Chương 16
Kinh quý thổ nục hạ huyết hung mãn ứ huyết bệnh mạch chứng trị .
Khái thuyết
Thiên này trình bày biện chứng luận trị các bệnh như: Kinh, quý, thổ, nục, hạ huyết và ứ huyết, đến như chứng tức ngực cũng được cho là một loại phản ảnh của bệnh do ứ huyết gây ra, nên cũng có thể so sánh. Trong thiên có 27 điều, 5 phương dược. Trong đó điều văn thứ nhất luận về bệnh cơ (phát sinh, phát triển, biến hóa và kết cục của bệnh) và mạch chẩn của bệnh kinh quý (sợ hãi, hồi hộp), điều 12 và điều 13 thảo luận về biện chứng luận trị và phương dược của chứng kinh quý. Từ điều 2 đến điều 9 thảo luận về mạch chứng, giám định phân biệt, kết cục và những cấm kỵ trong điều trị.. Điều thứ 10 và 11 thảo luận về mạch chứng và trị pháp của ứ huyết. Từ điều 14 đến điều 17 thảo luận về chứng trị và phương dược của các chứng thổ, nục (chảy máu mũi) và hạ huyết, vì bệnh cơ của các chứng như kinh, quý, thổ, nục, hạ huyết đều có liên quan đến tâm và huyết, vì thế được hợp lại trình bày chung trong một thiên.
Kinh (惊) là kinh hãi, là bệnh chứng khi đột nhiên gặp chuyện làm thần trí có cảm giác kinh hãi, chứng trạng chính là tim đập mạnh bồn chồn hoảng hốt không thể tự chủ, đến tình trạng không do ngoại giới kích thích mà chứng kinh quý phát sinh từ bên trong, là đều do khí huyết hư nhược không thể nuôi tâm, hoặc do đàm nhiệt nhiễu loạn tạng tâm gây ra, hai chứng này luôn luôn đồng thời tồn tại, được gọi chung là chứng kinh quý.
Thổ, nục, hạ huyết và ứ huyết, đều là bệnh của huyết dịch, theo nguyên nhân bệnh mà nói thì phân thành hàn nhiệt hư thực, luận về vị trí thì có sự khác biệt là hoặc thượng hoặc trung hay hoặc hạ, vì thế phép điều trị cũng tuỳ theo chứng mà khác nhau.
1.寸口脉动而弱,动即为惊,弱则为悸。
1/ Thốn khẩu mạch động nhi nhược, động tức vi kinh, nhược tắc vi quý.
【Giải thích】
Đoạn văn này dựa theo hình tượng mạch để trình bày bệnh cơ của chứng kinh quý, người tâm khí hư yếu, thì khiếp sợ từ bên trong, đột nhiên gặp chuyện bất thường, khiến khí loạn thần động, vì thế nên khí huyết nghịch loạn, làm cho mạch thốn khẩu loạn động không có thứ tự, mà phát sinh sợ hãi giật mình, vì thế có câu : “Động tắc vi kinh” (动则为惊) mạch loạn động là kinh. Nếu khí huyết lưỡng hư, thì tâm không được nuôi dưỡng, nên xuất hiện tim hồi hộp bất an, mạch yếu nhược vô lực, nên viết: “Nhược tắc vi quý” (弱则为悸) mạch yếu nhược là hồi hộp. Kinh và quý tuy là hai chứng, một một loại phát tác là do tác động từ bên ngoài, một lọai là sinh ra từ bên trong, nói theo bản chất thì hai chứng kinh và quý đều do khí huyết hư suy. Về việc này, bất quá chỉ có sự khác biệt ở mức độ nặng nhẹ mà thôi. Đồng thời, sau khi sợ hãi (kinh) thì cũng có thể phát sinh hồi hộp (quý), khi hồi hộp (quý) cũng có thể phát sinh sợ hãi.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Ngọc Hàm Nhị chú》:“ Tâm là quân chủ (là vua), thần minh xuất ra từ đó, không tổn thương thân thể, không lao tâm, thì tinh khí được bảo toàn mà thần minh yên ổn; Nếu có tổn thương, khí hư nên mạch động. Động thì tim hồi hộp sợ hãi, tinh hư thì mạch nhược, mạch nhược thì lo lắng sợ hãi. Kinh hãi từ sự vật bên ngoài tiếp xúc mà động thì thuộc dương, dương biến thì mạch động, sợ hãi sinh ra từ bên trong thuộc âm, âm tổn háo nên mạch yếu nhược, là bệnh nên dùng thang dược có tính hoà bình, bồi bổ tinh khí, trấn tĩnh tinh thần, nhất là nên ở nơi an tĩnh.
2.师曰:尺脉浮, 目睛晕黄,衄未止, 晕黄去,目晴慧了,知衄今止。
2/ Sư viết: Xích mạch phù, mục tinh vựng hoàng, nục vị chỉ. Vựng hoàng khứ, mục tình tuệ liễu, tri nục kim chỉ.
【Từ giải】
– Mục tinh vựng hoàng: Có 2 ý. thứ nhất là có thể thấy xung quanh tròng đen con mắt hơi nhuốm màu vàng khác với màu vàng của hoàng đản, thứ hai là bệnh nhân có cảm giác nhìn đồ vật không rõ.
