Biện chứng bát cương được các danh y đời Minh – Thanh như Trương Cảnh Nhạc, Trình Chung Linh, Giang Bút Hoa phát triển từ biện chứng Lục kinh (六经辨证); Họ trích Âm-dương (阴阳) làm “Hai cương” để thống lãnh Biểu-lý (表里) Hàn-nhiệt (寒热) Hư-thực (虚实), dần dần hoàn thiện thành hệ thống Bát cương ngày nay.
Ngữ trích Giang thị 《Biểu lý hư thực hàn nhiệt biện》(《表里虚实寒热辨》)viết: “Phàm bệnh ở người không ngoài Âm-dương; Phân Âm-dương không rời Biểu-lý, Hư-thực, Hàn-nhiệt sáu chữ là đủ. Lý là Âm, Biểu là Dương; Hư là Âm, Thực là Dương; Hàn là Âm, Nhiệt là Dương. Lương y cứu người chẳng quá nhận đúng Âm-dương; Dong y (Thày thuốc xoàng) giết người cũng chỉ vì nhận sai Âm-dương.” – tư tưởng này tương đồng “Lưỡng cương Lục biến” của Trương Cảnh Nhạc, là hình ảnh sơ khai của Bát cương.
Nguồn gốc tư tưởng Bát cương đến từ Lục kinh biện chứng; Lục kinh (六经) là “thể”, là khái quát vật chất của Tạng-phủ kinh-lạc (脏腑经络); Bát cương là “dụng” là quy luật vận động của chứng. Hai phương pháp gắn liền nhau như hình với bóng.
Liên hệ cụ thể giữa Bát cương và Lục kinh như sau:
I/ Âm-dương (阴阳)
• Âm dương của Thái dương bệnh:Thái dương và Thiếu âm có quan hệ biểu lý, “Thực thì Thái dương, Hư thì Thiếu âm”. Nếu Thái dương thụ bệnh sẽ xuất hiện: Mạch phù, phát nhiệt, ố hàn, gọi là dương chứng. Nếu phát nhiệt mà mạch phản trầm, hoặc ghét lạnh mạch không phù mà lại trầm là bệnh phát ở Thiếu âm, gọi là âm chứng.
• Âm dương của Dương minh bệnh: Dương minh và Thái âm có quan hệ biểu lý, “Thực thì Dương minh, hư thì Thái âm”. Thân nhiệt, mồ hôi ra, không ố hàn, trái lại ghét nóng là Dương chứng phát ở Dương minh; Tay chân toát mồ hôi lạnh, tiểu tiện không thuận lợi, đại tiện đầu táo sau nát, gọi là âm chứng phát ở Thái âm.
• Âm dương của Thiếu dương bệnh; Thiếu dương & Quyết âm là biểu lý “Thực thì Thiếu dương, Hư thì Quyết âm”. Cơn rét cơn nóng qua lại, ngực cạnh sườn trướng đầy, tâm phiền, hay nôn gọi là Dương chứng Thiếu dương; Tai điếc, âm nang (bìu) co rút, tứ chi quyết lãnh, nước uống không vào, rêu lưỡi đen nhớt gọi là Âm chứng Quyết âm.
Về ba kinh âm bị bệnh, cũng có thể phân chia thành chứng âm dựa theo mối quan hệ giữa tạng phủ và biểu lý, không cần phải bàn thêm nhiều.
Từ những điều trên có thể thấy, lục kinh bị bệnh đều có sự phân chia chứng âm và chứng dương, cho nên âm dương xuất phát từ lục kinh. Tuy nhiên, bệnh ở kinh dương phần lớn phát ở lục phủ, vì phủ thuộc dương, khí huyết đầy đủ, khả năng chống lại tà khí mạnh mẽ, nên thường có đặc điểm là chứng nhiệt.
Dựa theo quan sát lâm sàng, nếu thấy thân thể nhẹ nhàng, người nóng, mặt đỏ, hơi thở ở miệng và mũi nóng, mắt đỏ ngầu, không thể ngủ, mắt đỏ nhiều ghèn, phiền khát, tiểu tiện đỏ vàng, đại tiện táo kết, thì đều là biểu hiện của chứng dương.
Ngược lại, nếu thấy thân nặng, hơi thở ở miệng và mũi lạnh, chỉ muốn nằm ngủ, sắc mặt nhợt nhạt, tứ chi lạnh buốt, móng tay móng chân xanh tím, nôn, tiêu chảy, tiểu tiện màu trắng, thì đều là biểu hiện của chứng âm.
