(XV ) KINH NGOẠI KỲ HUYỆT
Kinh ngoại kỳ huyệt là những huyệt không được ghi chép trong Nội Kinh và Nan Kinh, do các y gia đời sau dần dần phát hiện trong thực tiễn lâm sàng, nhưng không phải là không có liên hệ với hệ thống kinh lạc. Nay xin liệt kê các huyệt thường dùng trong lâm sàng ở Bảng 1.
Bảng 1. Kinh ngoại kỳ huyệt (gồm cả “续表”)
| Huyệt danh | Vị trí | Công dụng | Chủ trị | ||||
| Ngạch Trung (额中) | Trên đường giữa trán, từ gian mày đo thẳng lên 1 thốn | Thanh nhiệt tán phong; chỉ thống | Mắt đỏ sưng; đau TK mặt; đau đầu; nôn; chóng mặt | ||||
| Ấn Đường (印堂) | Giữa hai đầu lông mày | Thanh nhiệt tán phong; chỉ thống | Đầu nặng, đau đầu; chảy máu mũi; viêm mũi; kinh phong; choáng huyết sau sinh; mất ngủ; chóng mặt; méo miệng mắt; suy nhược TK; đau bờ xương trên ổ mắt | ||||
| Tỵ Thông (鼻通) | Điểm tận cùng phía trên rãnh mũi-môi | Thanh nhiệt tán phong; tuyên thông tỵ khiếu | Đau đầu; nghẹt mũi; polyp mũi; viêm mũi; mắt đỏ chảy nước; cảm mạo | ||||
| Ngư Yêu (鱼腰/魚腰) | Giữa cung lông mày | Thanh đầu minh mục | Mắt đỏ; mộng mắt; giật mi; sụp mi; méo miệng mắt; đau TK trên ổ mắt | ||||
| Thái Dương (太阳) | Chỗ lõm cách 1 thốn về phía sau của điểm giữa đuôi mày và khoé mắt ngoài | Thanh đầu minh mục | Đau đầu; bệnh mắt; liệt mặt; cảm mạo; méo miệng mắt; đau răng; bệnh tai; thanh manh; cận thị | ||||
| Khiên Chính (牵正) | Trước dái tai 0,5–1 thốn | Tán phong thông lạc; an thần chỉ thống | Liệt mặt; loét miệng; đau răng hàm dưới | ||||
| Tứ Thần Thông (四神聪) | Quanh Bách Hội: trước, sau, trái, phải mỗi điểm cách 1 thốn | Khu tà thông lạc; an thần chỉ thống | Đau đầu; chóng mặt; mất ngủ; hay quên; cuồng; bán thân bất toại; não úng thuỷ | ||||
| Yêu Nhãn (腰眼) | Bên cạnh L4 ngang ra khoảng 2 thốn, chỗ lõm | Tráng yêu bổ thận | Đau lưng-chân; liệt dương, di tinh; lao cơ lưng; đau TK toạ; kinh nguyệt rối loạn; đới hạ; viêm tiểu khung; sa thận | ||||
| Định Suyễn (定喘) | Ngang Đại Chùy (C7–T1) ra 0,5 thốn | Tuyên phế, bình suyễn | Hen suyễn; ho; cảm mạo; đau vùng cổ-lưng trên | ||||
| Hoa Đà Giáp Tích (华佗夹脊) | Từ T1 đến L5, mỗi khoang: dưới mỏm gai, ngang ra 0,5 thốn hai bên | Thông lợi khớp; điều chỉnh tạng phủ | Đau cột sống; bong gân cơ lưng; liệt chi dưới; bệnh tạng lân cận theo đoạn thần kinh | ||||
| Thập Thất Chuy (十七椎) | Dưới mỏm gai L5 | Bổ thận tráng yêu; thông lạc chỉ thống | Đau lưng, đau chân; liệt chi dưới; bệnh phụ khoa | ||||
| Nhị Bạch (二白) | Mặt gan tay: trên nếp gấp cổ tay 5 thốn, hai bên gân cơ gan tay dài (vùng cạnh gân gấp quay) | Tiêu viêm; cố thoát | Trĩ; sa trực tràng | ||||
| Tý Trung (臂中) | Trung điểm nối nếp gấp cổ tay với nếp gấp khuỷu, giữa gân cơ gan tay dài và cơ gấp cổ tay quay | Thư cân thông lạc | Liệt hoặc co cứng chi trên; đau TK cẳng tay; chứng cuồng (hysteria) | ||||
| Hoàn Trung (环中) | Trung điểm đường nối Hoàn Khiêu (环跳) – Yêu Du (腰俞) | Thông lạc chỉ thống | Đau TK toạ; đau lưng; đau chân | ||||
| Tứ Cường (四强) | Từ trung điểm bờ trên mào chậu đo thẳng lên 4–5 thốn | Sơ kinh hoạt lạc | Chi dưới toạ tý; liệt/nhược; di chứng bại liệt trẻ em | ||||
| Đởm Nang Huyệt (胆囊穴) | Dưới Dương Lăng Tuyền (阳陵泉) 1–2 thốn | Tiêu viêm chỉ thống; sơ kinh hoạt lạc | Viêm túi mật; sỏi mật; giun đường mật; chi dưới toạ tý | ||||
| Manh Tràng Huyệt (阑尾穴) | Dưới Túc Tam Lý (足三里) khoảng 2 thốn | Thanh nhiệt tán ứ; thông điều trường đạo | Viêm ruột thừa cấp/mạn; tiêu hoá kém; liệt chi dưới; đau bụng, nôn tả | ||||
| Bách Trùng Oa (百虫窝) | Trên Huyết Hải (血海) 1 thốn | Khu phong trừ thấp; chỉ dương (chống ngứa) | Chàm thấp, phong thấp chẩn; ngứa vùng âm | ||||
| Tất Nhãn (膝眼) | Hai hõm hai bên gân bánh chè, cạnh trong-ngoài khớp gối | Thông lợi khớp | Sưng đau khớp gối; tê liệt chi dưới | ||||
| Tử Cung (子宫) | Ngang Quan Nguyên (关元) đo sang bên 4 thốn | Thăng đề hạ hãm; điều kinh hoà huyết | Sa sinh dục; kinh nguyệt không đều; thống kinh; viêm tiểu khung; vô sinh | ||||
| Bách Lao (百劳) | Trên Đại Chùy 2 thốn, ngang ra 1 thốn | Thanh phế hoá đàm | Hạch cổ, cổ sưng; ho-suyễn; lao phổi; cứng cổ-lưng; viêm PQ; di chứng bại liệt; đau tay | ||||
| Đài Kiên (抬肩) | Trước-dưới mỏm cùng vai khoảng 1,5 thốn | Sơ kinh hoạt lạc | Vẹo cổ; đau vai-cánh tay; co rút ngón tay | ||||
| Lạc Chẩm (落枕) | Mu tay: giữa xương đốt bàn 2–3, sau khớp bàn-ngón khoảng 0,5 thốn | Sơ kinh hoạt lạc | Trẹo cổ; đau vai-cánh tay; co quắp ngón | ||||
| Ngược Môn (疟门) | Mu tay: giữa kẽ ngón 3–4, tại bờ da đỏ-trắng | Thanh nhiệt; cắt cơn ngược | Sốt rét; đau ngón tay | ||||
| Huyệt danh | Vị trí | Công dụng | Chủ trị | ||||
| Hạc Đỉnh (鹤顶) | Ở ngay bờ trên xương bánh chè (gối), chính giữa chỗ lõm | Thông lợi khớp | Sưng đau khớp gối; liệt chi dưới | ||||
| Thượng Dương Quan (上阳关) | Trên đầu nếp ngang ngoài khoeo gối 1 thốn | Sơ kinh hoạt lạc | Di chứng bại liệt trẻ em; liệt, đau chân; sưng đau khớp gối… | ||||
| Cứu Nội Phiên (纠内翻) · Cứu Ngoại Phiên (纠外翻) | Từ Thừa Sơn (承山) đo ra mỗi bên ~1 thốn: điểm ngoài dùng “Cứu Nội Phiên”, điểm trong dùng “Cứu Ngoại Phiên” | Sơ kinh hoạt lạc | Di chứng bại liệt trẻ em; liệt chi dưới; chỉnh biến dạng bàn chân quặp vào (nội phiên) hoặc quặp ra (ngoại phiên); đau chân, sưng đau khớp gối | ||||
Mục V: Tư thế bệnh nhân và phương pháp lấy huyệt (五、患者体位与取穴方法) — (phần này là tiêu đề tiếp theo trong nguyên bản; nếu bạn cần, mình sẽ dịch và trình bày chi tiết theo từng huyệt).
Hình 15
A. Tư thế bệnh nhân khi lấy & kích thích huyệt
Tư thế Ứng dụng / vùng lấy huyệt
Nằm nghiêng (侧伏位) Dùng để lấy/kích thích mặt bên vùng mặt, cổ bên, mặt ngoài tứ chi… (Hình 15E).
Gập khuỷu – chắp tay (屈肘拱手位) Lấy/kích thích mặt ngoài chi trên… (Hình 15F).
Gập khuỷu – sấp bàn tay (屈肘俯掌位) Lấy/kích thích mặt mu bàn tay của chi trên… (Hình 15G).
Gập khuỷu – ngửa bàn tay (屈肘仰掌位) Lấy/kích thích mặt lòng bàn tay của chi trên… (Hình 15H).
Nằm sấp (俯伏位) Lấy/kích thích hai bên cột sống, mặt sau đầu-cổ, vùng vai-xương bả, lưng, thắt lưng-cùng, mông… (Hình 15I).
Ngồi thẳng (正坐位) Lấy/kích thích trước ngực, khoang liên sườn phía trước, mặt ngoài bụng… (Hình 15J).
Đứng (站立位) Ít dùng; có thể dùng kích thích vùng rốn-bụng, đầu-mặt, cổ-gáy, chi trên; hoặc khi điều kiện hạn chế buộc phải đứng (Hình 15K).
B. Phương pháp lấy huyệt
Định nghĩa: “Tìm vị trí du huyệt gọi là thủ huyệt/khảo huyệt (取穴).” Độ chính xác khi lấy huyệt ảnh hưởng trực tiếp hiệu quả điều trị. Ngoài vị trí mô tả riêng của từng huyệt, cần nắm phép đo cốt độ – phân thốn và mốc giải phẫu tự nhiên trên bề mặt.
Nguyên tắc thao tác: Căn cứ từng huyệt và đường kinh, sắp xếp tư thế – động tác phù hợp cho thầy thuốc và bệnh nhân (như ngồi, nằm, gập khuỷu, há miệng; thầy thuốc đẩy, kéo, lật, xoay…), sau đó áp dụng cốt độ phân thốn để xác định đúng vị trí huyệt.
1) Phép cốt độ – phân thốn (骨度分寸折量法)
Dùng chiều dài ở một vùng cơ thể “quy đổi” ra thốn theo tỉ lệ để lấy huyệt. 《灵枢·骨度篇》 nêu: “Chúng nhân chi độ, nhân trường thất xích ngũ thốn (众人之度, 人长七尺五寸)” – nghĩa là bất kể tuổi, giới, cao-thấp, gầy-béo đều quy chiếu theo cốt độ. Phương pháp này áp dụng tốt ở đầu-mặt và tứ chi (xem Hình 16, Bảng 2).
Bảng 2. Các khoảng cốt độ – phân thốn thường dùng
Bộ phận Mốc đo (khởi ↔ chỉ) Số thốn (骨度分寸) Loại đo Ghi chú
Đầu Từ mi tâm → bờ tóc trán (tiền phát tế) 3 thốn Trực thốn —
Tiền phát tế → hậu phát tế 12 thốn Trực thốn —
Hậu phát tế → Đại chùy (C7–T1) 3 thốn Trực thốn —
Tiền phát tế → cổ 1 thước ≈ 10 thốn Trực thốn —
Mặt Khoảng cách hai Đầu Duy (头维) — Hoành thốn Xem chú (2).
Gáy/cổ (项) Giữa hai Hoàn Cốt (完骨/ mỏm chũm) sau tai 9 thốn Hoành thốn —
Cổ-ngực Hầu kết → Khuyết bồn (缺盆) 4 thốn Trực thốn —
Hậu phát tế → lưng trên 2.5 thốn Trực thốn —
Thiên đột (天突) → Kì cốt (岐骨/ mũi ức) 9 thốn Trực thốn Chú (4).
Ngực-bụng Kì cốt (mũi ức) → rốn 8 thốn Trực thốn —
Rốn → bờ trên xương mu (横骨上廉) 5 thốn Trực thốn Chú (5).
Hai nhũ (trái-phải) 8 thốn Hoành thốn —
Hố nách → bờ dưới sườn (季肋) 12 thốn Trực thốn Chú (7).
Bờ dưới sườn (季肋) → Bễ xu (髀枢/ Hoàn Khiêu) 9 thốn Trực thốn Chú (8).
Lưng Dưới Đại chùy → tận xương cùng – cụt “21 đốt sống” Trực thốn (theo đốt) Chú (9).
Giữa bờ trong xương bả vai hai bên ↔ trục cột sống 6 thốn Hoành thốn —
Chi trên Nếp trước nách → nếp gấp khuỷu 9 thốn Trực thốn —
Nếp gấp khuỷu → nếp gấp cổ tay 12 thốn Trực thốn —
Nếp gấp cổ tay → đốt bàn (gốc) ngón giữa 4 thốn Trực thốn —
Đốt bàn ngón giữa → đầu ngón giữa 4.5 thốn Trực thốn (10) dùng cho tam âm/tam dương thủ kinh.
Chi dưới (mặt trong) Bờ trên xương mu (横骨上廉) → bờ trên lồi cầu trong xương đùi (内辅骨上廉) 18 thốn Trực thốn Chú (11), (14).
Bờ dưới lồi cầu trong → đỉnh mắt cá trong 13 thốn Trực thốn —
Chi dưới (khác) Bễ xu (髀枢/ Hoàn Khiêu) → giữa khoeo (膝中) 19 thốn Trực thốn —
Nếp mông ngang → giữa khoeo 14 thốn Trực thốn Chú (12).
Giữa khoeo → đỉnh mắt cá ngoài 16 thốn Trực thốn Chú (13), (15), (16).
Đỉnh mắt cá ngoài → lòng bàn chân 3 thốn Trực thốn —
Chiều dài bàn chân 12 thốn Độ dài —
Chú giải (từ nguyên bản):
Khi không xác định rõ tiền/hậu phát tế, mi tâm → Đại chùy quy ước 18 thốn.
Đầu Duy (头维) → Thần Đình (神庭) quy ước 4.5 thốn; khoảng hai Đầu Duy dùng hoành thốn theo tỉ lệ đầu.
Hoàn Cốt là mỏm chũm phía sau tai.
Kì cốt (岐骨) chỉ mũi ức (kiếm trụ/剑突).
Bờ trên xương mu (横骨上廉) tức bờ trên khớp mu (耻骨联合上缘).
Trực thốn vùng ngực – hiếp (hông sườn) tính theo xương sườn: mỗi khoang sườn ≈ 1.6 thốn.
Bờ dưới sườn (季肋) chỉ đầu xương sườn 11.
Bễ xu (髀枢) tương ứng vùng huyệt Hoàn Khiêu.
Huyệt lưng định vị theo mốc mỏm gai đốt sống.
Khoảng từ nách trước đến cổ tay dùng cho thủ tam âm & thủ tam dương (đo trực thốn).
Bờ trên lồi cầu trong là đỉnh trên của lồi cầu trong xương đùi.
Nếp mông ngang → giữa khoeo quy ước 14 thốn.
Giữa khoeo tương ứng trước là Độc Tỵ (犊鼻), sau là Uỷ Trung (委中).
Mặt trong gối áp dụng cho thủ/túc tam âm (đo trực thốn).
Mặt ngoài gối áp dụng cho thủ/túc tam dương (đo trực thốn).
Đường ngang qua “giữa khoeo”: phía trước tương ứng Độc Tỵ (犊鼻), phía sau Uỷ Trung (委中).
Phụ chú
“Hình 16