– Mục tinh tuệ liễu: Mắt trong sáng nhìn rõ.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày về tiên lượng của hội chứng nục huyết (chảy máu mũi). Mạch xích để đón xem tạng thận. Bởi vì thận âm hư dẫn đến hư hoả phù động nên mạch xích phù. Từ đó suy đoán, nếu do can nhiệt huân chưng lên mắt, thì con ngươi có quầng màu vàng. Tựa như hư hoả bốc lên, bức bách huyết vọng hành (đi sai đường), có thể phát sinh chứng nục huyết. Nếu sau khi nục huyết mà quầng màu vàng vẫn còn trong mắt, là biểu hiện của nhiệt chưa xuất ra hết. Ngược lại, nếu quầng vàng trong mắt đã hết, mắt nhìn vật rõ ràng, thì biết rằng hư hoả ở can thận đã được thu liễm, âm khí đã thăng, vì thế từ nay chứng nục huyết đã cầm.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Mạch xích phù là biết thận có du hoả (hư hoả); Con ngươi có quầng màu vàng là biểu hiện của tạng can có tích trữ nhiệt, bệnh nục huyết mà mạch chứng như vậy thì bệnh chưa khỏi. Huyết thuộc âm, vì hoả nhiệt của can thận bức bách mà không giữ được. Nếu quầng màu vàng đã được trừ khứ, mắt nhìn vật rõ ràng, thì biết rằng không chỉ riêng nhiệt ở can đã được trừ khứ, mà nhiệt ở thận cũng đã được khu trừ. Vì thế chứng nục huyết (chảy máu mũi) nay đã thực sự không còn.
3.又曰:从春至夏衄者太阳,从秋至冬衄者阳明。
3/ Hựu viết: Tòng xuân chí hạ nục giả thái dương, tòng thu chí đông nục giả dương minh.
【Giải thích】
Đoạn văn này dựa theo biến dịch của khí hậu theo mùa để trình bày biện chứng của chứng nục huyết. Kinh mạch của 4 kinh gồm thủ túc Thái dương và thủ túc Dương minh, đều tuần hành đến vị trí của mũi, vì thế chứng chảy máu mũi (nục huyết) có quan hệ với bốn kinh vừa nêu, từ mùa xuân đến mùa hạ, dương khí (thăng phát) nổi lên, nên tán phát phân bố ra ngoài. Nếu ngoại cảm phong hàn, khách vào cơ biểu, khiến dương khí không thể thông đạt ra ngoài, tích tụ lại không thể giãn rộng ra, tích ở doanh phận, nên bức bách huyết ngược lên thành chứng nục huyết, nên viết “Tòng xuân chí hạ nục giả thái dương ”, là vì kinh thái dương chủ biểu; Từ mùa thu đến mùa đông, dương khí trầm xuống, khí thu vào trong, nếu âm hư nội nhiệt, nội nhiệt thượng viêm (hơi nóng bốc lên), bức bách ngược lên mà thành chứng nục, vì thế viết: “Tòng thu chí đông gia dương minh” là vì kinh dương minh chủ lý. Tóm lại, chứng nục huyết ở hai mùa xuân và hạ thường do ngoại cảm phong hàn, và chứng nục huyết ở hai mùa thu đông thường do âm hư nội nhiệt.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị chú》:“ {Nội kinh} Thái dương vi khai (mở), dương minh vi hợp (đóng), khí hai mùa xuân hạ chủ về sinh phát (sinh sôi phát triển), ứng với khai (mở), vì thế tà khí bức bách huyết thăng phát xung xuất ; Thu đông thu tàng, là ứng với hợp (đóng lại), vì thế tà khí uất (tích tụ) cực độ rồi phát ra. Nục là dương thịnh, duy nhất không nói đến thiếu dương, với hai kinh thái dương và dương minh, vì hai kinh này giao nhau ở trên trán.
4.衄家不可汗,汗出必额上陷,脉紧急,直视不能眴,不得眠。
4/ Nục gia bất khả hãn, hãn xuất tất nghạch thượng hãm, mạch khẩn cấp, trực thị bất năng huyến (liếc), bất đắc miên.
【Tuyển chú】
Ngạch thượng hãm: Da thịt trên trán lõm xuống.
Huyến: âm là thuấn, là từ hình dung nhãn cầu chuyển động.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày chứng trạng của nục gia sau khi ngộ hãn (phát hãn nhầm). Nục gia xuất huyết trong một thời gian dài, nếu lại phát hãn, là vong âm lại thêm tổn thương chân dương. Âm dương cùng tổn thương, thì huyết mạch trống không.vì thế thấy trán bệnh nhân bị lõm xuống. Khí huyết hư thiếu, huyết mạch không được tươi tốt, khiến không còn hình tượng nhu hoà, vì thế huyết mạch cấp bách, lôi kéo dẫn dắt con ngươi mắt không điều hoà, vì thế mắt trực thị (nhìn thẳng) mà con ngươi thì không thể chuyển động (không liếc mắt), mồ hôi là huyết dịch, huyết hư thì không thể dưỡng tâm tiềm dương, làm cho dương khí không thu liễm, vì thế nên khó chịu mà không ngủ được.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Huyết và hãn cũng đều thuộc âm, nục gia lại phát hãn, là âm bị trùng thương (tổn thương lặp đi lặp lại). Mạch là nơi ở của huyết, trên trán bị lõm, là động mạch ở hai bên trán, vì huyết thoát ở trên mà bị lõm xuống không trở lại bình thường. Mạch cấp bách là mạch ở thốn khẩu không được nuôi dưỡng nên không nhu hoà, như cây không có nước nên cành thì khô cứng. Nhìn thẳng không liếc mắt và không ngủ là biểu hiện của âm khí mất thì dương cũng độc thắng. Kinh viết: “Đoạt huyết giả vô hãn” Ở đây là có ý nói như thế.