________________________________________
Người xưa có câu: “Âm cực tựa dương, dương cực tựa âm” (陰極似陽,陽極似陰). Vì vậy, khi phân biệt chứng âm và chứng dương, cần phải nhận rõ thật hay giả của tính bệnh âm dương, để tránh bị giả tướng che mắt.
Trong Điều 11 – Thương Hàn Luận, Trương Trọng Cảnh viết:
“Bệnh nhân thân thể rất nóng, nhưng lại muốn mặc quần áo, đó là biểu hiện nhiệt ở phần bì phu (biểu), hàn ở phần xương tủy (lý). Bệnh nhân thân thể lạnh, nhưng lại không muốn mặc nhiều quần áo, đó là hàn ở phần bì phu (biểu), nhiệt ở phần xương tủy (lý).”
→ Ý Trương Trọng Cảnh muốn chỉ rõ cho người học phương pháp biện chứng ở chỗ: “Chứng có thật giả, nhưng tình (lòng muốn) thì không giả”.
Thông qua biểu hiện muốn hay không muốn mà phân biệt thật giả của hư nhiệt và thực nhiệt, từ đó có thể nhận biết được chứng âm dương, giúp nâng cao khả năng biện chứng lên một tầng cao hơn.
II/ Biểu–Lý (表里)
Khi lục kinh (六经) phát bệnh, mỗi kinh đều hàm chứa một vị trí bệnh; Phải biện rõ vị trí bệnh thì điều trị bệnh mới chính xác, các phép phát hãn (汗) hay công hạ (下) có thể sử dụng mà không sai lầm gây tai hại.
(一) Biểu–Lý chứng của bệnh Thái dương (太阳病)
1/ Biểu chứng Thái dương Lục kinh thụ bệnh, chỉ có bệnh ở kinh Thái dương thuộc đề cương biểu chứng. Vì kinh Thái dương nối liền với huyệt Phong phủ (风府), là kinh chủ khí của các kinh dương, là “ngoại phiên” (外藩) hàng rào bảo vệ của toàn thân – vì vậy Thái dương chủ biểu.Trong lục kinh, mỗi khi bị bệnh đều phân kinh, phân phủ (经–腑), nói theo cách so sánh: Kinh ở ngoài gọi biểu, phủ ở trong gọi lý. Thương hàn lệ (《伤寒例》) viết: “Xích thốn (尺寸) đều phù (浮) là Thái dương thụ bệnh, qua một-hai ngày ắt phát bệnh. Vì mạch nối với huyệt Phong phủ nên đau đầu, cứng gáy.” Thái dương thiên điều 1: “Bệnh Thái dương, mạch phù, đầu–gáy cứng đau, ố hàn (恶寒)…”, nêu rõ đặc điểm tà phạm Thái dương kinh biểu.
2/ Lý chứng của Thái dương Thái dương vẫn có lý chứng – tức bàng quang phủ (膀胱腑). Nếu tà khí ở kinh không giải, thuận theo kinh nhập phủ, từ biểu vào lý ở hạ tiêu → xuất hiện hai chứng:1/ Súc thủy Thái dương (太阳蓄水) – mạch phù, phát nhiệt, khát đòi uống, tiểu bất lợi, nặng thì uống nước liền nôn (thủy-nghịch 水逆); 2/ Súc huyết Thái dương (太阳蓄血) – mạch vi trầm, bụng dưới trướng đầy, thần chí cuồng; Nhẹ thì bụng dưới co thắt, tinh thần như cuồng. Tuy nhiên tiểu tiện vẫn thông, chứng tỏ không liên quan với thủy.
(二) Biểu–Lý của Dương minh (阳明病)
1/ Biểu chứng của Dương minh Thông thường mọi người chỉ biết Dương minh có lý chứng, kì thực Dương minh cũng có biểu chứng. Thương hàn lệ nói: “Xích thốn đều trường (长) là Dương minh thụ bệnh, hai-ba ngày phát; Mạch từ mũi nối lên mắt nên thân nhiệt, mắt đau, mũi khô, mất ngủ.” Thành Vô Kỷ (成无已) chú giải: “Dương minh mạch khởi từ mũi, giao ở sống mũi, nối lên mắt… mắt đau mũi khô là tà khách ở trong kinh.” Các chứng trạng kèm theo như: Phát nhiệt, ố hàn, vô hãn, mặt đỏ, trán đau, mạch phù-trường.