– Phép đo cốt độ phân thốn (骨度分寸折量法)” có các mảnh văn rời như “1.3寸 / 12寸 / 18寸 / 19寸 / 13寸 / 16寸 / 3寸 / 季肋下 / 髀枢”… đã được gom và xếp vào các dòng tương ứng trong bảng ở phần trước.
2) Phương pháp đồng thân thốn bằng ngón tay (手指同身寸取穴法)
Thường dùng 4 cách:
1. Trung chỉ đồng thân thốn (中指同身寸):
Lấy mặt trong đốt giữa của ngón giữa khi gập, đo khoảng giữa hai đầu nếp ngang của đốt này, quy ra 1 đồng thân thốn.

(Hình 17 – 中指同身寸)
2. Mẫu hoành chỉ đồng thân thốn (拇横指同身寸):
Lấy bề ngang của ngón cái (vùng giữa khớp 1–2) làm 1 đồng thân thốn. (Hình 18A)
3. Nhị hoành chỉ đồng thân thốn (二横指同身寸):
Lấy bề ngang của ngón trỏ + ngón giữa (đặt kề nhau) quy thành 1.5 thốn. (Hình 18B – 1.5寸)
4. Tứ hoành chỉ đồng thân thốn (四横指同身寸):
Lấy bề ngang 4 ngón (trỏ–giữa–áp út–út, đặt kề) quy thành 3 thốn.