5/ Bệnh nhân diện vô sắc, vô hàn nhiệt. Mạch trầm huyền giả, nục; Phù nhược, thủ án chi tuyệt giả, hạ huyết; Phiền khái giả, tất thổ huyết.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày một số mạch chứng của nội thương xuất huyết. “Diện vô huyết sắc, vô hàn nhiệt” (面无血色,无寒热) là cương lĩnh chung của điều văn này, nói tóm tắt về các hội chứng nục huyết, hạ huyết và thổ huyết, “Diện vô huyết sắc”, chính là sau khi mất máu, huyết hư không thể nuôi ở trên, dẫn đến sắc mặt trắng bệch. “Vô hàn nhiệt” là nói về không có các chứng trạng ghét lạnh phát sốt của biểu chứng. Ba loại hội chứng mất máu gồm nục huyết, hạ huyết và thổ huyết, có bệnh cơ khác nhau, hình tượng mạch cũng khác biệt. Bệnh nhân có mạch trầm huyền, mạch trầm để đón xem tạng thận, huyền là mạch của can, bởi vì thận hư không thể hàm dưỡng (kềm chế) can mộc, nên can vượng khí thăng, huyết theo khí nghịch lên mà thành chứng nục huyết; Nếu thấy mạch phù nhược mà ấn vào thì hết mạch, phù là dương hư, nhược là huyết hư, ấn vào hết mạch không nổi lên là thuộc dương hư thượng phù, là hiện tượng không thể giữ được âm huyết ở hạ tiêu, vì thế xuất hiện chứng hạ huyết. Nếu không thấy hạ huyết, mà bệnh nhân ho rất nhiều, chính là hư hoả nhiễu động tâm phế, thì tất nhiên sẽ dẫn đến thổ huyết.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Trực giải》:“Mặt bệnh nhân không có huyết sắc, cũng là hiện tượng của mất máu. {Thượng kinh} : Người nam mạch hư trầm huyền, vô hàn nhiệt, có lúc mờ mắt kiêm nục (chảy máu mũi). Naykhông hàn nhiệt, mà mạch huyền và nục (chảy máu mũi), thì không khác biệt với chứng trên, cũng do lao nhọc vất vả. Nếu mạch phù nhược, tay ấn xuống thì hết mạch cũng là hữu dương vô âm, vì thế nên biết đây là chứng hạ huyết. Ho nhiều là bệnh thuộc thượng tiêu, vì thế mà biết đây là chứng thổ huyết.
6/ Phu thổ huyết, khaí nghịch thượng khí, kỳ mạch sác nhi hữu nhiệt, bất đắc ngọa giả tử.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày chẩn đoán tiên lượng các huyết chứng như thổ huyết và ho ra máu. Bởi vì âm hư hoả vượng, bức bách huyết tuần hành sai đường vì thế thổ ra máu. Sau khi thổ huyết, âm huyết bị tổn hại, dương khí độc thịnh, nên xuất hiện mạch sác và có nhiệt; Hư nhiệt bốc lên nung đốt phế kim, tân dịch của phế bị khô kiệt, nên gây ho suyễn; Dương thịnh (nhiều) ở trên, không nhập vào âm, vì thế nên tâm phiền bực bội không thể nằm. Sau khi thổ huyết, xuất hiện các chứng trạng như mạch sác thân thể nóng, ho suyễn, không thể nằm, là biểu hiện của phản ứng khi âm huyết càng hư thì tà dương nhiệt càng vượng, hình thành một ác tính nhân quả, mà tiên lượng có tính hiểm ác nhất định, vì thế nên viết đây là chứng: “Chết”
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Mạch sác, thân thể nóng, dương độc thắng; Thổ huyết, ho suyễn, không nằm được, cũng là âm bị thiêu đốt. Với âm bị thiêu đốt mà dẫn đến dương độc thắng, tạo thành một xu thế không bao giờ ngừng, không bao giờ hết, vì thế người bệnh sẽ chết.
7/ Phu tửu khách khái giả, tất trí thổ huyết, thử nhân cực ẩm quá độ sở trí dã.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày bệnh cơ của chứng thổ huyết của tửu khách. Uống rượu đến mức ho là nhiệt gây tổn thương phế. Phế bị nhiệt tổn thương, khí không tuyên giáng (lan toả xuống), vì thế ho nghịch lên, ho lâu ngày không khỏi nên động huyết thậm, nên viết: “Tất trí thổ huyết” tất sẽ thổ huyết, bệnh này nên cấm uống rượu và dùng thuốc thanh trừ phế nhiệt thì sẽ khỏi. Vì thế lại viết: “Thử nhân cực ẩm quá độ sở trí dã” Đây là do uống rượu quá độ mà thành bệnh.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“ Chứng thổ huyết không phải tất cả đều do khí không thống nhiếp (giữ) được huyết, cũng không phải tất cả là do âm hư hoả vượng, mà còn vì uống rượu gây ho khiến phế bị tổn thương cực độ, cộng thêm ho kích động, tất dẫn đến thổ huyết, đây không phải là nguyên nhân bên trong, nên viết : Do uống rượu quá độ mà thành bệnh, điều trị chủ yếu nên thanh tửu nhiệt là điều có thể hiểu.