(三) Biểu–Lý chứng củaThiếu dương (少阳病)
(IV) Biểu Lý chứng của kinh Thái âm
1/ Biểu chứng của Thái âm (太阴病表证): Hai mạch thốn-xích đều trầm tế là kinh Thái âm thụ bệnh, ngày thứ 4–5 phát; Mạch phân bố ở vị, nối với hầu họng nên đầy bụng, cổ khô. Thái âm trúng phong nên tứ chi phiền đau…; Thái âm bệnh, mạch phù có thể phát hãn → đều chứng tỏ kinh-biểu của Tỳ Thái âm bị bệnh.
2/ Lý chứng của Thái âm (太阴病里证): Thương hàn luận điều 279.Thái dương bệnh, thầy thuốc ngộ hạ, nên đầy bụng, đau từng cơn, thuộc Thái âm là bệnh tà từ biểu truyền vào lý của Thái âm, sinh đầy bụng và đau.
(V) Biểu-lý chứng của kinh Thiếu âm
1/ Biểu chứng của Thiếu âm : Hai mạch Thốn-xích đều trầm (尺寸俱沉) là Thiếu âm thụ bệnh sau 5–6 ngày phát; mạch xuyên qua thận nối với phế, liền với lưỡi, nên miệng khô lưỡi ráo khát – đây là nhiệt tà phạm kinh Thiếu âm; Thương hàn luận điều 301 kinh Thiếu âm mới bị bệnh, lại phát nhiệt, mạch trầm, dùng Ma hoàng tế tân phụ tử thang là dương hư, kinh-biểu cảm hàn tà.
2/ Lý chứng của Thiếu âm (少阴病里证): Chỉ về bệnh thuộc Thiếu âm tâm-thận. Như Thương hàn luận điều 323: “Thiếu âm bệnh, mạch trầm, cấp ôn chi, nghi Tứ nghịch thang.” Lại điều 285 viết: “Thiếu âm bệnh
Thiếu âm mạch trầm, phải nhanh chóng ôn ckinh, nên dùng Tứ nghịch thang (少阴病、脉沉者…); Thiếu âm mạch trầm sác, bệnh tại lý (少阴病,脉沉数…) → Thiếu âm có lý hàn dương hư và lý nhiệt âm hư.
(VI) Quyết âm bệnh biểu-lý chứng
1.Quyết âm biểu chứng: Thốn-xích đều vi hoãn (尺寸俱微缓) → Quyết âm thụ tà sau 6–7 ngày phát bệnh; Mạch tuần hành ở bộ phận sinh dục nối với tạng can nên phiền mãn và bìu bị co rút lại; Và Thương hàn luận điều 351 viết: Tay chân quyết lạnh, mạch tế dục tuyệt, dùng Đương quy Tứ nghịch thang để trị chứng này.”
Hai điều trên phản ảnh được đặc điểm của kinh hàn và kinh nhiệt gây bệnh ở kinh Quyết âm.
Kết: Dùng Biểu-lý hai cương phản ánh bệnh của kinh-lạc & tạng-phủ, cho thấy hệ thống biện chứng Đông y. Nếu chỉ luận lý-chứng tạng-phủ mà bỏ kinh-biểu, sẽ mất tính toàn diện của lục kinh; do đó Bát cương phải gắn với lục kinh.
III/ Hàn-Nhiệt (寒热)
Hai cương này được thiết lập phản ánh từ tình trạng hàn-nhiệt trong lục kinh, là hai tình huống hàn hoặc nhiệt tồn tại khách quan của bệnh, nên được coi là căn cứ biện chứng phân loại hình trong lâm sàng trị liệu. Do đó, nó tóm tắt toàn diện các triệu chứng cụ thể của bệnh, bao gồm cả biểu lý và âm dương.
(一) Hàn-nhiệt của Thái dương
(II) Chứng hàn-nhiệt của Dương minh bệnh
1/ Chứng lý hàn của Dương minh (阳明里寒证) – Thương hàn luận (《伤寒论》) điều 226: “Nếu vị trung hư lãnh (胃中虚冷) không ăn được, uống nước liền ợ (饮水则哕)” — điều 243: “Thực cốc dục ẩu (食谷欲呕) thuộc Dương minh, nên dùng Ngô thù du thang (吴茱萸汤)” → lý hàn gây nôn ói, pháp trị dùng Ngô thù du thang để ôn vị tán hàn.