(Hình 18C – 3寸)
3) Phương pháp lấy huyệt theo mốc tự nhiên cơ thể (人体天然标志取穴法)
Dựa vào các mốc tự nhiên trên cơ thể người bệnh để xác định huyệt. Ví dụ:
Cách này phù hợp cho một số huyệt nhất định.
VI. Luyện lực ngón tay & công pháp (指力练习与功法)
Hiệu quả điểm huyệt phụ thuộc lớn vào lực đạo của ngón tay. Nếu có công pháp (khí công) nhất định sẽ tăng đáng kể hiệu quả lâm sàng.
(1) Pháp luyện chỉ lực (练指力法)
Luyện chỉ lực nhằm tăng lực & độ bền của ngón – khâu thiết yếu quyết định hiệu quả điều trị. Tùy bệnh lý, vùng, huyệt, phải linh hoạt chọn mức kích thích.
Nguyên tắc thao tác: vững – chuẩn – quyết, lực & tốc thích hợp. Trước khi trị liệu, cần luyện công – luyện chỉ với các bài đơn giản:
1) Pháp “thọc ngón” (插指法)
Cho ngón tay thọc vào thùng cát mịn / thóc / gạo, lặp đi lặp lại 10–15 phút/lần, kiên trì sẽ tăng lực ngón. Kết hợp nâng tay/tập tạ nhẹ để tăng lực cánh tay. Luyện bền bỉ – tăng dần; thường 1–3 tháng thấy công hiệu: chỉ lực, lực tay, sức bền đều tăng, thao tác thuần thục, hiệu quả trị liệu đạt kỳ vọng.
2) Pháp “túi gạo” (米袋练习法)
Chuẩn bị túi vải dài ~26 cm, rộng ~16 cm, đựng gạo, khâu kín, bọc thêm túi sạch ngoài để thay giặt.
3) Pháp luyện trên cơ thể người (人体练习法)
Sách “巧点穴道” ghi: luyện thao tác trên cơ thể là bước chuyển trước khi ứng dụng lâm sàng, nên mô phỏng quy trình điều trị:
Dưới đây là quy trình tóm tắt cho đầu-mặt:
(1) Quy trình điểm huyệt vùng đầu-mặt
1. Pháp đẩy-điểm:
o Từ Ấn đường (印堂) → Thần đình (神庭) → Bách hội (百会), 2–3 lượt.
o Từ Toan trúc (攢竹) → Dương bạch (阳白) → Thái dương (太阳) → Đầu duy (头维), 2–3 lượt, trái-phải như nhau.
o Quanh ổ mắt: từ Tinh minh (睛明) theo vòng quanh hốc mắt từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, theo hình “∞”, 2–3 lượt, kết hợp miết quanh hốc mắt.
2. Ngón cái ấn-điểm hoặc mô cái (cơ mô cái) ấn-xoa các huyệt đầu-mặt:
Tinh minh (睛明), Toan trúc (攢竹), Ấn đường (印堂), Thái dương (太阳), Tứ bạch (四白), Đầu duy (头维), Nghinh hương (迎香), Thượng quan (上关), Hạ quan (下关), Giáp xa (颊车), Nhân trung (人中), Ế phong (翳风), Bách hội (百会)… mỗi huyệt ~1 phút.
3. Nã “ngũ kinh” vùng đầu-cổ:
o Một tay cố định trán, tay kia 5 ngón tách ra “nắm-kéo” dọc Đốc mạch và hai bên Túc Thái dương – Túc Thiếu dương, từ trước ra sau.
o Trọng điểm: Phong trì (风池), rồi nắm bóp cơ cổ xuống vai. 5–10 lượt.
4. Pháp “quét tán” (扫散):
o Một tay cố định bên đầu; tay kia 5 ngón tản ra, từ trên tai quét sang hai bên thái dương/đầu bên, 3–5 lượt.
5. Miết-ấn đầu-mặt:
o Hai mô cái từ trán miết ra hai Thái dương → sau tai (xương chũm) → Phong trì, 3–5 lượt.
6. Gõ đầu bằng đầu ngón (指端击法):
o Một tay 5 ngón cong tự nhiên, đầu ngón gõ nhẹ – đều khắp đầu 2–3 phút.
Lưu ý chung: Khi thao tác điểm huyệt, luôn giữ tay vững – lực chuẩn – động tác dứt khoát, gia/giảm lực từ tốn, thở đều, theo dõi cảm giác bệnh nhân để điều chỉnh kịp thời.
(2) Quy trình điểm huyệt vùng cổ–gáy
1. Từ dưới xương chẩm, dọc qua huyệt Phong phủ đến Đại chùy, đẩy–điểm 3–5 lượt.
2. Một tay dùng ngón cái đẩy thẳng huyệt “Kiều cung” (cầu cung) 5–10 lần, rồi đổi bên.
3. Pháp xung: từ dưới xương chẩm qua Phong phủ → Đại chùy, làm qua–lại và phối hợp vận động thụ động; sau đó từ Kiên tỉnh bên này sang Kiên tỉnh bên kia, làm 5–10 lượt.
4. Điểm–xoa các huyệt: Phong trì, Đại chùy, Kiên tỉnh, Kiên trung du, Kiên ngoại du, Thiên tông, Phế du, Tâm du, Đại trữ… mỗi huyệt 1 phút.
5. Dùng mu nắm tay gõ–rung dọc lưng, lên–xuống 3–5 lượt.
6. Bẻ–rung (nắn chỉnh) đốt sống ngực và lồng ngực 3–5 lần.
7. Lắc và bẻ vùng cổ vừa độ.
8. Nắm–bóp Phong trì và hai bên Kiên tỉnh, mỗi bên 5–10 lần.
(3) Quy trình điểm huyệt vùng ngực–bụng
1. Dùng đầu ngón cái đẩy–điểm theo Nhâm mạch: từ Đản trung → Trung quản → Khí hải → Quan nguyên…, qua–lại 5–10 lượt.
2. Đẩy–xoa Trung quản, Thiên khu mỗi vị trí 1–3 phút.
3. Điểm–ấn: Trung quản, Khí hải, Quan nguyên, Thiên khu, Đại hoành, Nhũ căn, Kỳ môn, Chương môn… mỗi huyệt 1 phút.
4. Xoay tròn toàn bàn tay xoa bụng: ngược và thuận kim đồng hồ, mỗi chiều 3–5 phút.
5. Chà: từ dưới xương đòn chà ngang dần tới Đản trung, Nhũ căn, Cưu vĩ; hoặc đặt cạnh bàn tay từ Thiên đột dọc đường giữa trước chà xuống 2–3 lượt.
6. Hai tay tách ra đẩy dọc hai bên ngực–hiếp, tới mức ấm nóng là được.
7. Rung (chấn động): đặt ngón tay hoặc lòng bàn tay lên da/điểm huyệt, rung đều theo trục thẳng; có thể đặt một tay hoặc chồng gốc bàn tay rung vùng thượng–trung vị 1–3 phút; hoặc ngón giữa rung Trung quản, Khí hải mỗi huyệt 1 phút.
8. Xát hai mạn sườn: hai bàn tay kẹp xát dọc hai bờ sườn, lên–xuống 5–10 lượt. Xát chéo hạ bụng đến khi ấm nóng là đạt.
(4) Quy trình điểm huyệt vùng vai và chi trên
1. Pháp lăn:
o Lăn bờ trước khớp vai, phối hợp xoay trong/ngoài thụ động 3–5 phút.
o Lăn bờ ngoài khớp vai, phối hợp dạng lên/khép vào 3–5 phút.
o Lăn bờ sau khớp vai, phối hợp duỗi sau/ xoay trong 3–5 phút.
2. Điểm–ấn các huyệt: Kiên tỉnh, Thiên tông, Nậu du, Kiên trinh, Kiên liêu, Kiên cốt du, Cực tuyền, Khúc trì, Nội quan, Ngoại quan, Hợp cốc, Tiểu hải… mỗi huyệt 1 phút.
3. Lắc khớp vai (đỡ khuỷu để lắc; lắc lớn 5–10 lần).
4. Xát khớp vai và dọc chi trên: từ trên xuống, qua–lại 5–10 lượt.
5. Véo–kéo giãn các khớp ngón tay, mỗi khớp 1 lượt.
6. Rung lắc cả chi trên ở mức vừa phải.
(5) Quy trình điểm huyệt vùng thắt lưng và chi dưới
1. Pháp lăn:
o Lăn dọc hai bên cơ dựng sống vùng lưng–thắt lưng tới xương cùng, qua–lại 5–10 lượt.
o Lăn theo chuỗi Hoàn khiêu → Ủy trung → Thừa sơn, mỗi bên qua–lại 5–10 lượt.
o Lăn từ Bễ quan → Phục thố → Túc tam lý → Tuyệt cốt, mỗi bên 2–3 lượt; sau đó mặt trong đùi → mặt trong cẳng chân 2–3 lượt.
2. Điểm–ấn: Giáp tích, Can du, Đảm du, Tỳ du, Vị du, Thận du, Đại trường du, Trĩ biên, Hoàn khiêu, Thừa phù, Ủy trung, Thừa sơn, Túc tam lý, Dương lăng tuyền, Âm lăng tuyền, Thái khê, Côn lôn, Thái xung… mỗi huyệt 1 phút.
3. Chà dọc cột sống và hai cơ dựng sống, tới ấm nóng.
4. Nắn chỉnh (bẻ chéo) vùng thắt lưng hoặc xoay–định vị một lần.
5. Ấn–xoa khớp gối 3–5 phút.
6. Gõ từ đùi xuống cẳng chân, qua–lại 3–5 lượt.
(II) Công pháp
Người thực hành điểm huyệt cần sức khỏe tốt, có thể lực – lực tay – lực ngón đủ, đặc biệt sức bền cánh tay và ngón để thao tác thuần thục, bảo đảm chất lượng điều trị. Vì vậy, luyện công rất quan trọng.
Bệnh nhân nếu thường xuyên luyện Tiên Hạc Dưỡng Sinh Công và Thục Phong Công sẽ trừ bệnh, cường thân, củng cố hiệu quả; người tự trị liệu càng được “một công đôi việc”. Dưới đây tóm lược bốn công pháp theo tư liệu liên quan.
1) Tiên Hạc Dưỡng Sinh Công
Công này dựa trên khí công y học và y lý Đông y, lấy “Hạc hí” trong Ngũ cầm hí của Hoa Đà làm nền, mô phỏng hình thái tiên hạc. Hạc thuộc loài thọ cao, động tác mỹ lệ – ích sức khỏe, nên gọi Tiên Hạc Dưỡng Sinh Công.
Đặc điểm: đắc khí nhanh, cảm khí mạnh, thông kinh lạc, hành khí–huyết, trừ bệnh–kéo dài tuổi thọ. Ứng dụng cho: suy nhược thần kinh, bệnh cột sống cổ, viêm quanh khớp vai, các chứng đau lưng–chân mạn, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, viêm phế quản mạn, viêm dạ dày–ruột mạn, liệt dương…
(1) Giang cánh khởi vũ
Tư thế chuẩn bị: đứng thẳng khép chân, toàn thân thả lỏng, bỏ tạp niệm, tâm an. Thầm niệm khẩu quyết:
“Đêm vắng người yên dứt muộn phiền, Ý thủ Đan điền bế bảy khiếu; Vận khí thong dong bắc cầu Ô, Thân nhẹ như hạc dạo cửu tiêu.”
· Động tác 1: Hai tay từ hai bên thân từ từ nâng ngang vai, lòng tay úp, đồng thời hít vào.
Động tác 2: Hai tay rơi chậm, khuỵu gối từ tốn, thở ra.
→ Lặp lại động tác 1–2 3 lần.
· Động tác 3 (tiếp nối): Hai tay từ bên thân nâng ra trước ngang vai, lòng tay úp; hai chân duỗi thẳng, nhón gót, hít vào.
· Động tác 4: Hai tay hạ từ từ, gối khuỵu chậm, thở ra.
· Lặp lại – Kết thúc phần (1)
· Các động tác 3 và 4 ở trên lặp lại 3 lần, sau đó trở về tư thế nghiêm.
· Công hiệu: Thông suốt khí huyết toàn thân, chuẩn bị cơ thể cho các phần luyện công tiếp theo.
· (2) Tà xí phi tường (Nghiêng cánh bay lượn)
· Tư thế chuẩn bị: như “Giang cánh khởi vũ”.
· Chân trái bước lên nửa bước; đồng thời tay phải từ từ đưa lên chéo phải–trước–trên, tay trái đưa chéo trái–sau–trên; lòng bàn tay đều hướng lên, mắt nhìn tay phải; thân trên thẳng, hít vào.
· Dồn trọng tâm xuống chân trái thành tả cung bộ; lật hai lòng bàn tay úp xuống, đầu xoay trái nhìn bàn chân phải, thở ra.
· Xoay người sang phải, hai tay dạng ngang (thế trắc bình cử), hai chân duỗi thẳng, hít vào.
· Hạ tay dọc hai bên thân, thu chân trái về tư thế nghiêm, thở ra.
· Công hiệu: Sơ can lý khí, cường thận tráng dương.
Yêu cầu động tác: Ở thức 2, khi vào tả tiền cung bộ, thân trên và chân sau tạo đường chéo, tay phía trước mở căng với lồng ngực, hai gốc đùi kẹp chặt (có tác dụng xoa bóp tinh hoàn).
· (3) Cổ dực ngao tường (Vỗ cánh tiêu dao)
· Tư thế chuẩn bị: nghiêm.
· Chân trái bước lên nửa bước; hai tay nâng chéo trước–trên, hít vào; trọng tâm ra trước, gót chân sau nhón.
· Ngồi lùi (dồn ra sau), gối sau gập, hai tay kéo ra sau như ôm bóng.
· Gập khuỷu trước ngực ngang vai; đồng thời chân sau duỗi thẳng, thu chân trước về.
· Hai tay hạ về đan điền (Khí hải), chùng gối chậm, thở ra.
· Công hiệu: Khai hung lý khí, thư tâm giải uất.
Yêu cầu: Khi ngồi lùi – gối sau gập, tay thả lỏng, cổ tay – khuỷu gập như ôm bóng.
· (4) Hạc xí đơn triển (Hạc triển đơn cánh)
· Tư thế chuẩn bị: nghiêm.
· Hai tay từ hai bên gập lên trước ngực; tay trái tiếp tục lên trán, lật ngửa đỡ lên, lòng tay ngửa, mắt nhìn mu tay; tay phải duỗi thẳng xuống, gập cổ tay lòng tay úp. Hai tay kéo căng trên–dưới, ngẩng đầu – ưỡn ngực – nhón gót, hít vào.
· Trở về tư thế gập tay giơ ngang trước ngực, chùng gối chậm, thở ra.
· Duỗi gối chậm, lặp lại động tác ở phần (9) – mục 1 (hít vào); đổi bên cánh trên (trước trái, sau phải).
· Lặp lại động tác ở phần (9) – mục 2.
· Công hiệu: Bình điều mộc–thổ, kiện tỳ hòa vị.
Yêu cầu: Khi trên–dưới đỡ – ấn, phải kéo căng đủ, ngẩng đầu – ưỡn ngực – nhón gót.
·
· (5) Tiển xí cố nguyệt (Giang cánh ngắm trăng)
· Tư thế chuẩn bị: nghiêm.
· Chân trái bước lên nửa bước; hai tay theo thân xòe sau như vươn cánh (mở ngực), lòng tay hướng trước, ngón cái hướng lên; trọng tâm ra trước, gót sau nhón, hít vào.
· Ngồi lùi, gối sau gập, chân trước duỗi, thân gập trước; hai tay đưa ra sau, lòng tay ngửa, đầu xoay trái – mắt nhìn tay trái, thở ra.
· Dựng thân, chân sau duỗi thẳng, hai tay dang ngang (thế trắc bình cử), hít vào.
· Về tư thế nghiêm, thở ra.
· Công hiệu: Khai hung lý khí, kiện phế.
Yêu cầu: Khi xòe cánh – mở ngực phải hít sâu; khi ngồi lùi – gập thân trước phải thở hết.
· (6) Triển dực phấn phi (Giang cánh vút bay)
· Tư thế chuẩn bị: nghiêm.
· Chân trái lùi nửa bước, hai tay dang ngang; rồi thân nghiêng trái, hai tay chếch lên, chân thuận tay, hít vào.
· Về tư thế nghiêm, thở ra.
· Lặp lại động tác 1 nhưng đổi bên.
· Lặp lại động tác 2.
· Công hiệu: Bình điều thận thủy, cường thận kiện yêu (lưng).
Yêu cầu: Khi nghiêng thân, cố gắng tạo dáng phản cung.
· (7) Hải để lao nguyệt (Vớt trăng đáy biển)
· Tư thế chuẩn bị: nghiêm.
· Hai tay nâng chéo lên, ưỡn ngực, nhón gót – hít vào; sau đó hạ tay dọc thân, gập người ra trước, hai chân duỗi thẳng, hai tay quệt vớt trên mu bàn chân, thở ra.
· Dựng thân, chùng gối, rồi duỗi gối chậm, quay lại động tác 1; lặp lại liên tục.
· Công hiệu: Bình điều thận thủy, cường thận kiện yêu.
Yêu cầu: Khi gập thân trước, hai chân phải duỗi thẳng hoàn toàn.
· (8) Hoãn sí bình tường (Sải cánh bằng bằng)
· Tư thế chuẩn bị: nghiêm.
· Chân trái bước nửa bước; trọng tâm đặt lên chân trái; hai tay chéo trước–trên, chân phải duỗi ra sau – nhấc cao, ngẩng đầu – ưỡn ngực, hít vào.
· Chân phải chạm đất, trọng tâm chuyển về chân phải (chân phải gập gối), hai tay hạ về trước hạ phúc (tiểu phúc), thở ra; thu chân trái, chân phải duỗi thẳng.
· Lặp lại động tác 1 đổi bên.
· Lặp lại động tác 2, luân phiên.
· Công hiệu: Bình điều thận thủy, cường thận kiện yêu.
Yêu cầu: Khi nhấc chân sau, cần ưỡn ngực – ưỡn lưng đầy đủ, cố giữ thăng bằng.
· (9) Triển sí lý tam tiêu (Giang cánh điều Tam tiêu)
· Tư thế chuẩn bị: nghiêm.
· Hai tay nâng chéo lên; ngẩng đầu – ưỡn ngực – nhón gót, hít vào.
· Hạ tay, gập khuỷu ngang ngực, rồi đưa tay xuống trước tiểu phúc, chùng gối, thở ra.
→ Lặp lại nhiều lần chuỗi 1–2.
· Công hiệu: Điều hòa Tam tiêu.
Yêu cầu: Khi nâng tay, cố gắng ngẩng đầu – ưỡn ngực – hít sâu; làm 3 lần, sau đó giảm dần biên độ (động tác từ lớn → nhỏ).
· (10) Thu thức (Liễm sí quy nguyên)
· Động tác: Hai lòng bàn tay đặt lên tiểu phúc. Nam: tay trái sát tiểu phúc, tay phải đè lên mu bàn tay trái. Nữ: làm ngược lại.