8.寸口脉弦而大,弦则为减,大则为芤,减则为寒,芤则为虚,寒虚相击, 此名曰革,妇人则半产漏下,男子则亡血。
8/ Thốn khẩu mạch huyền nhi đại, huyền tắc vi giảm, đại tắc vi khâu, giảm tắc vi hàn, khâu tắc vi hư, hư hàn tương kích, thử danh viết cách, phụ nhân tắc bán sản lậu hạ, nam tử tắc vong huyết.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày hình tượng mạch của chứng thất huyết (mất máu) hư hàn. Đoạn văn này đã thấy ở 《Huyết hư lao thiên》.Mạch huyền là dương khí không đầy đủ, dương khí không đầy đủ nên viết “Giảm” (减); Mạch đại ở giữa trống không là âm huyết không đầy đủ, âm huyết không đầy đủ nên viết “Khâu” (芤). Như thế hai mạch huyền khâu hợp lại là mạch cách, chủ về âm dương khí huyết đều không đầy đủ, tất nhiên dương hư thì không thể kiên cố, âm hư nên không thể phòng thủ, từ đó mà dẫn đến các bệnh biến như phụ nữ thì sinh non rong huyết và người nam thì vong huyết thất tinh.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị chú》:“ Theo Thành Vô Kỷ thì giảm là hàn, cũng là thiếu dương khí. Khâu là hư, cũng gọi là thiếu âm huyết. Gọi là cách là đã hàn lại hư, thì khí hư huyết quai (không phù hợp), không theo thường độ, ở người nam là chân dương suy nên bên trong không vững vàng, vì thế chủ về mất máu. Ở phụ nữ là biểu hiện của âm huyết hư, không thể nuôi dưỡng, vì thế thường sinh non và rong kinh lậu huyết. Điều này xuất tự quyển thứ 2 Phụ nhân chứng có thang Toàn phú hoa.
9.亡血不可发其表,汗出则寒栗而振。
9/ Vong huyết bất khả phát kỳ biểu, hãn xuất tắc hàn lật nhi chấn.
{Từ giải}
Lật: Trong lòng lạnh lẽo gọi là lật.
Chấn: Động, chỉ thân thể dao động.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày biến chứng của bệnh mất máu mà ngộ hãn (phát hãn nhầm). Điều văn này gặp ở {Thương hàn luận · thiên Thái dương} Vong huyết là đã mất máu, nếu tái phát hãn, là làm tổn thương dương khí thêm một lần nữa, dương khí hư thì ghét lạnh và trong lòng lạnh lẽo; Toàn thân chấn động, như cùng phát run.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Vong huyết cũng là vong âm; Lại phát biểu, thì dương thêm tổn thương, dương tổn thương thì bên ngoài không vững chắc, nên rét run; Vong âm thì bên trong không thể phòng thủ, nên run rẩy dao động. Nục huyết rồi lại phát hãn, là làm suy kiệt chân âm; Đồng thời lại khiến vong dương, đây đều được gọi là y đạo thô sơ đáng chê cười.
10.病人胸满, 唇痿,舌青,口燥,但欲漱水,不欲咽,无寒热,脉微大来迟.腹不满,其人言我满,为有瘀血。
{Từ giải}
Thần uỷ: giống khô tàn, chỉ về miệng khô héo úa tàn.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày mạch chứng của ứ huyết. Ứ huyết đình trệ, khí cơ không thông sướng, tân huyết (huyết mới) không sinh, huyết không làm cho bên ngoài tốt tươi, vì thế môi khô héo, màu ứ huyết xuất hiện ở lưỡi, nên lưỡi có màu xanh; Ứ huyết đình trệ, khí không hoá tân dịch, không nhuận (ướt) ở trên, vì thế miệng khô, nhưng chỉ muốn súc miệng, không muốn uống nước. Bởi vì ứ huyết ngăn lấp ở dưới, khí nghẽn tắc ở trên, nên mạch vi đại (微大) tức ngực, ứ huyết kết ở sâu trong bụng, huyết tuần hành không thông sướng, rít sáp không thuận lợi, nên thấy mạch trì. Bởi vì ứ huyết kết ở sâu trong bụng, vì thế tuy nhìn bụng tuy không thấy đầy, nhưng bệnh nhân lại có cảm giác đầy bụng. “Mạch vi đại lai trì” (脉微大来迟), thực chất là tuy hình tượng mạch lớn, nhưng thế của mạch không đủ, vì thế mạch qua lại sáp trệ không thuận lợi.
【Tuyển chú】
《Y Tôn Kim Giám》:“Hiện nay bệnh nhân không hàn nhiệt và bệnh nào khác, duy chỉ có tức ngực, môi khô héo, lưỡi xanh, miệng khô, súc miệng nhưng không uống, là tức ngực do ứ huyết. Môi, lưỡi là nơi thể hiện tinh hoa của huyết, huyết bị bệnh nên môi lưỡi không tươi, vì thế biến thành khô héo. Nhiệt tại huyết phận nên miệng khô, súc miệng nhưng không muốn uống. Mạch vi đại lai trì, chẩn đoán là âm ngưng đọng, đúng ra là đầy bụng, nay không đầy bụng, hỏi bệnh nhân, người bệnh nói chỉ cảm thấy đầy tức ở ngực và không thấy đầy ở bụng, chứng trạng như trên có thể suy đoán là có ứ huyết vậy.”