2/ Chứng lý nhiệt của Dương minh (阳明里热证) – Nhiệt có thể tại thượng (在上) uất ở cách quản thì tâm phiền (心中懊恼) lưỡi rêu vàng; tại trung (在中) thì khát muốn uống, miệng khô nóng; tại hạ (在下) thì mạch phù, phát nhiệt, khát muốn uống mà tiểu tiện bất lợi.
(III) Chứng hàn-nhiệt của Thiếu dương bệnh (少阳病)
1/Thiếu dương hàn chứng (少阳寒证) – Ngực hiếp đầy, tiểu ít, khát mà không nôn, đầu đổ mồ hôi, bụng trướng, đại tiện lỏng, mạch huyền trì.
2/Thiếu dương nhiệt chứng (少阳热证) – Miệng đắng (口苦), họng khô (咽干), tâm phiền, mắt hoa, mạch huyền sác.
(IV) Chứng hàn-nhiệt của Thái âm bệnh (太阴病)
1/Thái âm hàn chứng (太阴寒证) – Điều 277: “Tự lợi bất khát (自利不渴) thuộc Thái âm vì tạng có hàn.”
2/Thái âm nhiệt chứng (太阴热证) – Điều 278: “Thương hàn mạch phù hoãn, tay chân tự ấm (手足自温) là hệ ở Thái âm; Thái âm lẽ ra thân thể phát màu vàng, nếu tiểu tiện thông (小便自利) thì không phát màu vàng.” → biểu hiện lý nhiệt ẩn ở Thái âm.
(V) Chứng hàn-nhiệt của Thiếu âm bệnh (少阴病)
1/Thiếu âm hàn chứng (少阴寒证) – Điều 282: “Thiếu âm bệnh, muốn nôn không nôn, tâm phiền chỉ muốn ngủ, năm-sáu ngày tiết tả kèm khát… tiểu trắng (小便白) là biểu hiện của thiếu âm hạ tiêu hư hàn.”
2/Thiếu âm nhiệt chứng (少阴热证) – Điều 303: “Thiếu âm bệnh quá hai-ba ngày, tâm phiền, không ngủ được…” là do Thiếu âm lý nhiệt gây phiền táo.
(VI) Chứng hàn-nhiệt của Quyết âm bệnh (厥阴病)
1/Quyết âm hàn chứng (厥阴寒证) – Điều 352: “Người bên trong có hàn lâu ngày (内有久寒) nên dùng Đương quy tứ nghịch gia Ngô thù du sinh khương thang” do tạng Can thụ hàn lâu ngày, biểu hiện bụng dưới lạnh và đau, nôn, tứ chi quyết lãnh.
2/ Quyết âm nhiệt chứng (厥阴热证) – Điều 335: “Thương hàn một-hai tới bốn-năm ngày quyết lãnh thì ắt phát nhiệt; Trước nhiệt sau tất quyết, quyết sâu nhiệt cũng sâu, quyết vi (nhẹ) nhiệt cũng vi (nhẹ)… quyết nên hạ mà lại phát hãn, tất miệng loét đỏ” cho thấy tình huống nội nhiệt Quyết âm do cảm nhiệt tà hay dương uất hóa nhiệt.
IV, Hư-Thực (虚实)
Hai cương lĩnh Hư-Thực phản ánh đặc điểm thế đối kháng của chính-tà. Nói chung Tam dương (三阳) thiên về thực chứng, Tam âm (三阴) thiên về hư chứng.
(I) Hư-thực chứng của Thái dương bệnh
1/ Thái dương biểu hư chứng (太阳表虚证) – Điều 12: “Thái dương trúng phong (太阳中风) dương phù âm nhược, dương phù phát nhiệt, âm nhược tự hãn; ố hàn, ố phong, phát nhiệt hầm hập, ngạt mũi, nôn khan điều trị dùng Quế chi thang (桂枝汤).” Đây là biểu tà hư chứng ở Thái dương.
2/ Thái dương biểu thực chứng (太阳表实证) – Điều 35: “Thái dương bệnh, đầu đau, phát nhiệt, mình đau, lưng đau, khớp đau, ố phong, vô hãn nhi suyễn (无汗而喘) điều trị dùng Ma hoàng thang (麻黄汤).” Đây là biểu tà thực chứng ở Thái dương.