· Điều tức: Thở điều hòa 3 lần, rồi xoa tay – xoa mặt, kết thúc thu công.
· Lưu ý:
· Các động tác có phân trái/phải: mỗi hướng 3 lần. Nếu không phân hướng, tổng 6 lần.
· Biện chứng hành công: tùy tình trạng thực tế có thể giảm số mục, hoặc lặp 1–2 động tác phù hợp.
· Khối lượng & cường độ: tuân thủ tiến dần, không quá sức; biên độ từ nhỏ → lớn.
·
· 2. Thập tam thức “Thục Phong Công” (Shu Feng Gong)
· (1) Thục địa kỳ phong tú
· Chuẩn bị: Đứng tự nhiên, thân thẳng, mắt nhìn trước; hai chân song song rộng bằng vai; thả lỏng vai, khuỷu, cổ tay, eo, gối; hàm thu – lưng nở; tay buông tự nhiên; lưỡi đặt lên vòm; môi khép nhẹ; thở mũi tự nhiên; tâm an thần tĩnh, khí trầm Đan điền.
· (2) Sơn xuyên khí thế hùng
· Động tác: Ngửa nhìn núi sông hùng vĩ; hai tay luân phiên giơ cao, vận động khớp chi trên.
Tác dụng: Phòng trị bệnh cột sống cổ, viêm khớp chi trên; tăng chức năng vận động tay; hỗ trợ suy nhược thần kinh, nhức đầu thần kinh, đau nửa đầu, chóng mặt, mất ngủ…
· (3) Phong vân đa biến ảo
· Động tác: Bài khởi động; hai tay xoay lên–xuống, trái–phải như vẫy nước bay lượn.
Tác dụng: Phòng trị viêm khớp vai – khuỷu, hội chứng cổ vai, tê bì tay, thấp tý, co cứng cơ…
· (4) Tý–Ngọ luyện thiền công
· Động tĩnh kết hợp.
· Tĩnh công: có toạ, ngọa, lập – tư thế tùy chọn, hô hấp như nhau (thở mũi tự nhiên).
· Ý thủ: giữa hai mắt (“chủ khiếu”) hoặc Khí hải (dưới rốn 1,5 thốn).
· Thời khắc: Tý Sửu Dần Mão… 12 thời. Hai tay nắm hờ, ngón cái phải ấn lên đốt 1 ngón giữa trái (vị “Ngọ”); ngồi kiết già/ bán già 5–10 phút, mắt khép nhẹ, tĩnh tâm. Có thể 30–60 phút.
Tác dụng: Hỗ trợ bệnh mạn tính dai dẳng, khi thuốc kém hiệu quả; tùy thể trạng mà phối công pháp.
· (5) Cường thân đảo lập
· Động tác: Dùng một ghế gỗ: vai tựa mép ghế, hai tay nắm chân ghế; dùng lưng–eo–chân đưa hai chân lên thẳng 3–5 phút, rồi hạ xuống, về tư thế chuẩn bị.
Tác dụng: Tăng sức mạnh vai – lưng – toàn thân, phòng bệnh ngoại cảm, nâng hiệu suất học–làm.
· (6) Khuếch hung bối phản cung
· Động tác: Thân hơi nghiêng trước, nhón gót; ngửa mình về sau thành hình cung, hai tay vươn tối đa ra sau, mở ngực, mắt nhìn trời; rồi từ từ trở về.
Tác dụng: Tăng cơ ngực–lưng, tăng chức năng phổi – dung tích sống; hỗ trợ viêm phế quản, khí phế thũng…
· (7) Pho chân – yêu thận cố
· Động tác: Gập sâu người ra trước chậm, gối giữ thẳng, hai tay buông xuống nắm mũi chân, đầu hơi ngẩng; rồi ngửa người ra sau.
Tác dụng: Luyện lâu cường yêu cố thận, tăng chức năng thận, phòng trị đau lưng, duy trì sinh trưởng.
· (8) Nâng trời – Tam tiêu thông
· Động tác: Đứng hai chân bằng vai, khớp thả lỏng; hai tay từ trước ngực nâng lên, mười ngón đan, lật ngửa, đẩy lên như chống trời; đồng thời nhón gót rời đất; rồi hạ tay, hạ gót.
Lặp 3–4 lần.
Tác dụng: Duỗi trục thân–tứ chi, hoạt hóa tạng phủ, tăng oxy, thông khí huyết thượng–trung–hạ Tam tiêu.
· (9) Bát quái định phương vị
· Động tác: Hai tay thành “âm chưởng”, lòng tay úp, vươn ra như hạc bay, lên–xuống 8 lần.
Tác dụng: Phòng trị viêm quanh khớp vai, khuỷu tennis, đau cổ tay, co cứng – tê liệt chi trên…
· (10) Nam–Bắc cùng Tây–Đông
· Động tác: Hai tay âm chưởng, nhẹ nhàng ấn về Đông–Nam–Tây–Bắc, quán tưởng bốn mùa: xuân ấm, hạ nóng, thu mát, đông lạnh (khí công dưỡng sinh).
Tác dụng: Dự phòng bệnh, bảo kiện cường thân, diên niên ích thọ.
· (11) Âm dương sinh phản phục
· Động tác: Hai tay song song trước ngực, rồi nâng lên đỉnh đầu, tay duỗi thẳng, lòng tay đối nhau; hai tay luân phiên lên–xuống theo nửa vòng; hai chân cũng nhịp nhàng lên–xuống.
Tác dụng: Hoạt hóa kinh lạc, thông huyết mạch, cường cân tráng cốt.
· (12) Khảm Ly phối hồ trung
· Động tác: Hai tay vòng ôm trái–phải, nạp ngoại khí nhập phủ (thu khí vào bụng).
Tác dụng: Khí trầm Đan điền, khí mạch–kinh lạc vận hành thông suốt trong thể.
· (13) Ngọc tuyền thời thôn yết
· Giải thích: Ngọc tuyền = tân dịch (nước bọt – dịch thể sinh lý). Nguồn từ ẩm thực qua vị–trường–bàng quang–Tam tiêu phối hợp hóa sinh; do tuyến dưới lưỡi, tuyến hàm dưới, tuyến mang tai bài tiết; là tinh hoa ngũ tạng theo tỳ khí thăng phát. Cổ nhân gọi cam lộ, kim tân ngọc dịch.
Động tác: Thỉnh thoảng nuốt tân dịch, cho nhu dưỡng toàn thân.
Tác dụng: Giữ nhuận, trơn khớp, bồi dưỡng cơ thể.
· Khuyến nghị thực hành chung
· Nhịp thở: ưu tiên mũi hít – mũi thở, đều – sâu – êm; khí trầm Đan điền.
· Tiến độ: tăng dần thời lượng & biên độ; không đau – không gắng sức.
· Cá thể hóa: chọn những thức phù hợp thể trạng/bệnh lý; có thể giảm mục hoặc lặp 1–2 thức mấu chốt.
· Kết thúc buổi tập: luôn thu thức như mục (10), rồi xoa tay – xoa mặt để thu khí–hoàn thần.
(14) Kỳ diệu nhạc dung dung. Động tác: đứng như luyện trạm trang (đứng tấn tĩnh), kiểu “lưng nghỉ”, mắt nhìn ngang về trước, lưỡi đặt lên vòm, môi khép nhẹ, khi tân dịch (nước bọt) sinh ra thì từ từ nuốt xuống bụng; kế đó hai tay làm “vân thủ”, qua lại trái–phải vận động. Tác dụng: sau luyện khí công, tân dịch sinh là hiện tượng sinh lý bình thường khi chân khí vận hành. “Bạch ngọc răng bên có ngọc tuyền, rỉ rả nuôi ta dài niên kỷ”; “Tự uống rượu trường sinh, tiêu dao tự tại biết; giữ tuổi xuân mãi, kéo dài thọ mệnh.”
(15) Thủy thăng hỏa giáng. Khảm thuộc Thủy (Bắc phương Nhâm Quý thủy), dưới rốn 1,5 thốn là Khí hải, hệ với Thận: nơi “tinh thất” của nam, “bào cung” của nữ; “khí trầm Đan điền” chính là vùng này. Theo Bát quái, “Khảm cung” ở Bắc, y học gọi “Mệnh cung”, rất trọng yếu. Động tác: hai lòng tay ngửa, “bưng khí” lên “Chủ khiếu” (giữa hai mắt) tức “thủy thăng”. “Chủ khiếu” thuộc Tâm; theo Bát quái “Ly cung” ở Nam (Bính Đinh hỏa), Tâm chủ thần minh (hoạt động thần kinh cao cấp). Cổ ngữ: “Ngàn lượng hoàng kim chẳng bán đạo, giữa ngã tư tặng cố giao” ám chỉ “Chủ khiếu” giữa hai mắt. Bưng khí lên “Chủ khiếu” là thủy thăng, thì hỏa tự nhiên giáng. Tác dụng: thủy thăng hỏa giáng, giao thông tâm–thận.
(16) Tâm thận tương giao. Trung Đan điền (Khí hải) thuộc Thận; Thượng Đan điền (Chủ khiếu) thuộc Tâm. Động tác: hai tay ngửa bưng khí, từ Khí hải “Bắc phương Nhâm Quý thủy” đưa lên “Chủ khiếu” là thủy thăng; sau đó hai tay úp, từ “Chủ khiếu” ép “Nam phương Bính Đinh hỏa” xuống Khí hải là hỏa giáng. Tác dụng: thủy thăng hỏa giáng, Tâm–Thận tương giao, đạt hiệu quả trừ bệnh cường thân, ích thọ diên niên.
(17) Nam phương phục mãnh hổ. Động tác: hai tay thế tả–hữu đả hổ, khí thế uy mãnh, kiên trì rèn luyện. Tác dụng: thư cân hoạt lạc, kiện thân kiện thể.
(18) Bắc hải hàng giao long. Khảm quái thuộc Thủy (Bắc phương Nhâm Quý), ứng mùa đông hàn giá: “Băng đóng ba thước, chẳng bởi một ngày lạnh”. Miền Bắc mùa đông băng tuyết, muốn “hàng” giao long Bắc hải phải có tinh thần phấn đấu vô úy, “đông luyện tam cửu, hạ luyện tam phục”, kiên trì khổ luyện, ắt vượt khó và rèn được thân thể khỏe mạnh.
(19) Quân năng cần đoan luyện. Pháp luyện đơn giản: từ cung bộ chuyển mã bộ, hai tay nắm quyền đặt hai bên eo, lòng bàn tay ngửa; ra quyền trái thì hít vào, thu về nguyên vị thì thở ra; ra quyền phải hô hấp như trên; có thể lặp luyện mọi lúc mọi nơi.
(20) Cường thân diệu vô cùng. Động tác: hai tay chống hông, hổ khẩu hướng vào trong. Niệm 1: chân phải đá chéo lên trái–trước, mũi chân duỗi, hít vào; niệm 2: chân phải về chỗ cũ, thở ra; niệm 3: chân trái đá chéo lên phải–trước, mũi chân duỗi, hít vào; niệm 4: chân trái về chỗ cũ, thở ra. Mỗi bên làm 4 lần.
(21) Phản lão hoàn đồng. Động tác: (1) nhấc chân trái, tay phải trước vai phải làm động tác đập bóng, hít vào; (2) nhấc chân phải, tay trái trước vai trái đập bóng, thở ra. Nhấc chân, đập bóng và hô hấp đồng bộ, bước chân nhẹ nhàng, khoan khoái. → Qua các rèn luyện và tu dưỡng tinh thần trên, có thể cường kiện thân thể, tinh lực sung mãn, nâng cao năng lực phòng bệnh.
3. Tam Viên Thức Trạm Công. Tư thế cơ bản: đầu ngay thẳng, mắt bán khép nhìn mũi; lưng–eo thẳng; hai chân chùng gối (độ chùng tùy công phu); hai chân mở bằng vai, mũi chân khép vào tạo hình tròn; hai tay nâng ngang vai, khuỷu thấp hơn vai, khuỷu hơi gập tạo vòng ôm cầu; ngón tay xòe tự nhiên, cổ tay gập vào trong, như ôm cầu thành một vòng tròn. Tập trung ý, trừ杂念, ý thủ Đan điền (dưới rốn), phối hợp hô hấp (có thể dùng bụng thuận chiều hoặc nghịch chiều).
4. Đại Lực Công. (1) Long tý thân công: tư thế hít đất, hai tay rộng bằng vai (khi khỏe có thể tăng khoảng cách), gập–duỗi khuỷu lặp lại để tăng sức duỗi chi trên. (2) Long tý khuất công: đứng chụm chân, hai tay trước thân cầm tạ/bao cát, lặp lại gập–duỗi khuỷu, tăng sức gập chi trên. (3) Long trảo công: tư thế ngồi chồm; năm ngón tay xòe, hai tay chống thảm trước thân rộng ngang vai, lần lượt bò tay ra trước vào tư thế hít đất, rồi bò tay trở lại về tư thế ngồi chồm, lặp lại theo mức mỏi của ngón–tay–cánh tay để tăng lực ngón. Lưu ý: mỗi lần luyện xong phải thả lỏng – thu công.
VII. Phương pháp thao tác. Dùng liệu pháp điểm huyệt để phòng – trị bệnh và dưỡng nhan cường thân, phương pháp thao tác cực kỳ quan trọng; thao tác đúng là chìa khóa bảo đảm chất lượng và nâng hiệu quả điều trị; nếu không, ắt ảnh hưởng kết quả. Dưới đây sẽ lần lượt trình bày phương pháp thao tác và các lưu ý liên quan.
(I) Lập phác đồ điều trị, chọn đúng vùng cần kích thích
Phác đồ điều trị là xác định vùng kích thích (bao gồm phối huyệt, lập bài huyệt). Khi lập phác đồ, thường tuân theo 3 nguyên tắc:
1. Kết hợp “theo kinh chọn huyệt” với “chọn huyệt tại chỗ”;
2. Kết hợp “chọn huyệt theo kinh nghiệm” với “chọn huyệt quy phạm (lý luận)”;
3. Kết hợp “vùng bệnh (hoặc A thị huyệt)” với “chọn huyệt lân cận”.
Lực chọn khi dùng lâm sàng phải căn cứ kinh nghiệm, vị trí thể bề mặt và phạm vi chủ trị của huyệt để lập phác đồ (bài huyệt). Cụ thể tùy bệnh loại, mức độ và tình hình thực tế (xem chi tiết ở phần sau).
1. Huyệt vùng đầu–mặt: trị đau đầu do thần kinh, đau nửa đầu, đau dây V, suy nhược thần kinh, tăng huyết áp, liệt mặt, chắp lẹo, viêm kết mạc cấp, giảm thị lực giai đoạn sớm, viêm mũi dị ứng, đau răng… cũng dùng cấp cứu.
2. Huyệt vùng cổ–vai: trị vẹo cổ, bệnh cột sống cổ, viêm quanh khớp vai, viêm/ chấn thương khuỷu–cổ tay, viêm dây thần kinh ngoại biên, viêm đám rối cánh tay, u nang bao gân…
3. Huyệt vùng lưng–thắt lưng: trị tổn thương cơ học thắt lưng, thoát vị đĩa đệm, viêm cột sống phì đại, thấp khớp vùng lưng, “thắt lưng cùng hóa”, lao cơ thắt lưng, trượt đốt sống, tổn thương do “sái–bứt”…
4. Huyệt vùng ngực–sườn: trị đau dây thần kinh liên sườn, viêm khớp sụn sườn, bệnh mạch vành, tức ngực–hồi hộp, viêm gan mạn (không lây), viêm phế quản, hen phế quản…
5. Huyệt vùng bụng: trị viêm dạ dày mạn, sa dạ dày, loét dạ dày–tá tràng, dính ruột, tắc ruột do giun, viêm đại tràng mạn, táo bón, khó tiêu, rối loạn kinh nguyệt, liệt dương, di tinh, bí tiểu và một số chứng trướng–đau bụng chưa rõ nguyên nhân.
6. Huyệt vùng chi dưới: trị đau thần kinh tọa, viêm khớp, co cứng cơ bụng chân (cơ dép/cơ sinh đôi), viêm dây thần kinh ngoại biên, tổn thương cơ hình lê, tổn thương sụn chêm, viêm bao hoạt dịch, loạn dưỡng cơ tiến triển, bong gân khớp…
(II) Chuẩn bị trước thủ thuật
Theo phác đồ đã định, trước điều trị phải chuẩn bị đầy đủ:
1. Sự phối hợp của người bệnh: trước thủ thuật cần giải thích cần thiết (phản ứng sau điểm huyệt, liệu trình, tiên lượng…), nhất là lần đầu, để tránh sợ hãi, bỏ dở, làm giảm hiệu quả.
2. Sửa móng tay: thầy thuốc cắt sửa móng dài vừa phải, dũa nhẵn. Móng quá dài dễ xước da khi điểm/ cấu/ ấn; quá ngắn lại giảm hiệu quả.
3. Vô khuẩn: mỗi lần làm phải rửa tay sạch; vùng kích thích nếu tiếp xúc trực tiếp da thì sát khuẩn chuẩn (thường dùng cồn 75%); nếu làm qua lớp áo thì có thể không cần sát khuẩn.
4. Tư thế thích hợp: hướng dẫn người bệnh vào tư thế thuận lợi cho thao tác.
5. Thái độ đúng: ngoài hỏi bệnh, khám kỹ, chẩn đoán đúng, lập phác đồ và điều trị kiên trì, thái độ thầy thuốc rất quan trọng: tập trung, chú ý; giải thích kiên nhẫn, hòa nhã; tuyệt đối tránh lời nói gây khó chịu; chăm luyện cơ bản, liên tục nâng cao tay nghề.
(III) Thủ pháp điểm huyệt
Thủ pháp điểm huyệt là thao tác kỹ thuật. Mức độ nắm vững và thuần thục liên quan mật thiết hiệu quả lâm sàng. Cần chọn thủ pháp phù hợp tùy chứng mà dùng, vận dụng linh hoạt. Yêu cầu cơ bản: bền bỉ – có lực – đều – nhu, đạt mục tiêu thấm sâu.
Thủ pháp rất nhiều, đôi khi dùng đơn pháp hoặc phối hợp. Phổ biến có các loại sau:
1) Điểm pháp (điểm huyệt pháp)
Dùng đầu ngón cái, ngón trỏ hoặc ngón giữa, hoặc dùng phần lồi của khớp gần ngón trỏ/ngón giữa ấn vào vị trí (huyệt), ấn sâu – day – nhả, gọi là điểm pháp (xem Hình 19).