11/ Bệnh giả như nhiệt trạng, phiền mãn, khẩu can táo nhi khát, kỳ mạch phản vô nhiệt, thử vi âm phục, thị ứ huyết dã, đáng hạ chi.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày về chứng ứ huyết dùng phép công hạ là thoả đáng. Chứng này do ứ huyết không hoá, ứ uất hoá nhiệt, nên bệnh như dạng nhiệt. Bởi vì nhiệt phục ở âm phận, khí cơ không thông sướng nên rất đầy trướng; Ứ huyết không vận hành, uất nhiệt tổn thương chân âm, tân dịch thiếu nên không nhuận, vì thế miệng khô khát. Vì chứng này là ứ huyết hoá nhiệt, phục trong âm phận, vì thế mạch lại không có nhiệt. Đây là phục trong âm, cũng chính là ứ huyết, dùng phép công hạ là thoả đáng, với các loại thang như Đào hạch thừa khí, Để đương hoàn…
【Tuyển chú】
《Y Tôn Kim Giám》:“ Nối tiếp đoạn văn trên để hiểu tường tận về chứng mạch, và có thể minh xác trong điều trị. Như nhiệt trạng, tức gọi là tâm phiền tức ngực, miệng khô táo khát của nhiệt chứng; Người này đang có dương mạch sác đại, nay lại trở thành âm mạch trầm phục, là nhiệt phục ở âm, cũng là ứ huyết. Ứ huyết dùng phép công hạ là thoả đáng, nên dùng các loại như Đào hạch thừa khí, Để đương thang hoặc hoàn vậy.”
12.火邪者,桂枝去芍药加蜀漆牡蛎龙骨救逆汤主之。
12/ Hỏa tà giả, quế chi khứ thược dược gia thục tất mẫu lệ long cốt cứu nghịch thang chủ chi.
Quế chi cứu nghịch thang phương
Quế chi 3 lượng (bỏ vỏ), cam thảo 2 lượng (chích), sinh khương 3 lạng, mẫu lệ 5 lạng (ngao), long cốt 4 lạng, đại táo 12 trái, thục tất 3 lạng (rửa hết tanh). Dùng 1 đấu 2 thăng nước sắc thục tất trước giảm 2 thăng, cho thuốc còn lại vào sắc tiếp, còn 3 thăng bỏ bã, uống lúc ấm 1 thăng.
{Từ giải}
Hoả tà: chỉ về dùng các phương pháp như ngói nung, thiêu châm để phát hãn.
【Giải thích】
Đoạn văn này thảo luận về trị pháp hoả kiếp gây kinh hãi. Chứng này thuộc Thái dương thương hàn, thày thuốc dùng hoả pháp để ép buộc xuất hãn, dẫn đến tổn thương tâm dương, dương khí không hoá nên tân dịch thành đàm, lạc vào tâm cung, nên xuất hiện các chứng như bực bội, sợ hãi hồi hộp bất an.
Chứng này là tâm dương hư và đàm trọc cản trở bên trong, điều trị nên dùng thang Quế chi khứ Thược dược gia Thục tất Mẫu lệ Long cốt cứu nghịch, liễm dương chấn kinh, trừ đàm an thần. Trong phương có Quế chi, Cam thảo hỗ trợ tâm dương, Sinh khương, Đại táo điều hoà doanh vệ, Thục tất trừ đàm hoá ẩm, Mẫu lệ, Long cốt thu liễm thần khí, an thần định trí để trị chứng kinh hãi điên cuồng. Các vị thuốc hợp lại, khiến tâm dương phấn khởi, đàm trọc tiêu trừ, thì hết sợ hãi và tinh thần được bình an.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“Phương dược này trị chứng sợ hãi, lại trị chứng điên cuồng bất an trong khi bị bệnh, không ức chế tâm như An thần hoàn, Trấn kinh hoàn。……., vì thế chứng trạng là hoả tà, lồng ngực là nơi ở của thanh dương, hoả kiếp vong dương khiến thần linh tán loạn, vì thế dùng Quế, Cam, Khương, Táo để tuyên phát nguyên dương ở thượng tiêu, thì khói bốc ra tự dập lửa. Kinh hãi tất có ứ kết, vì thế gia Thục tất để phá kết, trị chứng tà kết trong ngực; Và với tính cam sáp bình của Long cốt, chua mặn lạnh của Mẫu lệ, một âm một dương để giao thông tâm thận, điều trị chứng tinh thần tán loạn. Nếu thang Quế chi khứ Thược dược, bệnh không ở can tỳ, vì thế hiềm vì vị chua (toan) thu nhập phúc (bụng) vậy.
13.心下悸者,半夏麻黄丸主之。
13/Tâm hạ quý giả, bán hạ ma hoàng hoàn chủ chi.
Bán hạ ma hoàng hoàn phương
Bán hạ, ma hoàng đẳng phân. Tán bột mịn luyện mật hồ hoàn bằng hột đậu xanh. Mỗi lần 3 hoàn ngày 3 lần.
【Giải thích】
Đoạn văn này thảo luận chứng trị của chứng hàn ẩm tâm quý. Nguyên nhân của bệnh là do tỳ không kiện vận, hàn ẩm đình trệ ở tâm hạ, thuỷ khí xâm phạm lên tâm, vì thế hồi hộp ở tâm hạ, đồng thời lại gây bế tắc phế khí ở thượng tiêu, đình trệ trong vị ở trung tiêu dẫn đến các chứng trạng như suyễn, khó thở, vựng đầu hoa mắt, ẩu thổ và tâm hạ bĩ.