(II) Hư thực chứng của Dương minh bệnh
1/ Chứng lý hư của Dương minh bệnh: Thương hàn luận (《伤寒论》) điều 196 chép “Dương minh bệnh, pháp nên ra nhiều mồ hôi, trái lại không có mồ hôi, thân như kiến bò dưới da, ấy bởi hư nhược lâu ngày” → Vị-khí hư hàn, tân dịch suy kiệt, vì “Vị là phủ chứa tân dịch, vị khí hư nên không toát mồ hôi, thân nổi cảm giác sâu bọ bò dưới da” (thân như trùng hành bì trung 状); vì thế Dương minh có mồ hôi là thực, không mồ hôi là hư, ngược với Thái dương (Thái dương có mồ hôi là hư, vô hãn là thực).
2/Dương minh bệnh lý thực chứng (阳明病里实证): đặc trưng “Không đại tiện, đại tiện khó,” (不更衣、大便难) kèm bụng đầy và đau; Điều 180 viết: “Dương minh chi vi bệnh, Vị gia thực thị dã” (阳明之为病,胃家实是也) → tà thực bế kết Vị-Tràng; biểu hiện: bụng đầy đau quặn quanh rốn, đầy không giảm, ăn kém, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì hữu lực, lưỡi rêu vàng khô v.v.
(III) Hư thực chứng ở Thiếu dương bệnh
1/ Hư chứng của Thiếu dương bệnh (少阳病虚证): điều 100: “Thương hàn, dương mạch sáp, âm mạch huyền, theo phép là phải bụng đau co thắt, trước dùng Tiểu kiến trung thang (小建中汤); nếu chưa khỏi, tiếp theo dùng Tiểu sài hồ thang (小柴胡汤)” → mạch trên phù sáp, dưới trầm huyền đồng nghĩa “xích mạch trì” của Thái dương, phản ánh Thiếu dương kiêm hư, khí-huyết bất túc; nên trước bổ chính, sau hòa giải tà. Lâm sàng viêm gan mạn thấy mạch huyền trì sáp, dùng Tiểu kiến trung thang (đường + quế chi) cũng theo “Can khổ cấp, cấp thực cam dĩ hoãn chi” (肝苦急,急食甘以缓之) Tạng can không ưa cấp bách, dùng vị ngọt để hoà hoãn.
2/Thực chứng của Thiếu dương bệnh (少阳病实证): ngực cạnh sườn đầy trướng đau (胸胁苦满), tâm hạ (dạ dày) cứng, uất phiền nhẹ, nôn không dứt, đại tiện bí, miệng đắng tâm phiền, mạch huyền hoạt hữu lực là biểu hiện tà thực uất ở thiếu dương.
(IV) Hư thực chứng ở Thái âm bệnh
1/ Hư chứng của Thái âm bệnh (太阴病虚证): điều 273 “Thái âm chi vi bệnh, bụng đầy mà nôn, nuốt không xuống, tiêu chảy càng nặng, đau bụng từng cơn” Phản ảnh được chứng thổ lợi (thổ tả) của Tỳ khí hư hàn. Căn cứ thực tế lâm sàng cho thấy Thái âm chủ yếu thiên về hạ lợi, Quyết âm chủ yếu thiên về ẩu thổ, hai kinh tuy cùng có chứng trạng hạ lợi nhưng mỗi kinh lại có những chuyên biệt, cần phải nắm vững.
2/ Thực chứng của Thái âm bệnh (太阴病实证): điều 279 “Bản Thái âm bệnh, thầy lầm hạ, nên bụng đầy đau từng cơn thuộc Thái âm… đại thực thống (đau) thì dùng Quế chi gia Đại hoàng thang (桂枝加大黄汤)” → Tỳ thực có thể công hạ, nhưng mạch phải trầm trung hữu lực mới dùng đại hoàng để thông phủ.
(V) Hư–thực chứng của Thiếu âm bệnh
1/ Hư chứng Thiếu âm bệnh (少阴病虚证): Trước hết tách dương hư (阳虚) và âm hư (阴虚). – Điều 286: “Thiếu âm bệnh, mạch vi, bất khả phát hãn, vong dương cố dã (亡阳故也).”vì thế dương hư, không được phát hãn. – Điều 285: “Thiếu âm bệnh, mạch tế trầm sác (脉细沉数), bệnh tại lý, bất khả phát hãn.” Cho thấy âm hư nội nhiệt, cũng thuộc hư chứng Thiếu âm.