[Phương pháp thao tác] Ba kiểu chính:

(Hình 19: Tư thế tay khi điểm huyệt – A: đầu ngón cái; B: đầu ngón giữa; C: ngón gập)
Hướng ấn phải vuông góc với vùng điều trị; dùng lực ở cẳng tay và cổ tay để điểm ấn, lực từ nhẹ đến mạnh, đều và liên tục, tăng dần từng bước. Khi dùng điểm bằng đầu ngón cái, mặt vân xoáy của ngón cái phải áp sát bờ ngoài ngón trỏ để tránh vặn quá mức gây trật/đau khớp gian đốt ngón cái.
Pháp này tập trung lực, so với án pháp thì đỡ tốn sức hơn, thích hợp cho mọi vùng cơ thể hay huyệt. Khi dùng phải căn cứ tình trạng cụ thể của người bệnh và vị trí/huyệt cụ thể.
Điểm pháp thường phối hợp với các thủ pháp khác, hay dùng có: điểm–ấn, điểm–nhu, móc–điểm, cấu–điểm, gảy–điểm, đẩy–điểm, gõ–điểm, kích–điểm, nắm–điểm, lăn–điểm, điểm–chấn, điểm có lực cản… Cụ thể:
Điểm–ấn pháp: kết hợp điểm và ấn; ví dụ vùng bụng điểm–ấn Trung quản, Khí hải, Quan nguyên thường dùng pháp này.
Điểm–nhu pháp: kết hợp điểm và xoa tròn; khi kết thúc điểm nên nối tiếp bằng nhu pháp, không buông tay đột ngột để tránh cảm giác ứ trệ khó chịu tại chỗ.
Móc–điểm pháp: khi điểm các huyệt nằm trong hõm khớp (như Cực tuyền, Ủy trung), gập ngón trỏ/giữa, đầu ngón tỳ trên huyệt, tăng lực hướng vào trong, giữ một lúc. Kích thích mạnh, hợp người trẻ–trung niên và bệnh mạn.
Cấu–điểm pháp: thường dùng móng ngón cái bấu thẳng, không day; hay dùng trong cấp tính/đau cấp. Huyệt thường dùng: Nhân trung, Thập tuyên, Thập nhị tỉnh (Thương dương, Thiếu thương, Trung xung, Thiếu trạch, Thiếu xung, Chí âm, Lệ đoài…), Hợp cốc, Khúc trì, Hội âm…
Gảy–điểm pháp: dùng đầu ngón cái hoặc chỏ điểm huyệt rồi bật gảy lên–xuống, trái–phải để phá dính; dùng cho dính cơ–gân–dây chằng, hoặc dưới huyệt có cục dây sợi, tăng kích thích. Ví dụ: co thắt dạ dày gảy–điểm Vị du, Tỳ du; cơn đau quặn mật gảy–điểm Đởm nang huyệt, Đởm du; cơn đau thắt ngực gảy–điểm Tâm du, Quyết âm du; cơn đau quặn thận gảy–điểm Thận du, Ủy trung; đau thần kinh tọa gảy–điểm Hoàn khiêu, Thừa sơn…
Đẩy–điểm pháp: phối hợp đẩy và điểm; thường đi dọc đường kinh, đến các huyệt thì điểm–nhu tăng kích thích. Dùng đầu ngón hay chỏ để đẩy–điểm. Ví dụ: lấy chỏ từ trên xuống dọc bàng quang kinh tuyến 1 qua các Bối du để điều chỉnh tạng phủ; từ Hoàn khiêu dọc sau chân đẩy–điểm Thừa phù, Ẩn nội, Ủy trung, Thừa cân, Thừa sơn để thông lạc giảm đau; dùng đầu ngón cái từ Đản trung xuống Quan nguyên để kiện tỳ hòa vị; từ Ấn đường lên qua Thần đình, Thóp đến Bách hội để an thần, trấn kinh…
Gõ–điểm pháp: dùng đầu ngón trỏ/giữa còng tự nhiên gõ thẳng vuông góc vào huyệt để khởi phát kinh khí, tăng cảm ứng; hợp người cảm giác chậm. Ví dụ: gõ Ấn đường an thần trấn kinh; gõ Bách hội thăng dương, cố thác; gõ các Bối du chấn vượng khí tạng phủ…
Kích–điểm pháp: thường dùng gốc bàn tay đánh–điểm các huyệt vùng cơ dày; tăng hưng phấn cơ, thông khí mạch; trị liệt mềm chi như liệt chân gõ–điểm Hoàn khiêu; đau–tê tay gõ–điểm Khúc trì…
Nắm–điểm pháp: khi bóp–vê đường kinh/ huyệt ở chi, tạm dừng giữ tại huyệt để tăng kích thích – gọi nắm–điểm. Dùng ở tứ chi để thông lạc, thúc đẩy khí huyết. Ví dụ: nắm–điểm Thủ dương minh Đại trường kinh trị viêm quanh khớp vai; nắm–điểm Túc dương minh Vị kinh trị teo liệt chi dưới & bệnh tiêu hóa; nắm–điểm Túc thái âm Tỳ kinh trị đau vùng hạ vị…
Lăn–điểm pháp: biến thể của lăn pháp; lấy mặt lưng khớp bàn–ngón 5 làm điểm tỳ để lăn–điểm vào huyệt, tạo kích thích liên tục, vững, vừa; hợp huyệt vùng cơ dày: các Bối du ở lưng; vai: Kiên tỉnh, Kiên trung du, Kiên ngoại du; mông: Hoàn khiêu, Trật biên; chân: Thừa phù, Ẩn nội, Thừa cân, Thừa sơn…
Điểm–chấn pháp: đầu ngón điểm đắc khí rồi phối hợp rung–chấn để tăng kích thích. Ví dụ: tỳ vị hư yếu điểm–chấn Trung quản, Khí hải, Quan nguyên; thống kinh điểm–chấn Trung cực, Quan nguyên, Tử cung; lao cơ thắt lưng điểm–chấn Thận du, Đại trường du…
Điểm có lực cản: phối hợp điểm pháp với vận động khớp, dùng cho bệnh lý khớp. Ví dụ: đau khớp vai – điểm Kiên nội lăng đồng thời lắc vai; “kẹt cổ” – điểm Thiên tông đồng thời xoay cổ; “khuỷu tennis” – điểm Khúc trì đồng thời xoay khuỷu; viêm khớp gối – điểm Hạc đỉnh đồng thời xoay gối.
1) Áp dụng – Hiệu quả (cho Điểm pháp)
[Vị trí áp dụng] Có thể dùng cho mọi vùng cơ thể và mọi huyệt.
[Công dụng] Khai thông bế tắc, hoạt huyết khư ứ, giảm đau; điều hòa chức năng tạng phủ.
2) Ấn pháp
Ấn pháp là một trong những thủ pháp được dùng sớm và chủ yếu trong liệu pháp điểm huyệt: dùng đầu ngón cái hoặc mặt vân (bụng ngón) tỳ lực xuống huyệt (xem Hình 20).

Cách thao tác
Giữ ngón cái thẳng; bốn ngón còn lại đỡ ở bên vùng đang ấn, hoặc nắm lại và để đốt gần của ngón cái áp sát bờ quay của ngón trỏ. Đặt lực đúng huyệt, từ từ tăng lực ấn xuống: lực từ nhẹ đến mạnh, sao cho kích thích tới tầng sâu cơ; người bệnh cảm thấy tê/nhức/nặng/căng/lan chạy. Giữ vài giây rồi từ từ nới lỏng, lặp đi lặp lại. Khi thao tác không miết trượt, lực cần liên tục và vững; muốn tăng kích thích có thể chồng hai ngón cái. Với người cao tuổi, suy nhược, hoặc trẻ nhỏ: giảm lực, tránh kích thích quá mạnh.
Trong thực hành, ấn pháp thường phối hợp nhu pháp thành ấn–nhu, hoặc phối hợp điểm pháp thành điểm–ấn.
Bảng tóm tắt – Ấn pháp
| Mục | Nội dung |
| Vị trí áp dụng | Phù hợp với mọi huyệt ở mọi vùng cơ thể |
| Công dụng | Thư cân, thông lạc, chỉ thống; điều chỉnh chức năng tạng phủ |
3) Áp pháp (Ép/đè)
Dùng ngón – bàn tay – khuỷu đặt lực đè giữ trên vùng trị liệu/huyệt . Thường chia chỉ áp, chưởng áp, trửu áp. Áp pháp gần với ấn pháp, nhưng ấn thiên về động, áp thiên về tĩnh, và lực của áp thường nặng hơn → “đồng mà khác”.(xem Hình 21)

3.1 Chỉ-diện áp pháp (ép bằng mặt bụng ngón tay)
Dùng mặt bụng ngón đặt–ép lên huyệt. Hầu như mọi huyệt đều có thể dùng; thông dụng nhất là ngón cái, trỏ, giữa. Tùy bệnh cảnh:
Phối hợp hô hấp
Để tự trị liệu hiệu quả hơn, phối hợp thở: khi thở ra (≈6 giây) cơ mềm ra, máu chảy chậm → ấn/ép; hết thở ra thì tạm ngưng ép, chuyển hít vào; lặp lại nhiều chu kỳ.
Khi thao tác có thể giữ cố định từ nhẹ đến nặng, có khi đè yên không động, có khi miết–day lên–xuống – trái–phải (nhu–áp pháp). Trị liệu đủ thời gian sẽ tạo tác dụng ức chế thích hợp và cho hiệu quả tốt. Hai tay có thể làm đồng thời: thí dụ bệnh mắt & đau chẩm dùng hai ngón (trỏ/cái) ép song phương Phong trì.
So sánh với “bấu đầu ngón (chỉ tiêm/cấu)”
Bảng tóm tắt – Áp pháp
| Loại | Mô tả thao tác | Ứng dụng – Gợi ý |
| Chỉ áp (mặt bụng ngón) | Đặt–ép bằng bụng ngón (cái/trỏ/giữa), có thể một ngón–một huyệt hoặc nhiều ngón–nhiều huyệt, có thể đẩy–áp/nhu–áp; phối hợp thở ra thì ép | Đau răng/ mũi–tai/ đau trán/ dạ dày–ruột; đau gáy–cổ–vai; tự trị liệu thuận tiện |
| Chưởng áp | Ép giữ bằng gan bàn tay | Vùng cơ lớn, cần lực êm–rộng–sâu |
| Trửu áp | Ép giữ bằng khuỷu tay | Mô sâu, cơ dày; lưng Bối du, mông–chi dưới; khi cần lực mạnh–tĩnh |
Vị trí áp dụng (chung cho Áp pháp): Hầu như toàn thân – đa số huyệt.
Công dụng: Điều hòa hưng phấn/ức chế, thư cân hoạt lạc, giảm đau; hỗ trợ điều chỉnh chức năng tạng phủ.
Ghi chú cách dùng chung (để tự hành và tăng hiệu quả):
• Lực từ nhẹ đến nặng, không đột ngột; không miết trượt khi ấn đơn thuần.
• Người già/yếu/trẻ nhỏ: giảm cường độ – thời lượng.
• Phối hợp hô hấp: “thở ra thì ấn/ép – hết thở ra thì tạm ngưng – hít vào – lặp lại”.
• Có thể phối hợp: Ấn ↔ Nhu; Điểm ↔ Ấn; Nhu–Áp; Đẩy–Áp, tùy vùng và mục tiêu điều trị.
Pháp chỉ áp còn có thể thực hiện bật gảy (đàn bạt) trên một số huyệt nhất định trong những phạm vi khác nhau. Bên dưới huyệt thường có lớp xương làm đệm; dùng mặt bụng của ngón trỏ, ngón giữa hoặc ngón cái ấn hơi mạnh xuống huyệt, rồi rời khỏi huyệt và lướt trên da — đó gọi là bật gảy. Tức là dùng mặt ngón tay gia tăng nhẹ áp lực trên mặt huyệt, sau đó lần lượt lướt qua một dãy 1–2 huyệt trở lên theo thứ tự. Với phạm vi nhỏ, khi bật gảy, ngón tay phải linh hoạt, thời gian ấn mỗi huyệt không nên dài. Hướng bật gảy cần tuân quy tắc. Các huyệt với hướng bật gảy tương ứng liệt kê ở Bảng 3 và Bảng 4 dưới đây.
Bảng 3 — Bật gảy thông thường
(Từ một huyệt bắt đầu, không nhất thiết lướt qua bao nhiêu huyệt)
| Lấy huyệt (tuyến/huyệt) | Hướng bật gảy |
| Kiên Ngoại Du, Khúc Viên, Bỉnh Phong | Ngang về khớp vai |
| Thiên Tông, Kiên Trinh | Ngang ra phía ngoài |
| Đại Trữ, Phong Môn, Phế Du, Can Du, Đảm Du, Tỳ Du, Vị Du | Thẳng xuống dưới |
| Phụ Phân, Phách Hộ, Cao Hoang | Dọc bờ trong xương bả vai, chếch ra ngoài xuống dưới |
| Tân Xã, Kiên Tỉnh | Hướng vùng cổ trước |
| Du Phủ, Khí Hộ, Vân Môn | Hướng xuống dưới |
| Tân Nghĩa, Tứ Đốc, Tam Dương Lạc | Hướng xương quay hoặc xương trụ |
| Túc Tam Lý, Thượng Cự Hư | Hướng xương chày |
| Hợp Dương, Thừa Cân, Thừa Sơn, Phi Dương | Ấn phía trong → hướng xương chày; ấn phía ngoài → hướng xương mác |
Bảng 4 — Bật gảy phạm vi nhỏ
(Từ một điểm bắt đầu, phải lướt qua nhiều huyệt)
| Tuyến cần lướt qua | Hướng bật gảy | Ghi chú |
| Toản Trúc → Dương Bạch → Thái Dương | Từ đầu mày ra đuôi mày | — |
| Tinh Minh → Thừa Khấp → Đồng Tử Liêu | Từ khóe mắt trong ra khóe mắt ngoài | Làm hơi chậm |
| (Sống mũi) → Nghênh Hương → Cự Liêu | Từ sống mũi chếch xuống–ngoài đến khóe môi trên | — |
| Tân Hội → Giáp Xa → Đại Nghênh | Từ dưới tai qua giữa hàm dưới | — |
| Dịch Môn → Trung Chử | Thẳng dọc mu tay lên trên | — |
| Hậu Khê → Tam Gian | Ngang từ trụ sang quay | — |
Lưu ý thao tác (đầu & mu chân):
Huyệt vùng đầu khá nhiều: có 7 đường định vị, mỗi đường chia hai đoạn — từ trán lên đỉnh, rồi từ đỉnh ra chẩm; hoặc trên mỗi đường, cách nhau khoảng 3 cm, dùng mặt ngón bật gảy lùi vài cái; hoặc dùng hai tay (ngón cái và giữa) trên hai đường khác nhau, hai ngón lên–xuống đồng thời theo hướng vào trong.
Trên mu chân chia 4 lối: (1) kẽ ngón 1–2: ấn nhẹ rồi lướt thẳng lên; (2) dưới mắt cá ngoài → mắt cá trong: ngang; (3) dưới mắt cá ngoài → mu chân: ngang; (4) dưới mắt cá ngoài → ngón út: dọc thẳng.
Trình tự vùng điều trị:
Thao tác bật gảy theo từng vùng hoặc theo thứ tự từ đầu–mặt xuống cổ–vai, ngực, rồi tứ chi. Cảm giác và hiệu quả hai bên (trừ vùng đầu–mặt) thường làm một bên trước, sau đó bên còn lại là phù hợp. Cách này có thể hướng dẫn bệnh nhân tự làm, mỗi ngày 1–3 lần. Vùng đầu–mặt: bên trái dùng tay trái, bên phải dùng tay phải; các vùng khác: huyệt bên trái dùng tay phải ấn, huyệt bên phải dùng tay trái ấn.
(2) Trửu áp pháp (ấn bằng khuỷu): dùng chóp khuỷu ấn ép vùng điều trị; nếu dùng mặt cơ phía trụ của cẳng tay làm điểm tỳ lực thì gọi là Tý áp pháp. Khi dùng trửu áp, gấp khuỷu khoảng 120°. Thao tác yêu cầu lực vững, nhẹ → nặng, vai–tay ấn xuống, trong ngưỡng chịu đựng của bệnh nhân; tránh thô bạo, sau ấn nối tiếp nhu pháp.
[Vùng áp dụng]
— Chỉ áp: hay dùng vùng đầu–mặt.
— Chưởng áp: thường dùng vùng thượng vị, ngực; cũng dùng lưng (điều chỉnh sai lệch nhẹ khớp cột sống).
— Tý áp: hợp với vùng thắt lưng–mông (cơ dày), trị cứng cơ, đau, trệ, hạn chế vận động.
— Trửu áp: dùng vùng lưng, mặt sau đùi, trị đau lưng/chân ngoan cố, cơ cứng, cứng trục cột sống. Khi thao tác, bệnh nhân nằm sấp, đệm mềm trước ngực, lực ấn ổn định, chậm, không tạo lực đột ngột.
[Công hiệu] Trừ tà giải biểu, ôn trung tán hàn; thư cân thông lạc, lý khí hoạt huyết, tiêu thũng chỉ thống.
Phép bật gảy bằng một ngón nêu trên còn giúp phòng và giải mỏi/đau cơ. Đặc biệt phối hợp châm cứu cho người cao tuổi và thể trạng yếu: thúc đẩy vận động cơ, cải thiện tuần hoàn cục bộ, tăng chuyển hóa, hữu ích cho chăm sóc thường nhật.
4. Nhu pháp (揉法): là dùng ngón tay, gốc bàn tay, mô mô cái… xoay tròn trên vùng/huyệt cần trị gọi là nhu pháp. Hình 22