Điều trị nên dùng Bán hạ Ma hoàng hoàn, một tuyên (lan toả) một giáng, để trừ ẩm tà. Trong phương dùng Ma hoàng tuyên thông phế khí để tán thuỷ tà, Bán hạ hoà vị giáng nghịch trừ hàn ẩm, khiến dương khí thông, trừ được ẩm tà thì chứng hồi hộp có thể lành. Vì phục tà là bệnh tà hữu hình, cần phải đồng thời vừa nuôi dưỡng lại vừa trừ khứ, để chậm rãi giải trừ bệnh, nếu quá cấp bách có thể sẽ tổn thương chính khí, vì thế nên dùng hoàn tễ liều nhỏ là thích hợp.
Hồi hộp do đàm ẩm, thường dùng Quế chi, Phục linh thông dương lợi thuỷ. Bệnh này là hàn ẩm nhiều ở bên trong (nội thịnh), dương khí bị bế uất. Vì thế dùng Bán hạ Ma hoàng hoàn để tuyên phát dương khí và khứ ẩm. Do đó có thể biết, chứng hồi hộp không chỉ do khí huyết hư tổn gây ra, mà hàn ẩm cũng là một nhân tố gây ra chứng này.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Đây là phương pháp trị ẩm khí ức chế dương khí. Bán hạ trừ ẩm khí, Ma hoàng phát tán dương khí, vi diệu là ở thuốc hoàn và cách uống, hoà hoãn là mưu đồ, vị cay ngọt của Ma hoàng, không thể phát việt khí tân dịch, mà chỉ tăng dần và mở rộng, tức là vị cay đắng của Bán hạ, cũng không đặc biệt khứ trừ ẩm khí, mà là cùng hoà dưỡng trung khí, không phải là Trọng Cảnh thần linh thiên biến vạn hoá thì có ai làm được như vậy.”
14/ Thổ huyết bất chỉ giả, Bá diệp thang chủ chi.
Bá diệp thang phương
Trắc bá diệp, Can khương mỗi loại 3 lạng, Ngải diệp 3 nắm. Dùng 5 thăng nước pha với mã thông trấp (nước tiểu ngựa) một thăng sắc lấy một thăng chia ra 2 lần uống lúc ấm.
【Từ giải】
Mã thông trấp: Tức là nước tiểu ngựa, ngựa trắng thì tốt.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày chứng trị của chứng thổ huyết không cầm. Chứng này do khí trung tiêu hư hàn, khí không giữ được huyết, huyết không quy kinh mà tràn lên gây thổ huyết. “Thổ huyết bất chỉ” câu nói này, chính là có ý chỉ về chứng thổ huyết lúc nhiều lúc ít, có lúc ngừng, kéo dài không dứt, ngoan cố không khỏi.
Điều trị nên dùng thang Bách diệp, ôn kinh chỉ huyết. Trong phương có Bá diệp cầm máu, tính thanh mà giáng, để kiềm chế huyết nghịch lên, Can khương, Ngải diệp ôn trung tiêu, ấm khí để giữ huyết, Mã thông trấp nuôi âm để cầm máu, có thể dẫn huyết đi xuống, giám sát tính khô khan của Can khương, Ngải diệp. Hợp dụng 4 vị thuốc có công dụng ôn trung tiêu, thống nhiếp huyết và trị ẩu thổ. Trên lâm sàng thường không tìm được Mã thông trấp, thì có thể thay thể bằng nước tiểu trẻ em.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú》:“ Chứng thổ huyết căn bản là dương hư, không thể dẫn huyết quy kinh, tuy huyết vong và âm khuy, vì thế vị Bách diệp dưỡng âm cực tốt được dùng làm quân dược, Ngải diệp tuần hành các kinh là thần, và Can khương ấm vị là tá dược, Mã thông dẫn hoả đi xuống là sứ, gặp lúc không có Mã thông, đồng tiện cũng được.
【Bệnh án】
Lưu ××, nam, 42 tuổi. Ông có tiền sử cao huyết áp và thường xuyên bị đau đầu, mất ngủ. Một ngày nọ, anh đột nhiên bị chảy máu cam thường xuyên, có màu đỏ tươi. Anh được đưa đến khoa tai mũi họng của bệnh viện để điều trị và máu tạm thời ngừng chảy. Sau khi về nhà, anh lại tiếp tục chảy máu nên việc chẩn đoán và điều trị bị trì hoãn. Triệu chứng: Chóng mặt, rêu lưỡi hơi vàng và khô, mạch huyền. Nguyên nhân là do can dương quá nhiều, huyết áp quá cao, nên bổ âm, làm mát máu, cầm máu trong trường hợp khẩn cấp, tự chế thuốc sắc lá Trắc bá diệp thang để hòa vào nước tiểu của trẻ: Sinh địa 30 gam. Trắc bá diệp 9 gam, Ngải diệp 6 gam, Hàng thược 9 gam, Mạch đông 9 gam Lấy 5 củ sen, 9 gam than gừng, 6 gam cam thảo, cho vào nước tiểu của trẻ, nục huyết sẽ giảm bớt, và liều tiếp theo thì chứng nục huyết chấm dứt hoàn toàn.