2/Thực chứng Thiếu âm bệnh (少阴病实证): Tục ngữ “Thận vô thực chứng, Can vô hư chứng” (肾无实证,肝无虚证) vốn không tuyệt đối. Thực chứng Thiếu âm phần nhiều do táo nhiệt bức âm, trúng tạng lưu phủ mà hình thành. – Điều 321: “Thiếu âm bệnh, tự lợi thanh thủy (自利清水) sắc thuần thanh, tâm hạ tất thống, khẩu can táo, khả hạ chi, nghi Đại thừa khí thang (大承气汤).” → táo nhiệt nội thực, âm dịch bị đẩy xuống, cùng cực liên lụy Thận, là Thiếu âm khả công hạ.
(VI) Hư–thực của Quyết âm bệnh
1/ Hư chứng Quyết âm bệnh (厥阴病虚证): gồm dương hư (阳虚) và huyết hư (血虚). – Dương hư: Điều 353: “Đại hãn xuất, nhiệt bất khứ, nội cửu cấp, tứ chi thống, hạ lợi quyết nghịch ác hàn, Tứ nghịch thang (四逆汤) chủ chi.” – Huyết hư: Điều 351: “Thủ túc quyết lãnh, mạch tế dục tuyệt, Đương quy Tứ nghịch thang (当归四逆汤) chủ chi.”
2/Thực chứng Quyết âm bệnh (厥阴病实证)
Thực chứng ở Quyết âm bao gồm: Đàm ủng (痰壅), thủy đình trệ (水停), nhiệt kết (热结) làm cho tạng Can sơ tiết không thông sướng, khí cơ uất trệ, phát sinh khí uất quyết nghịch (气郁厥逆) – tình trạng khí nghịch lên trên, gây ra tay chân quyết lãnh (lạnh đến khuỷu gối).
Điều 355 trong Thương Hàn Luận: “Bệnh nhân thủ túc quyết lãnh, mạch sạ (đột nhiên) khẩn, tà kết tại hung trung, tâm hạ mãn (dạ dày trướng) nhi phiền, cơ bất năng thực (đói mà không thể ăn), bệnh tà tại lồng ngực, cần dùng phép thổ. Nên dùng Qua đế tán (瓜蒂散).”
Điều này nói về đàm tà ngưng kết ở ngực, khí cơ quyết âm không thông, gây ra chứng tay chân quyết lãnh.
Điều 356 còn viết: “Thương hàn quyết nhi tâm hạ quý, nghi tiên trị thủy, đương phục Phục linh Cam thảo thang (茯苓甘草汤), khước trị kỳ quyết. Bất nhĩ, thủy tế vu vị, tất tác lợi dã.”
→ Điều này nói về tình trạng thủy đình ở Vị, khiến Can không sơ tiết, khí cơ không đạt, gây tay chân quyết lạnh. Do thủy tà là căn nguyên nên cũng được gọi là thực chứng.
________________________________________
Kết luận về sáu kinh biện chứng kết hợp với bát cương phân chứng
Thông qua biện chứng lục kinh (六经辨证), nội hàm các phương pháp phân chứng theo bát cương (八纲分证), mỗi kinh trong sáu kinh đều có đủ tám mặt biến hóa: Âm-Dương, Biểu-Lý, Hàn-Nhiệt, Hư-Thực. Tổng cộng là 48 chứng trạng (6 kinh × 8 mặt) – đây chính là cốt lõi của biện chứng lục kinh.
Bởi vì Âm-Dương luôn tương đối mà sinh ra, từ đó Biểu-Lý, Hàn-Nhiệt, Hư-Thực có thể đối chứng qua lại, giúp nâng cao tư duy biện chứng, hỗ trợ cho việc lâm sàng, phát huy tâm pháp của Trương Trọng Cảnh, đạt hiệu quả “sự bán công bội” (事半功倍) – công sức bỏ ra ít nhưng hiệu quả gấp đôi.
Đồng thời, học thuyết biện chứng của y học cổ truyền thể hiện trong sự vận động sinh lý, bệnh lý của kinh lạc và tạng phủ. Do đó, chỉ có phương pháp bát cương biện chứng mới có thể bao quát hết các vị trí bệnh lý của kinh lạc và tạng phủ, nhận diện được tính chất bệnh của Âm-Dương và các trạng thái Hàn-Nhiệt, Hư-Thực, Chính-Tà. Nhờ vậy mà việc chẩn đoán trở nên có hệ thống, rõ ràng như “có cương có mục” (有纲有目), mọi thứ sáng tỏ như lòng bàn tay (了如指掌).
**Các điều {Thương hàn} có thể tham khảo chi tiết hơn ở “Thương Hàn Luận”
Lương y Nguyễn Nghị dịch