[Phương pháp thao tác]
Dựa dao động tự nhiên của cẳng tay và cổ tay để dẫn xoay tròn của bàn tay; thủ pháp mềm, êm, tần số ≥ 120 lần/phút.
Khi nhu kết hợp áp gọi là nhu–áp pháp: tức vừa chỉ áp vừa xoay tròn. Cách làm: dùng bụng ngón giữa hoặc ngón cái ép (chỉ áp) lên vùng/huyệt đã chọn, đồng thời xoay thuận hoặc ngược chiều kim đồng hồ, vừa ép vừa xoay, lặp lại nhiều lần. Yêu cầu lực nhẹ nhàng, đồng đều, ngón tay không rời da/huyệt, để tổ chức dưới da trượt theo động tác; không cọ xát bề mặt da. Tần số nên khoảng 200–280 lần/phút.
[Phạm vi áp dụng]
Nội dung gốc: [适用部位] 此法可适用于身体的任何部位或穴位。
Dịch: Phương pháp này có thể áp dụng trên mọi vùng cơ thể và mọi huyệt vị.
[Công hiệu]
Nội dung gốc: [功效] 行气活络,消肿止痛,驱风散寒,消食散积。
Dịch: Hành khí hoạt lạc, tiêu thũng chỉ thống, khu phong tán hàn, tiêu thực tán tích.
5) Nhất Chỉ Thiền pháp (一指禅法)
Cách thao tác
Dùng mặt quay–quay (phía quay) của bụng ngón cái hoặc đầu ngón cái thực hiện gấp–duỗi nhanh khớp ngón cái (xem Hình 23).

Vai, khuỷu, cổ tay, các khớp ngón thả lỏng tự nhiên; ngón cái “hút dính” sát da, không cọ xát hay nhảy cóc; lực đều, thấu sâu, giữ áp lực ổn định.
Tần số: khoảng 100–160 lần/phút.
Áp lực, tần số, biên độ phải đều, động tác linh hoạt. Người mới tập từ chậm đến nhanh cho đến khi đạt yêu cầu.
Chú trọng nội lực; khi施术 cần hài hòa ngoại lực & nội lực.
Bảng tóm lược – Nhất Chỉ Thiền pháp
Mục Nội dung
Vị trí tiếp xúc Mặt quay của bụng ngón cái hoặc đầu ngón cái
Dạng chuyển động Gấp–duỗi nhanh khớp ngón cái, áp chặt trên da
Yêu cầu Khớp thả lỏng; bám da; lực đều – thâm nhập – áp ổn
Tần số 100–160 lần/phút
Trọng điểm Phối hợp nội lực với ngoại lực, đều – sâu – linh hoạt
Phạm vi áp dụng
Diện tích tiếp xúc nhỏ nhưng độ thẩm thấu lớn, dùng được mọi vùng/huyệt.
Thường dùng: đầu–mặt, ngực–bụng, tứ chi.
Công hiệu
Thư cân hoạt lạc, điều hòa vinh–vệ, khứ ứ tán tích, kiện tỳ hòa vị.
6) Thôi pháp (推法)
Khái niệm
Dùng mặt vân ngón (螺纹面), mô mô cái (鱼际) hoặc gốc bàn tay làm điểm tỳ lực, đẩy thẳng một chiều trên vùng định trị → gọi là Thôi pháp (xem Hình 24).

Biến thể thao tác thường dùng
Biến thể Mô tả ngắn
Ngón cái đẩy thẳng Dùng bụng ngón cái đẩy một chiều trên tuyến trị liệu
Ngón trỏ–giữa đẩy thẳng Dùng bụng ngón trỏ & giữa cùng đẩy
Mô cái (thenar) đẩy Dùng mô mô cái tạo lực đẩy rộng – sâu
Gốc bàn tay đẩy Dùng gốc bàn tay đẩy, bao phủ diện lớn
Cách thao tác chung
Ngón tay/mô cái/gốc bàn tay áp sát da, lực đều & thẩm thấu; làm ấm vùng trị là đạt.
Lặp lại nhiều lần theo một hướng thẳng.
Thôi–áp pháp (推压法)
Thường phối hợp áp pháp thành thôi–áp pháp (xem Hình 25).

Dùng mặt quay của ngón cái hoặc mặt bụng ngón trỏ/giữa trên vùng/huyệt đã chọn, vừa ấn (chỉ áp) vừa đẩy thẳng hoặc đẩy theo đoạn.
Tốc độ chậm, lực vững và đều.
Phạm vi áp dụng
Dùng cho đầu–mặt, ngực–bụng, lưng–thắt lưng, tứ chi và các huyệt tương ứng.
Công hiệu
Nâng cao hưng phấn cơ thể, tăng tuần hoàn máu; thư cân hoạt lạc, hành khí hoạt huyết, tán ứ tiêu thũng.
7) Kháp pháp (掐法 – bấm/nhéo bằng móng)
Chỉ móng ngón cái (hoặc ngón khác) ấn–bấm vào huyệt. Theo số ngón & cách làm, chia 3 loại:
(a) Đơn chỉ đầu ngón kháp; (b) Hai ngón kẹp kháp; (c) Hai–ba ngón kháp (phần sau).
hình 26

(1) Đầu ngón kháp pháp (指尖掐法)
Dùng đầu một ngón (thường ngón cái hoặc ngón trỏ) bấm–kháp lên huyệt.
Thời gian mỗi huyệt: vài giây → 1–2 phút.
Hầu như tất cả huyệt (trừ vùng chống chỉ định) đều dùng được.
Ngón sử dụng tùy vùng: trỏ, cái, út dùng nhiều; trỏ hay dùng nhất.
Gợi ý chọn ngón theo vùng/bệnh (ví dụ nguyên bản)
Bệnh/chứng Huyệt & cách dùng (Hán–Việt) Gợi ý ngón
Tâm hoảng, hung thống Khúc Trì (khuỷu): bấm rồi đẩy về mỏm khuỷu Ngón cái (dưới có xương, dễ dùng lực)
Nha thống Tân Hội (dưới dái tai, cách 1 hoành chỉ): cơ mỏng, dưới có xương Ngón cái hoặc ngón trỏ (bấm nhẹ)
Tỵ viêm Nghênh Hương Ngón trỏ (tiện thao tác)
Cấp cứu hôn mê, hư thoát Nhân Trung: móng ngón út áp sát sống mũi, mặt ngón hướng môi Ngón út (linh hoạt)
Hầu thống, nha thống, ho sặc, đàm dính, cơn hen Tam Gian Ngón trỏ (tiện)
Kết mạc viêm Ngư Yêu, Tứ Bạch, Thái Dương (có thể hai tay mỗi tay bấm 1 huyệt) Ngón trỏ / ngón giữa
Tâm hoảng, ẩu thổ Khúc Trì (tay này) + Túc Tam Lý (tay kia) Hai tay phối hợp
Tiền đầu thống Hai Thái Dương đồng thời Hai ngón trỏ
Khi cần phối huyệt đối xứng hoặc trên–dưới, có thể dùng hai tay đồng thời, linh hoạt theo chứng.
Hình 27 – Hai ngón kẹp kháp pháp (两指相夹掐法)

Bốn kiểu thao tác của “hai ngón kẹp”
Kháp (掐法): Sau khi hai ngón kẹp lấy huyệt, một ngón làm đệm, một đầu ngón thực hiện động tác kháp (bấm bằng đầu móng/ngón).
Nhu–án (揉按法): Hai ngón kẹp giữ huyệt rồi đỡ đệm cho nhau, thực hiện xoa–ấn.
Đạn–bát (弹拨法): Thí dụ trị hư thoát, tứ chi quyết lạnh, tê bì đầu chi: lấy Thập Tuyên (mười đầu ngón tay) và Thập Tỉnh (mười đầu ngón chân), hai ngón kẹp đốt xa ngón tay/chân, gẩy về phía đầu móng, mỗi ngón qua lại vài lần.
Thăng–giáng pháp (升降法): Hai ngón kẹp huyệt, đầu ngón ấn một cái (giáng) rồi nhả một cái (thăng), chặt–nhả luân phiên. Nhiều lão y chính cốt gọi là “pháp thăng–giáng”.
Ví dụ nôn ói, tâm hoảng: kẹp Ngoại Quan & Nội Quan, kẹp chặt 10–20 giây rồi thả vài giây, hoặc kẹp chặt → xoa ấn vài cái → thả, lặp lại đến khi triệu chứng giảm/đỡ.
Trị đau cẳng tay, tê các ngón & dự phòng cảm mạo: lấy Khúc Trì, Thiếu Hải, Chi Câu, Tân Nghĩa, Tứ Độc, Tam Dương Lạc, hai ngón đi tuần từ trên xuống: đến huyệt thì “giáng”, rời huyệt thì “thăng”. Làm qua lại vài lượt, cánh tay thư giãn, toàn thân dễ chịu.
Trị đau cẳng chân, sợ lạnh, co cứng cơ bụng chân (chuột rút), mất ngủ, trướng khí tiêu hóa: lấy Thái Khê, Côn Lôn, Đại Chung, Bộc Tham, Thủy Tuyền, Thân Mạch (quanh gót & sau mắt cá), và Lậu Cốc, Ngoại Khâu, Tam Âm Giao, Huyền Chung (trên cẳng chân), dùng đúng phương pháp trên, thường hiệu quả rõ.
Vùng tai: có thể tăng tuần hoàn & giải mệt—dùng cái + trỏ từ gốc tai → vành tai → dái tai, liên tục xoa–ấn đến khi tai nóng lên là tốt.
(3) Nhị–tam chỉ kháp–áp pháp (二三指掐压法) — pháp kết hợp kháp & áp 〔Hình 28〕