15/Hạ huyết, tiên tiện hậu huyết, thử viễn huyết dã, hoàng thổ thang chủ chi. Hoàng thổ thang phương Cam thảo can địa hoàng bạch truật phụ tử (bào) a giao hoàng cầm mỗi loại 3 lạng táo trung hoàng thổ (Hoàng thổ trong bếp) 0,5 cân. (cũng chữa thổ huyết, nục huyết) Dùng 8 thăng nước sắc lấy 3 thăng chia 3 lần uống lúc ấm.
【Từ giải】
Viễn huyết: Đại tiện trước, xuất huyết sau, xuất huyết từ vị trí trực tràng trở lên, cách giang môn khá xa thì gọi là viễn huyết.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày hội chứng và điều trị của chứng hạ huyết hư hàn. Chứng này do khí trung tiêu hư hàn, tỳ dương không vận chuyển, khí không giữ được huyết mà thành chứng tiện huyết. Đại tiện đi xuống, khí cũng tiết xuống, huyết theo khí mà xuống, vì thế là chứng đại tiện trước, xuất huyết sau còn gọi là chứng viễn huyết. Khí trung tiêu hư hàn, nguồn khí huyết cung cấp không đầy đủ, nên có các chứng trạng như sắc mặt trắng bệch, ớn lạnh mỏi mệt, đau bụng thích ấn nắn, chất lưỡi nhạt mạch nhược là ẩn ý tự nhiên (tự tại ngôn ngoại).
Điều trị nên dùng thang Hoàng thổ, ôn tỳ phù dương, bổ huyết nhiếp âm. Trong phương có Hoàng thổ đỗ trung (đất trong lòng bếp), có tên là Phục long can, phối với Bạch truật, Phụ tử, Cam thảo ôn trung tiêu khứ hàn, kiện tỳ thống nhiếp huyết; A giao, Sinh địa dưỡng huyết cầm máu; Hoàng cầm thanh nhiệt mát máu kiên (giữ vững) âm, ngăn ngừa ôn dược gây động huyết. Các vị thuốc hợp lại có tác dụng chấn hưng tỳ dương, giữ huyết tuần hành trong mạch khiến chứng tiện huyết tự ngừng.
Thang Hoàng thổ và thang Bá diệp cùng là hội chứng xuất huyết của trung khí hư hàn không thể nhiếp âm, nhưng bệnh có mức độ nặng nhẹ khác nhau. Hội chứng của thang Bá diệp, hư hàn khá nhẹ, tuy xuất huyết không ngừng, nhưng chưa tổn thương chính khí, chỉ cần dùng Can khương ôn ấm dương ở trung tiêu là có thể; Mà hội chứng thang Hoàng thổ là hội chứng xuất huyết hư hàn khá nặng, vì thế phải dùng Phụ tử phù dương để nhiếp (giữ) âm.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Hạ huyết tiện trước xuất huyết sau, là do tỳ khí hư hàn, mất quyền thống ngự (thống trị), và máu cũng không được bảo vệ, tỳ ở xa giang môn, nên viết là viễn huyết. Hoàng thổ ấm khô nhập tỳ, hợp với Bạch truật, Phụ tử để khôi phục kiện hành của khí; A giao, Sinh địa, Cam thảo có ích cho máu đã kiệt thoát, lại suy nghĩ về các dược phẩm tân ôn (cay ấm) sẽ có ảnh hưởng mãnh liệt đến huyết bệnh, vì thế lại dùng vị Hoàng cầm đắng lạnh, ngăn ngừa thái quá của thuốc tân ôn, Hoàng cầm cũng được coi là bậc thầy về khả năng kềm chế.”
【Bệnh án】
Họ Triệu, nữ. Trong lần mang thai đầu tiên sau khi kết hôn, cô bị sẩy thai sớm và tiếp tục ra máu. Cô đã được cho uống vài liều thag Gia vị Hoàng thổ và cô đã khỏi bệnh và sinh được một con gái. Lần mang thai thứ hai có dấu hiệu sảy thai, sau khi uống vài liều thuốc của lần mang thai trước, sức khỏe của cả hai bé đều ổn.
Đơn thuốc: Thục địa 60 gam, Nguyên nhục 30 gam, Đương quy 12g Hoàng kỳ 18g Bạch truật 9g Phụ tử 9g Cam thảo 9g Hoàng cầm 9g Lộc giác giao 30g Phục long can 12g.
Với mười vị trên dùng mười hai cốc nước đun sôi Phục long can, còn tám cốc và bỏ bã, sau đó nấu hai cốc trong tám vị đầu tiên, loại bỏ cặn và thêm Lộc giác giao vào. cho đến khi tan hết cao và phân ra uống 2 lần.
16.下血,先血后便,此近血也,赤小豆当归散主之。方
见狐惑中。
16/ Hạ huyết, tiên huyết hậu tiện, thử cận huyết dã, xích tiểu đậu đương quy tán chủ chi. (Phương xem trong Hồ Hoặc bệnh)
【Từ giải】
Cận huyết: Xuất huyết trước, đại tiện sau, huyết xuất từ trực tràng, có khoảng cách khá gần giang môn, nên gọi là cận huyết.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày chứng trị của chứng thấp nhiệt uẩn kết (tích tụ sâu) bức bách huyết hạ hành. Bởi vì thấp nhiệt uẩn kết ở đại tràng, bức huyết đi xuống vì thế thành chứng cận huyết là xuất huyết trước đại tiện sau, khi xuất huyết thường kèm theo dịch mủ, hậu thế gọi là tạng độc. Vì thấp nhiệt uẩn kết ở trung tiêu nên có các chứng trạng như đại tiện không thông sướng và rêu lưỡi vàng nhầy, mạch huyền sác cũng là điều tất nhiên vậy.
