dẫn đến hạ lợi.
Chú ý
Câu “vật vọng trị” không có nghĩa hoàn toàn không điều trị trong mọi trường hợp. Ý chính là không được dùng thuốc tùy tiện khi bệnh cơ chưa sáng rõ; cần theo dõi mạch, nhiệt độ tay chân, phát nhiệt, ố hàn, nôn và đại tiện để xác định chiều hướng diễn biến.
Bản dịch tham khảo cho rằng nếu ố hàn thì bệnh thiên về biểu, nếu bụng đau thì bệnh thiên về lý. Nhận định này có giá trị gợi mở, nhưng nguyên văn chủ yếu dự đoán chứng trạng có thể xuất hiện, chưa trực tiếp nêu phương pháp điều trị cụ thể.
“Đại phát nhiệt” không nhất thiết luôn là hư dương ngoại việt. Cần căn cứ thần sắc, mạch lực, tình trạng mồ hôi, khát, tay chân và toàn bộ diễn biến để phân biệt tà nhiệt tăng mạnh với dương khí suy thoát.
Điều 23
Nguyên văn
脈浮而滑,浮為陽,滑為實,陽實相搏,其脈數疾,衛氣失度。浮滑之脈數疾,發熱汗出者,此為不治。
Hán Việt
Mạch phù nhi hoạt, phù vi dương, hoạt vi thực; dương thực tương bác, kỳ mạch sác tật, vệ khí thất độ. Phù hoạt chi mạch sác tật, phát nhiệt hãn xuất giả, thử vi bất trị.
Dịch nghĩa
Mạch phù mà hoạt; phù thuộc dương, hoạt biểu thị tà khí thịnh. Dương và thực cùng kết hợp khiến mạch trở nên nhanh gấp, vệ khí mất đi quy luật vận hành bình thường. Nếu mạch phù hoạt chuyển thành sác tật, người bệnh phát nhiệt, mồ hôi vẫn ra mà bệnh không giảm thì đó là tình trạng rất khó cứu chữa.
Giải thích từ ngữ
Phù vi dương: Mạch phù có xu hướng thuộc dương và phần ngoài.
Hoạt vi thực: Trong hoàn cảnh điều văn này, hoạt mạch phản ánh tà khí đang thịnh; không phải mọi trường hợp hoạt mạch đều là thực chứng.
Dương thực tương bác: Dương nhiệt và tà thực kết hợp, cùng làm khí huyết vận hành quá gấp.
Sác tật: Mạch đến rất nhanh và gấp hơn mạch sác thông thường.
Vệ khí thất độ: Vệ khí mất quy luật vận hành, không còn điều hòa được sự đóng mở của tấu lý.
Bất trị: Tình trạng rất khó điều trị, dự hậu nghiêm trọng; không nên hiểu theo nghĩa tuyệt đối là hoàn toàn không được cứu chữa.
Ý nghĩa căn bản
Mạch phù hoạt ban đầu biểu thị dương tà và thực tà đang thịnh. Nếu bệnh dừng ở mức này thì chưa hẳn là nguy chứng. Nhưng khi mạch tiếp tục chuyển thành sác tật, phát nhiệt tăng và mồ hôi ra mà nhiệt không lui, điều đó cho thấy dương nhiệt quá thịnh, vệ khí mất khả năng điều hòa tấu lý.
Thông thường, nếu tà ở biểu và mồ hôi ra thích đáng thì nhiệt có thể giảm. Nay mồ hôi đã ra nhưng phát nhiệt vẫn tiếp tục, mạch lại càng nhanh gấp, chứng tỏ mồ hôi không còn mang ý nghĩa tà theo hãn giải. Trái lại, tân dịch đang bị nhiệt tà bức ra ngoài và tiếp tục hao tổn.
Dương nhiệt càng thịnh thì âm dịch càng suy. Khi nhiệt không giảm, mồ hôi không ngừng và mạch sác tật, cơ thể có nguy cơ rơi vào tình trạng dương không được âm giữ, vệ khí rối loạn và tân dịch sắp kiệt. Vì vậy, điều văn xếp đây vào loại dự hậu đặc biệt bất lợi.
Chú ý
Không nên chỉ dựa vào ba dấu hiệu phát nhiệt, ra mồ hôi và mạch nhanh để kết luận là nguy chứng. Cần chú ý xu hướng biến đổi: mạch ngày càng nhanh gấp, mồ hôi ra mà sốt không giảm, khát nhiều, môi lưỡi khô, tinh thần thay đổi, tiểu tiện giảm hoặc mạch dần mất căn mới cho thấy tân dịch và chính khí bị tổn thương nghiêm trọng.
Trong thực hành hiện nay, sốt cao liên tục kèm vã mồ hôi, nhịp tim rất nhanh, khó thở, rối loạn ý thức hoặc dấu hiệu mất nước cần được đánh giá y khoa khẩn cấp.
Điều 24
Nguyên văn
傷寒,咳逆上氣,其脈散者死,謂其形損故也。
Hán Việt
Thương hàn, khái nghịch thượng khí, kỳ mạch tán giả tử, vị kỳ hình tổn cố dã.
Dịch nghĩa
Người mắc thương hàn có ho nghịch, khí dồn lên trên; nếu mạch tán, rời rạc và không có căn thì thuộc nguy chứng, bởi lúc ấy hình thể và chính khí đã suy tổn nghiêm trọng.