Dùng cái–trỏ hoặc cái–trỏ–giữa vừa kháp vừa ấn ngay trên huyệt.
Có thể một tay hoặc hai tay cùng lúc.
Chủ yếu dùng tại lưng, mông, đùi (diện rộng); thứ đến cánh tay, cẳng chân.
Ngoài trị đau vai, lưng, đầu, eo, chân ở người cao tuổi–thể nhược, còn là hỗ trợ cho người không thể vận động nặng, có giá trị bảo健.
Ví dụ phối huyệt & thao tác
Vùng Phối huyệt (Hán–Việt) Cách làm chi tiết
Vai–lưng Đại Trữ phối Kiên Tỉnh Ngón cái kháp–áp Đại Trữ; trỏ + giữa kháp–áp gốc cổ; từ nông vào sâu, ba ngón dần khép; khi bệnh nhân có cảm giác → ngón cái tăng ấn tại huyệt, rồi gẩy nhanh lên trên (đạn–bát) và thả. Tính 1 lượt, làm 2–3 lượt, không quá nhiều.
Lưng–vai sau Cao Hoang, Thiên Tông, Kiên Trinh Cái kháp–áp Cao Hoang; trỏ + giữa kháp–áp Thiên Tông & Kiên Trinh; ba ngón cùng kháp–áp khá mạnh, vừa xoa–ấn vừa khép dần, cuối cùng cái tại Cao Hoang đạn–bát rồi thả.
Cẳng tay (đường giữa) Tuyến chính giữa mặt trước cẳng tay Từ trên xuống làm du–giáp kiểu “thăng–giáng”.
Cánh tay Thiên Tuyền, Tiêu Lạc, Thanh Lãnh Uyên Nhị–tam chỉ chỉ nên kháp–áp nhẹ, nâng hướng lên trên.
Mông–hạ chi Hai tay song song: hai cái kháp–áp mặt ngoài đùi/cẳng, hai trỏ–giữa đỡ mặt trong Không kháp–áp trực tiếp lên xương đùi & xương chày. Tuần tự Hoàn Khiêu → Tân Kiến → Cơ Cân (箕巾, tương đương vùng bì cơ đùi sau) → Phong Thị → Trung Đốc → Âm Thị → Lương Khâu → Dương Lăng Tuyền → Túc Tam Lý → Thượng Cự Hư → Điều Khẩu → Hạ Cự Hư, từ trên xuống kháp–áp, cái đạn–bát hướng ra ngoài; tới Âm Thị, Lương Khâu và Dương Lăng Tuyền, Túc Tam Lý thì đạn–bát nhiều hơn.
Kết luận thao tác: Diện kích thích nhỏ, cường độ lớn → thường dùng cho chứng cấp.
Phạm vi áp dụng & công hiệu
[Phạm vi] Chủ yếu tứ chi, đầu–mặt; cấp cứu hay dùng Nhân Trung bằng pháp này; các vùng cụ thể như trên.
[Công hiệu] Hoạt huyết, thông lạc, chỉ thống, khai khiếu tỉnh thần.
8) Nhiếp (Níp) pháp (捏法) 〔Hình 29〕

Định nghĩa: Dùng ngón cái với trỏ/giữa hoặc cái đối bốn ngón ép kẹp da–cân, gọi là nhiếp (níp) pháp.
Cách thao tác
Hai tay kẹp da rồi vê–nhấc lên, đề–nã có lực; hai tay di chuyển so le về phía trước.
Yêu cầu: Động tác đều, có tiết luật; kẹp cả tổ chức dưới da (không chỉ da nông).
Phạm vi & công hiệu[Phạm vi] Thường dùng dọc cột sống ⇒ còn gọi “nhiếp tích liệu pháp” (bấu–vê dọc sống lưng).
Trị nhiều bệnh nhi; người lớn: đau bụng, bệnh kinh nguyệt.
[Công hiệu] Thư thông kinh lạc, hoạt huyết hóa ứ.
9) Lăn (Cổn) pháp (滚法) 〔Hình 30〕

Định nghĩa: Lấy mặt lưng bàn tay phía ngón út làm điểm tỳ lực lên vùng điều trị, qua gấp–ngoại chuyển chủ động của cổ tay, khiến bàn tay lăn đi lăn lại liên tục → gọi cổn (lăn) pháp.
Cách thao tác
Vai–khuỷu–cổ tay thả lỏng; lấy mặt lưng khớp bàn–ngón V làm điểm tỳ, dán chặt vùng trị; không kéo lê, không xoay, không nhảy.
Giữ áp lực, tần số, biên độ đồng đều.
Tần số: 120–160 lần/phút.
Đặc tính: Áp lực lớn, diện tiếp xúc rộng; động tác phối hợp – có nhịp.
Bảng tổng hợp nhanh các pháp trong mục này
Pháp Điểm chính thao tác Tần số/Thời lượng Phạm vi áp dụng Công hiệu
Hai ngón kẹp – Kháp/Nhu–án/Đạn–bát/Thăng–giáng Hai ngón kẹp huyệt, biến hóa kháp–ấn–gẩy–chặt/nhả Theo lần/lượt; gợi ý 10–20s “giáng”, nghỉ vài giây, lặp lại Tứ chi, đầu–mặt, vùng tai; phối huyệt Ngoại Quan/Nội Quan, Khúc Trì… Ôn thông kinh lạc, hoạt huyết, chỉ thống, khai khiếuNhị–tam chỉ kháp–áp Cái–trỏ (±giữa) vừa kháp vừa ấn; có đạn–bát Theo lượt, không quá nhiều Lưng, mông, đùi; cẳng tay/cánh tay; hạ chi (không ấn trực tiếp lên xương) Cường kích thích cho chứng cấp; thư cân, hoạt lạc, giảm đau
Nhiếp (níp) pháp Cái đối trỏ/giữa hoặc đối bốn ngón, kẹp–vê–nhấc Nhịp đều, di chuyển so le Dọc cột sống (nhiếp tích), nhi/ phụ khoa–bụng Thư thông kinh lạc, hoạt huyết hóa ứ
Lăn (cổn) pháp Điểm tỳ: lưng khớp bàn–ngón V; cổ tay gấp–ngoại chuyển tạo lăn[Phạm vi áp dụng] Thích hợp với các vùng cơ bắp dày như vai – lưng, thắt lưng, mông và tứ chi. Đặc biệt hữu ích cho các chứng phong thấp đau nhức, tê bì mất cảm giác, liệt chi và rối loạn chức năng vận động.
[Công hiệu] Thư cân hoạt huyết, làm trơn linh hoạt khớp; giảm co cứng cơ và dây chằng, đồng thời tăng khả năng vận động của chúng; thúc đẩy tuần hoàn máu và tiêu trừ mệt mỏi cơ bắp.
10. Kích pháp (击法) — còn gọi Khấu kích pháp/Khấu kích
Tại một vùng hay huyệt nhất định, dùng ngón tay, cạnh bàn tay, hoặc nắm tay để gõ. Chia ba loại: Chỉ kích, Chưởng kích, Quyền kích.
[Phương pháp thao tác]
1. Chỉ kích pháp (图31)

— còn gọi Trác pháp/Chuốc pháp vì động tác như “gà mổ thóc”; bàn tay tạo hình “mai hoa” nên cũng gọi Mai hoa khấu.
o Biến thể: Đầu ngón giữa gõ (ngón trỏ + cái kẹp giữ ngón giữa để gõ); Tam chỉ gõ (cái, trỏ, giữa cùng gõ); Ngũ chỉ gõ (năm ngón khép lại cùng gõ).
2. Chưởng kích pháp (图32):

Năm ngón khép thẳng, ngón cái gập vào trong, cạnh trụ của bàn tay (bờ ngón út) như đao chưởng, đánh gõ nhanh vào vùng/huyệt, lặp 12 lần.
o Tự làm: thở ra thì gõ, hít vào tạm dừng.
3. Quyền kích pháp (图33):

Co chặt từ ngón trỏ đến ngón út, ngón cái đặt nhẹ lên các ngón gập, thành nắm tay; dùng mặt cạnh ngón út của nắm tay gõ mạnh, lặp 12 lần.
o Tự làm: cách phối hợp hô hấp như trên.
Yêu cầu chung: cổ tay thả lỏng, có độ đàn hồi; tránh cứng ngón hay cứng chưởng/quyền. Khi gõ cần tiết lực, tập trung lực, diện tác động nhỏ hoặc vừa, kích thích mạnh, độ sâu tốt.
Ngoài ra, dùng gậy cành dâu gõ lên bì phu hay A thị huyệt (điểm đau) gọi Bổng kích pháp.
[Phạm vi áp dụng]
[Công hiệu]
Thư cân thông lạc, hành khí hoạt huyết; khứ ứ, tiêu thũng chỉ thống; thông kinh lạc, điều hòa khí huyết, tán ứ tiêu tích.
11. Phách pháp (拍法) — còn gọi Phách đả pháp
Ngũ chỉ khép, hơi cong, lòng bàn tay rỗng, vỗ lên vùng điều trị (图34).

[Phương pháp thao tác]
Cổ tay thả lỏng, lực nhẹ, ổn định – có nhịp; tần số ~100 lần/phút.
[Phạm vi áp dụng]
Lưng–thắt lưng và tứ chi…
[Công hiệu]
Thư cân thông lạc, lý khí chỉ thống.
12. Chấn pháp (振法) — còn gọi Chấn chiến pháp/Chấn run
Gồm Chưởng chấn và Chỉ chấn.
[Phương pháp thao tác]
Dùng ngón (giữa hoặc bốn ngón) hoặc lòng bàn tay tỳ lên vùng/huyệt; cẳng tay & bàn tay ấn lực nhịp nhàng nặng–nhẹ, tạo rung chấn (ngón không rời da). Lực tập trung ở đầu & thân ngón. Tần số rung cao; thường một tay, cũng có thể hai tay cùng lúc.
[Phạm vi áp dụng]
Dùng được mọi vùng và huyệt.
[Công hiệu]
Khứ ứ tiêu tích, hòa trung lý khí, tiêu thực đạo trệ, điều hòa vị–trường.
13. Điểm động pháp (点动法)
Bác sĩ điểm/ấn huyệt đồng thời hướng dẫn bệnh nhân vận động khớp theo tình trạng bệnh—phối hợp thầy–trò.
[Phạm vi áp dụng]
Thường dùng chính cốt khoa và bệnh lý khớp.
Ví dụ: bệnh cột sống cổ, khi điểm ép cổ thì hướng dẫn cử động cổ.
[Công hiệu]
Thư cân hoạt lạc, hành khí chỉ thống.
14. Phân cân pháp (分筋法) — còn gọi Bát cân pháp/Quát pháp
Dùng đầu ngón cái đơn hoặc hai ngón cái, ấn sâu thẳng góc vào ổ bệnh, dây chằng, bó cơ, rồi gẩy tách sang hai bên. Kích thích mạnh; khi bát cân cần không dùng lực quá mức để tránh tổn thương lại.
[Phạm vi áp dụng]
Hầu như mọi vùng, thường dùng cho tổn thương mạn của cơ, gân, dây chằng, màng xương.
[Công hiệu]
Chấn hưng kinh lạc, tăng tuần hoàn tại chỗ, tách dính – giải kết.
15. Lý cân pháp (理筋法) — còn gọi Thuận cân pháp
Dùng đầu ngón cái đơn hoặc hai ngón cái, đặt đệm lên vùng thương tổn; thuận theo chiều của dây chằng, sợi cơ hoặc thần kinh, từ trên xuống dưới mà thao tác; giữ lực ngón ổn định, di chuyển chậm, giãn mở hệ cân.
[Phạm vi áp dụng]
Chủ yếu với mềm tổ chức bị thương ở thắt lưng và tứ chi.
[Công hiệu]
Thư cân hoạt lạc, thuận cân – phù chính (giãn cơ, chỉnh trật tự sợi cân).
(Ba) Phân hư – thực để định bổ/tả trong điểm huyệt
Bệnh chứng có hư và thực, thủ pháp có bổ và tả. Với 15 loại thủ pháp điểm huyệt nêu trên, lại căn cứ vào mức kích thích và thời gian khác nhau mà phân thành tả pháp và bổ pháp:
Nói chung, thể trạng cường tráng hoặc bệnh cấp tính đa phần nên dùng tả pháp; ngược lại thể trạng suy nhược, khí huyết bất túc, hư hàn hoặc bệnh mạn tính đa phần nên dùng bổ pháp; còn hư thực lẫn lộn thì nên điều chỉnh giữa hai pháp hoặc luân phiên sử dụng. Trong 15 thủ pháp, mỗi pháp đều có thể phân bổ/tả, tìm ở mức kích thích mạnh – nhẹ và thời gian dài – ngắn mà định.
(Bốn) Thủ pháp phối trợ khi điểm huyệt
Trong lâm sàng, khi điều trị bằng điểm huyệt còn có thể phối hợp các phương pháp sau.
1) Pháp phụ trợ
Là các động tác phối hợp giữa thầy thuốc và bệnh nhân nhằm tăng hiệu quả. Thường dùng hai nhóm sau:
(1) Vận động khớp pháp
Cách làm cụ thể tùy bộ vị:
1. Cổ: hay dùng xoay chỉnh phục vị (loại động mạch đốt sống chống chỉ định) và kéo giãn thẳng trục.
2. Vai: hay dùng rung lắc (dao pháp) và nhấc – kéo.
3. Ngực: hay dùng đẩy – kéo giãn.
4. Thắt lưng: hay dùng bẻ chỉnh (chéo bảng, nghiêng bẻ, bẻ sau), xoay phục vị (có tư thế ngồi và nằm), kéo giãn, rung lắc lưng trên.
o Kéo giãn có kiểu nằm (có thể kèm thủ pháp chỉnh phục), bán treo – kéo thẳng trục kèm đẩy ép chỉnh phục.
o Rung lắc lưng trên: thầy thuốc cõng bệnh nhân lưng – lưng, nắm hai tay bệnh nhân, thầy thuốc gập lưng vào thế mã bộ, lắc qua lại vài lần.
5. Khớp háng: rung lắc, tư thế nằm ngửa.
6. Khớp gối: rung lắc, gập – duỗi.
7. Khớp cổ chân: rung lắc, gập – duỗi.
8. Khớp cổ tay: rung lắc, gập – duỗi.
Yêu cầu lực: phải vững – chuẩn – dứt khoát, tránh dùng sức thô bạo, để không làm nặng thêm tổn thương.
Phạm vi áp dụng: dùng cho chỉnh phục vận động khớp vùng cổ, thắt lưng và tứ chi.
Công hiệu: làm trơn khớp, phục hồi chức năng khớp, thuận cân chính cốt, chỉnh hình phục vị.
(2) Hô hấp pháp (bệnh nhân tự trị liệu)
Khi điểm huyệt, nếu bệnh nhân thở không thuận sẽ giảm hiệu quả; phối hợp đúng cách có thể tăng hiệu quả trên 3 lần. Cách làm:
2) Pháp phối hợp
Khi dùng điểm huyệt, nếu phối khí công hoặc dân gian liệu pháp khác có thể nâng hiệu quả, rút ngắn liệu trình, đạt nửa công gấp đôi hiệu.