Điều trị dùng Xích tiểu đậu Đương quy tán, thanh lợi thấp nhiệt, trừ mủ tiêu thũng, hoạt huyết hành ứ, khiến nhiệt trừ thấp khứ, chứng hạ huyết có thể tự ngừng.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“Chứng hạ huyết mà xuất huyết trước đại tiện sau là do đại tràng tổn thương vì thấp nhiệt, và huyết thấm xuống dưới, đại tràng gần giang môn, vì thế viết là cận huyết. Xích tiểu đậu có thể vận hành thuỷ thấp, giải nhiệt độc, Đương quy dẫn huyết quy kinh, lại nâng được khí hạ hãm trong huyết.”
17.心气不足,吐血、衄血,泻心汤主之。
17/ Tâm khí bất túc, thổ huyết, nục huyết, tả tâm thang chủ chi.
Tả tâm thang phương cũng dùng chữa hoắc loạn
Đại hoàng 2 lạng; Hoàng liên, Hoàng cầm mỗi loại 1lạng. Dùng 3 thăng nước sắc còn 1 thăng uống hết.
【Từ giải】
Tâm khí bất túc: Ở đây có ý nói về tâm âm bất túc.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày chứng trị của chứng nhiệt thịnh thất huyết. Bởi vì tâm âm không đầy đủ, tâm hoả thái quá, bức huyết vọng hành và tràn lên trên, vì thế xuất hiện thổ huyết, nục huyết. Tà nhiệt thái quá, vì thế có các chứng trạng như phiền muộn bất an, mặt đỏ lưỡi hồng, khát nước táo bón, mạch sác…
Điều trị dùng thang Tả tâm, thanh nhiệt tả hoả. Trong phương có Hoàng cầm, Hoàng liên thanh nhiệt giáng hoả, trừ nhiệt ở tâm kinh thì tâm huyết tự an; Đại hoàng khổ tả (苦泻) vị đắng và tả hạ, dẫn huyết đi xuống, khiến khí hoả hạ xuống thì huyết an tĩnh và không vọng hành. Đó tức là ý của cổ nhân:“Tả tâm tức tả hoả, tả hoả tức chỉ huyết” tả tâm tức là tả hoả, tả hoả tức là cầm máu.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》:“ Tâm khí bất túc là âm khí trong tâm không đầy đủ, âm bất túc nên dương độc thịnh, huyết bị nhiệt bức bách mà vọng hành không ngừng. Đại hoàng, Hoàng cầm, Hoàng liên tả nhiệt của tâm nên huyết sẽ tự an.”
【Bệnh án】
Họ Trương, nam, 35 tuổi. Triệu chứng của chảy máu cam dai dẳng bao gồm: Khó chịu, khát nước lạnh, tinh thần bình thường, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng và nhờn, mạch hoạt sác. Bệnh nhân nghiện rượu. Tham khảo kết hợp tứ chẩn, nhận định đây là chứng hoả uất ở phế vị, điều trị nên thanh phế hoả, giải uất nhiệt, dùng phương thang Đại hoàng Hoàng liên tả tâm của Trọng Cảnh. Phương gồm: Đại hoàng 9g, Hoàng liên 6g, Hoàng cầm 9g, ngâm trong nước sôi, lấy nước chia làm 3 lần uống. Nục huyết cầm thì ngưng uống. Phương trên uống 1 thang, chứng chảy máu cam liền cầm.
Lời kết
Bài viết này thảo luận về tình trạng hoảng loạn và hồi hộp, đồng thời đề ra các phương pháp điều trị: Như thang Quế chi khứ Thược dược gia Thục tất Mẫu lệ Long cốt mà có tác dụng thông dương trấn áp hoảng loạn, trừ đàm an thần, để trị chứng kinh hãi phát cuồng vì hoả tà; Bán hạ Ma hoàng hoàn có hiệu quả tuyên dương trừ ẩm, để điều trị chứng hồi hộp do hàn ẩm xâm phạm tâm gây ra.
Với các hội chứng thất huyết: Có thang Trắc bá ôn kinh cầm máu, dùng trị chứng thổ huyết không cầm; Thang Hoàng thổ ôn tỳ thống nhiếp huyết, có thể trị chứng viễn huyết; Xích tiểu đậu Đương quy tán thanh lợi thấp nhiệt, có thể trị chứng cận huyết; Thang Tả tâm thanh nhiệt tả hoả, dùng trị chứng thổ nục do tâm âm bất túc. Thiên này cũng đồng thời thảo luận về những điều cấm kỵ và tiên lượng của thổ nục và tiện huyết, đến những đặc điểm mạch chứng của ứ huyết. Nói tóm lại, trị huyết tuy chỉ vỏn vẹn có 4 phương thang, nhưng đối với nguyên nhân bệnh, cơ chế đến phương pháp biện chứng luận trị, đã được trình bày thảo luận một cách toàn diện, đồng thời được trình bày rất lớp lang thứ tự để người đọc dễ dàng nắm vững.
Trường Xuân Ng. Nghị