Giải thích từ ngữ
Khái nghịch: Ho kèm khí nghịch, cơn ho từ dưới dồn lên.
Thượng khí: Khí nghịch và ứ ở phần trên, không giáng xuống được; có thể biểu hiện thở gấp, suyễn hoặc khó thở.
Tán mạch: Mạch nổi tản, không tập trung; đặt tay nhẹ còn cảm nhận lờ mờ, ấn xuống thì mất, nhịp đến đi không rõ và không có căn.
Hình tổn: Hình thể hao mòn, cơ nhục suy giảm, thần khí và tạng khí đều có dấu hiệu suy tổn.
Ý nghĩa căn bản
Ho nghịch, thượng khí tự nó chưa phải tử chứng. Trong Thương Hàn Luận có nhiều bệnh cảnh ho, suyễn hoặc khí thượng xung vẫn có thể điều trị nếu chính khí còn giữ được và mạch vẫn có căn.
Điểm quyết định trong điều này là sự kết hợp giữa khái nghịch, thượng khí, mạch tán và hình thể suy tổn. Mạch tán cho thấy khí huyết không còn quy tụ vào mạch, dương khí có xu hướng phân tán ra ngoài, tạng khí khó tiếp tục duy trì sự vận hành bình thường.
Phế chủ khí và hô hấp; tâm chủ huyết mạch; thận có chức năng nạp khí. Khi người bệnh vừa ho suyễn, khí nghịch, vừa xuất hiện mạch tán không căn thì không chỉ phế khí bất lợi mà tâm khí, thận khí và nguyên khí cũng có thể đã suy. Nếu cơ nhục tiêu mòn, thần sắc suy bại và hô hấp khó khăn thì dự hậu càng nặng.
Chú ý
Chữ “tử” trong cổ văn phản ánh dự hậu rất xấu theo điều kiện chẩn trị thời xưa. Ngày nay không nên căn cứ một mạch tượng để kết luận sinh tử. Cần đánh giá đồng thời hô hấp, tuần hoàn, ý thức, sắc mặt, độ bão hòa oxy và nguyên nhân gây bệnh.
Bản dịch tham khảo thêm ý “đại cốt hãm hạ”, tức các vùng xương lớn lộ rõ do cơ nhục tiêu mòn. Ý này phù hợp với khái niệm hình tổn nhưng không xuất hiện trực tiếp trong nguyên văn của điều đang xét, vì vậy không đưa vào phần dịch nghĩa mà chỉ có thể dùng để giải thích.
Phần bình tích của bản tham khảo có những lỗi nhận dạng như “陽明舶直視譫語” và “少陰舶息高”. Có thể hiểu ý muốn dẫn những câu liên quan đến Dương minh bệnh xuất hiện trực thị, nói sảng, suyễn mãn và Thiếu âm bệnh có hơi thở cao, nhưng văn bản đã hư hỏng nên không nên giữ nguyên trong bản biên soạn.
Tổng kết Biện mạch pháp
Phần văn bản được gửi tập trung trình bày năm nội dung chính.
Thứ nhất, âm dương là tổng cương của mạch học. Sự nổi chìm, nhanh chậm, mạnh yếu và trơn rít của mạch phản ánh xu hướng vận động của khí huyết và tình trạng thịnh suy của chính tà.
Thứ hai, mạch phải được xem xét cùng chứng trạng. Mạch phù không phải lúc nào cũng thuộc biểu; mạch đại không phải lúc nào cũng thuộc thực; mạch chuyển vi cũng không nhất thiết là chính khí suy. Ý nghĩa của mạch thay đổi tùy vị trí xem mạch, sức ấn, diễn biến bệnh và các chứng đi kèm.
Thứ ba, mạch tượng có giá trị nhận biết chiều hướng của bệnh. Ba bộ mạch tương đối điều hòa, tay chân từ lạnh chuyển ấm, thân nhiệt dần hòa và ăn uống phục hồi là những dấu hiệu thuận. Mạch tán không căn, sác tật ngày càng tăng, phát nhiệt và ra mồ hôi không giảm là những dấu hiệu bất lợi.
Thứ tư, điều trị phải căn cứ bệnh cơ hiện tại. Phát hãn, công hạ và lợi tiểu đều có phạm vi sử dụng nhất định. Dùng sai hoặc dùng quá mức có thể làm tổn thương dương khí, âm huyết và tân dịch, tạo thành những biến chứng phức tạp hơn bệnh ban đầu.
Thứ năm, phép biện mạch không nhằm thay thế toàn bộ quá trình chẩn đoán. Mạch chỉ thật sự có ý nghĩa khi kết hợp với sắc, thần, tiếng nói, hơi thở, hàn nhiệt, mồ hôi, ăn uống, đại tiểu tiện và diễn biến trước sau của bệnh.
Nói tóm lại, giá trị căn bản của Biện mạch pháp nằm ở nguyên tắc xét âm dương, nhận biết thịnh suy, phân biệt thuận nghịch và luôn đặt mạch trong toàn bộ bệnh cảnh. Học mạch không chỉ ghi nhớ tên gọi mà cần hiểu hình trạng, bệnh cơ và sự chuyển biến của mạch qua từng giai đoạn.
Trường Xuân Nguyễn Nghị biên soạn