Hình 35 – Kim đầu tròn
1. Hình dạng: thường có hai loại:
§ Kim đầu tròn nhỏ: đầu tròn cỡ hạt gạo, giống thăm dò ngoại khoa, dài ~10 cm.
§ Kim đầu tròn lớn: đầu tròn đường kính 1,0–1,5 cm, dài 10–17 cm. Đầu tròn bằng kim loại, cán có thể bằng vật liệu khác.
Vật thay thế khá nhiều: nếu không có dụng cụ chuyên có thể dùng vật tương tự:
§ Đầu cán bút thay kim lớn;
§ Que diêm, que thăm, bút chì cùn thay kim nhỏ.
2. Thủ thế cầm và hướng ấn: Kim đầu tròn không đâm thủng da – cơ, chỉ điểm – ấn trên huyệt ở bề mặt. Thủ thế khác nhau cho kim lớn/nhỏ:
§ Kim lớn:
• Bàn tay nghiêng vào trong (lòng tay phía trong, mu tay phía ngoài): dùng khi ấn thẳng góc (trực áp).
• Lòng tay ở dưới (mu tay ở trên): dùng khi ấn chéo hoặc ấn ngang.
• Tay cầm phải ngón thực – chưởng thực, vững và mạnh.
§ Kim nhỏ:
• Dùng ngón cái + ngón trỏ, hoặc ngón cái + trỏ + giữa để cầm cán;
• Tay cầm cần ngón hư – chưởng hư, nhu nhu mà hữu lực;
• Chủ yếu ấn thẳng, đôi khi ấn chéo.
3) Cách dùng và thao tác
Đại viên đầu châm (kim đầu tròn lớn): dùng cho vùng diện tích rộng mà khối cơ khó di động, như lưng, vùng bả vai, mặt ngoài đùi, khu vực Túc Tam Lý (dưới gối), và khu vực Tân Nghĩa, Tứ Độc (dưới khuỷu tay). Trị đau cơ do phong thấp, giải mệt mỏi và bảo kiện hằng ngày thường hiệu quả rõ.
Thao tác: thầy thuốc cầm cán kim, đặt đầu tròn áp vào huyệt với áp lực thích hợp, lắc lên xuống – trái phải hoặc ấn giữ rồi xoay (như nhu áp pháp). Cũng có thể lấy đồng thời vài huyệt gần nhau, cầm kim đầu tròn miết qua lại lên xuống, thí dụ Cao Hoang, Thần Đường, Đại Trữ, Phong Môn, Phế Du, Kiên Ngoại Du…
Lưu ý: tránh rìa xương nơi cơ mỏng; tay thao tác mềm mà có lực, linh hoạt. Khi không qua lớp áo, không ấn quá nặng; có thể rắc bột talc lên vùng huyệt để dễ trượt.
Tiểu viên đầu châm (kim đầu tròn nhỏ): tính thích dụng rộng hơn; mọi nơi có thể dùng chỉ châm kẹp hay chỉ áp diện đều có thể thay bằng tiểu viên đầu châm. Bệnh chứng trị được bằng điểm huyệt thì kim nhỏ cũng trị được; nơi không tiện điểm huyệt thì kim nhỏ vẫn dùng được. Đầu kim tròn – nhỏ, phạm vi điểm nhỏ, hợp với vùng xương nhiều – diện tích hẹp như Nội Đình ở bàn chân, Dịch Môn ở bàn tay… dùng điểm huyệt trực tiếp bất tiện hoặc gây khó chịu, thì nên dùng kim nhỏ. Một số huyệt nhạy cảm, cũng có thể điểm ấn bằng kim này.
(3) Khi cần có thể phối hợp liệu pháp dân gian khác để nâng cao hiệu quả lâm sàng
Theo nhu cầu thủ thuật, có thể kèm các thủ pháp của “xoa bóp trị liệu” như ma pháp, nã pháp, sát pháp, mạt pháp, xoa (tát) pháp, chấn pháp, niệp pháp, quát (cạo) pháp, dao (rung lắc) pháp, bả (bẻ) pháp, bạt thân (kéo dãn) pháp… để thao tác phối hợp.
(Năm) Những điểm cần lưu ý khi điểm huyệt
1) Hướng điểm huyệt
Căn theo chiều vận hành khí huyết của kinh lạc:
2) Thứ tự điểm huyệt
Nói chung: nam → trái trước phải sau; nữ → phải trước trái sau. Nếu không đủ thời gian, điểm một bên cũng được. Trong điều trị nên ưu tiên huyệt – vùng chính, rồi đến phối huyệt – vùng thứ yếu; cần thì linh hoạt theo tình hình.
3) Lực độ điểm huyệt
Lực quyết định hiệu quả: đúng độ → hiệu tốt. Thông thường mạnh hơn đôi chút → tốt hơn; nhất là xương – khớp – cơ – dây chằng thì cần lực lớn hơn mới đạt hiệu quả, nhưng không quá mạnh để không tổn thương cốt mạc. Người già yếu, khớp cứng, da non (trẻ em): không dùng lực mạnh, chỉ cần cảm giác tê – tức nhẹ.
Một số người nhạy đau, chịu kém: nếu mặt tái, phải giảm lực hoặc tạm dừng; đợi nghỉ rồi làm tiếp.
Khi điểm huyệt: lực từ nhẹ đến mạnh, tăng dần đến ngưỡng chịu đựng tối đa của bệnh nhân. Thầy thuốc thân thể thả lỏng, khéo dùng xảo lực, đổi pháp – đổi lực tránh mỏi tay. Tự điểm huyệt: kiên trì lâu dài sẽ được lợi, nhưng phải tuần tự tiến, không nóng vội.
4) Tốc độ
Phải đều – chậm rãi, tránh quá nhanh. Mỗi huyệt lực từ nhẹ đến mạnh, tăng dần đến mức điều trị là thích hợp.
5) Thời gian và liệu trình
Trong khi điều trị bằng châm cứu, nếu tại chỗ quá mẫn khiến khó tiến kim, hoặc khi rút kim gặp trệ kim, hay châm mà không sinh cảm giác đắc khí, đều có thể dùng điểm huyệt để hỗ trợ. Có thể điểm ấn những huyệt khác trên cùng một đường kinh, thường có hiệu quả ngay. Một số huyệt không thể châm, như ở chi thể tàn tật hoặc sẹo, hoặc không thể cứu, như huyệt Ngân giao (ở trong khoang miệng), đều có thể dùng chỉ châm/điểm huyệt… Có những người bệnh lúc nguy kịch, có thể thử điểm huyệt trước, quan sát mạch có thay đổi hay không để phán đoán bệnh tình.” Điều này cho thấy liệu pháp điểm huyệt có chỗ đặc thù, có thể bù đắp cho châm thuật và cứu thuật; nếu phối hợp với châm, lại càng tương hỗ, bổ trợ.
7. An toàn, đáng tin cậy
Liệu pháp điểm huyệt an toàn hơn châm cứu: không có lo ngại gãy kim, cong kim, trệ kim, không gây vựng châm, không làm tổn thương da. Vì điểm huyệt tác động trên thể biểu (thuộc “Thập nhị bì bộ”) không xuyên dưới da, nên an toàn, không có phản ứng bất lợi. Dẫu là người mới học, thủ pháp chưa thuần, thao tác chưa quy phạm, ngoài cảm giác toan, trướng, tê, đau cho bệnh nhân thì không gây bất cứ tai biến mất an toàn nào. Bởi vậy, tự trị hoặc hỗ trị tại gia đều có thể yên tâm áp dụng, không cần e ngại.
Từ đó có thể thấy, điểm huyệt có nhiều ưu điểm; nhưng không phải bệnh gì cũng đều có thể chỉ dùng điểm huyệt mà xem như vạn năng, rồi bài xích các phương pháp khác—tư tưởng như vậy là phiến diện và sai lầm. Vì thế, lâm sàng cần căn cứ bệnh tình khác nhau mà chọn lựa phương pháp khác nhau: có thể chỉ dùng điểm huyệt thì chỉ dùng điểm huyệt; cần phối hợp phương pháp khác thì phối hợp. Nói chung, lấy việc chữa khỏi bệnh hoặc giảm nhẹ đau khổ cho người bệnh làm mục đích, tuyệt đối không nên chấp nhất một chiều.
(二) Những điều cần chú ý
Khi áp dụng điểm huyệt để điều trị, cần lưu ý các điểm dưới đây:
1. Trước điều trị phải hỏi kỹ bệnh sử, khám cẩn thận, xác định chẩn đoán, phòng chẩn đoán sai.
2. Những trường hợp thuộc “chống chỉ định và vùng cấm” đã nêu trước, không nên dùng điểm huyệt. Nếu theo kinh nghiệm lâm sàng vẫn có thể áp dụng, thì chỉ nên dùng thủ pháp nhẹ hoặc phối hợp phương pháp khác để bảo đảm an toàn.
3. Căn cứ bệnh tình mà lập nguyên tắc và phương án điều trị, chọn đúng huyệt và bộ vị cần kích thích, chọn đúng chỉ pháp và phương thức thao tác tương ứng.
4. Cường độ kích thích phải từ nhẹ đến mạnh, rồi từ mạnh về nhẹ. Vừa phải ổn, chuẩn, quyết, lại cương nhu tương tế, lực đều và thích độ. Hư chứng dùng nhẹ; Thực chứng dùng nặng. Người già yếu/ nhi đồng dùng nhẹ; thể trạng tráng thực dùng nặng. Thời gian: Hư thì ngắn, Thực thì dài. Thực chứng phần nhiều dùng tả pháp—thủ pháp nặng, thời gian dài; Hư chứng dùng bổ pháp—thủ pháp nhẹ, thời gian ngắn. Chứng hư–thực kiêm thấy thì luân phiên hai pháp. Nắm vững như vậy mới đạt hiệu quả tốt.
5. Khi thao tác cần linh hoạt theo tuổi tác, thể chất, bệnh trạng. Thai phụ và các huyệt cấm châm, cũng không nên dùng điểm huyệt.
6. Sau khi điểm huyệt, nếu vùng bị bấm còn đau nhói, có thể nhẹ nhàng xoa vài cái là hết, không cần căng thẳng.
7. Mùa đông khi tiếp xúc trực tiếp da để điểm huyệt, tay người làm nên làm ấm trước, tránh kích thích lạnh gây khó chịu. Phòng nên ấm áp thích hợp để tránh nhiễm lạnh.
8. Khi thao tác phải tập trung, tránh cẩu thả, lơ đãng; luôn quan sát sắc mặt, biểu cảm của người bệnh. Nếu không phải hôn mê, nên hỏi kịp thời về cảm giác trong lúc điểm huyệt, có dễ chịu không. Nếu có bất thường, phải điều chỉnh thủ pháp, đổi huyệt, hoặc ngừng điều trị. Gặp tình huống đổ mồ hôi nhiều, mặt trắng bệch (thường hiếm), có thể do thủ pháp quá mạnh—nên cho nằm ngửa ngay, rồi theo nhóm huyệt cấp cứu vựng châm/ hôn quyết như Thập tuyên, Lao cung, Nhân trung, dùng cáp pháp (bóp/nhéo) để cấp cứu.
9. Để không ngừng nâng cao hiệu quả, bình thời nên tăng cường luyện công, nâng cao thể lực, lực tay, lực ngón, sức bền, đồng thời luyện tập chỉ pháp thường xuyên; như vậy khi ứng dụng mới thuận tay, vận dụng tự nhiên, đạt hiệu quả như mong đợi.
10. Móng tay người thao tác phải sửa tròn nhẵn, không dài quá cũng không quá ngắn. Quá dài dễ làm xước da; quá ngắn lại ảnh hưởng hiệu quả. Đồng thời ngón tay, đặc biệt là vùng móng, trước thủ thuật cần rửa sạch, giữ vệ sinh.
11. Tư thế của bệnh nhân và người làm phải tương thích: vừa bảo đảm người bệnh thoải mái, vừa thuận tiện thao tác. Trẻ nhỏ cần người nhà giữ cho chắc để tránh dịch chuyển do khóc; người làm cũng cần đổi tư thế theo vị trí của trẻ để bảo đảm thao tác suôn sẻ.
12. Với bệnh nhân điều trị lâu chưa khỏi, cần kịp thời tổng kết xem phương án (bài huyệt), cường độ kích thích, chỉ pháp, chẩn đoán đã đúng và thích đáng chưa; cần thì điều chỉnh, hoặc phối hợp phương pháp khác, hay đổi phương pháp điều trị khác, để tránh chậm trễ điều trị.
Trường Xuân Nguyễn Nghị