Viêm dạ dày (nôn ói)(胃炎〔呕吐〕)
Thuộc phạm vi “lợm giọng, ẩu thổ(恶心、呕吐)” của Trung y. Trung y cho rằng: có tiếng có vật là “ẩu(呕)”, có vật không tiếng là “thổ(吐)”, có tiếng không vật là “can ẩu(干呕)” là nôn khan. Lâm sàng thường đồng thời xuất hiện, nên gọi chung “ẩu thổ(呕吐)”. Nam nữ, già trẻ đều có thể mắc; là bệnh lâm sàng thường gặp.
【Nguyên nhân】
Chủ yếu do Vị thất hòa giáng, Vị khí nghịch thượng. Thường vì Vị phủ bị ngoại tà xâm phạm; hoặc ăn uống không sạch, quá nhiều đồ sống lạnh làm tổn thương Tỳ Vị; hoặc đàm ẩm cản trở bên trong; Can khí phạm Vị, hoặc ẩm thực không tiết độ, thực phẩm tích trệ làm tổn thương Vị; hoặc Tỳ Vị hư nhược, Vị dương bất túc.
【Chứng trạng】
Lấy nôn ói làm chủ chứng. Bệnh chia thành cấp và mạn tính; chứng có hàn – nhiệt, hư – thực. Tình trạng phức tạp, hay kèm nhiều chứng khác. Như nôn nước trong, đàm dãi, miệng khô khát, ưa uống ấm, tứ chi quyết lạnh là “hàn thổ”; hoặc nôn chua đắng, ợ hơi, ưa uống lạnh, khát, tiểu vàng ngắn là “nhiệt thổ”. Cấp tính thường đột ngột nôn; mạn tính hay lúc nôn lúc ngừng, tái phát nhiều lần.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương 1: Dũng tuyền(涌泉, bên trái), Bàn môn huyệt(板门穴, ở mô ngón cái – đại ngư tế phía quay lòng bàn tay).
Trị pháp: Xoa ấn, điểm huyệt.
1/ Theo chiều kim đồng hồ điểm, xoa Dũng tuyền bên trái; bệnh ngắn ngày, thể chất tốt dùng kích thích mạnh, cần thiết có thể dùng dụng cụ điểm huyệt (gỗ/kim loại) kích thích, lấy mức đau tại chỗ còn chịu được; bệnh lâu ngày, thể yếu dùng kích thích trung bình; trẻ em dùng bụng ngón cái ấn mạnh (gọi là cường áp).
2/ Dùng bụng ngón cái điểm, xoa Bàn môn theo chiều kim đồng hồ.
3/ Từ nếp ngang nhỏ ở bụng ngón cái đẩy ấn (thôi áp) thẳng tới Bàn môn 100 lần; thủ pháp cương nhu kết hợp.
Các động tác trên: Mỗi mục 100 lần (trẻ em 60 lần) tính là 1 vòng; tần suất 30 lần/phút; mỗi ngày làm 1 vòng.
Chủ trị: Nôn ói.
Phụ ký: Điều trị 27 ca, sau 1 lần thao tác: hiệu quả rõ (sau 8 giờ ngừng nôn) 20 ca; hiệu quả (8 giờ nôn 1 lần) 3 ca; không hiệu quả (8 giờ nôn ≥2 lần) 4 ca.
Phối huyệt phương 2: Trung quản(中脘), Nội quan(内关), Túc tam lý(足三里).
Trị pháp: điểm, ấn, bấu. Dùng ngón cái hoặc ngón trỏ điểm, ấn, bấu các huyệt trên. Bệnh ngắn ngày, thể tráng dùng kích thích mạnh; bệnh lâu ngày, thể yếu dùng kích thích vừa. Mỗi huyệt 5 phút; phần nhiều 1 lần là hiệu quả.
Chủ trị: Nôn ói.
Phụ ký: Lâm sàng xác nghiệm, hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương 3: Túc tam lý(足三里), Nhân trung(人中), đầu ngón tay (chân) mười đầu(十指〔趾〕尖).
Trị pháp: bấu ấn, búng dây (弹拨). Hai tay đồng thời thao tác: một tay ngón cái bấu ấn Túc tam lý, tay kia ngón út bấu Nhân trung; khi bấu khi dừng; lúc dừng thì búng trên 10 đầu ngón tay và 10 đầu ngón chân. Mỗi lần 10 phút.
Chủ trị: Nôn ói (trọng chứng).
Phụ ký: Ttrị một ca nhũ nhi nôn ói tái phát 9 tháng, 1 lần đã khỏi, hiệu quả tức thời.
Phối huyệt phương 4: Túc tam lý(足三里), Trung quản(中脘), Trung khôi(中魁).
Trị pháp: Chỉ ấn, bấu ấn. Ấn mạnh Túc tam lý (hai bên), bấu ấn Trung khôi (hai bên), rồi xoa ấn Trung quản. Mỗi huyệt 5 phút; phần nhiều 1 lần là hiệu quả.
Chủ trị: Nôn ói.
Phụ ký: Nhiều lần dùng đều hiệu nghiệm.
Phối huyệt phương 5: Thượng quản(上脘), Cự khuyết(巨阙), Nội quan(内关).
Trị pháp: xoa ấn, bấu ấn. Xoa ấn Thượng quản, Cự khuyết mỗi huyệt 1.5–3 phút; bấu ấn Nội quan (hai bên) 5 phút — thường có hiệu ngay.
Chủ trị: Nôn ói.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả khá hài lòng; đồng thời đối với nấc (ê cách) và đau dạ dày cấp, hiệu cũng tốt.
Đau dạ dày (胃脘痛), gọi tắt “vị thống”, là bệnh lâm sàng thường gặp; nam nữ đều có thể mắc, gặp nhiều ở người trung niên. Ở thành thị gặp nhiều hơn nông thôn.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do ăn uống lâu ngày không điều độ, lúc đói lúc no; hoặc ẩm thực không tiết độ, ưa cay nóng, quá dùng đồ sống lạnh làm tổn thương Tỳ Vị; hoặc do kích thích tinh thần, tình chí uất ức, khí cơ nghịch loạn, Can tà phạm Vị; hoặc ngoại tà xâm nhập, lao lực gặp lạnh phạm Tỳ Vị… Mỗi khi lao lực quá độ, ăn uống thất tiết, tinh thần kích động, hoặc thời tiết biến đổi thì dễ tái phát, kéo dài không khỏi hoặc nặng thêm.
【Chứng trạng】
Lấy đau vùng vị quản (thượng vị) làm chủ chứng. Ở lưng thường có điểm đau khi ấn dọc từ Cách du đến vùng vị quản. Đa số biểu hiện đau âm ỉ vùng vị quản, mệt mỏi, dễ nôn nước trong — thuộc Tỳ Vị hư hàn; hoặc đau vị quản lan sang hai cạnh sườn, ợ hơi, chua miệng, đắng miệng — thuộc Can khí phạm Vị, hoặc đói quá hay no quá thì đau tăng. Bệnh liên quan mật thiết với ăn uống, cảm xúc, thay đổi khí hậu, thường có tính chu kỳ. Do căn bản nguyên nhân khác nhau nên kiêm chứng phức tạp; theo biện chứng Trung y, thường chia các thể: Tỳ Vị hư hàn, Can khí phạm Vị, thấp nhiệt uất chưng, Vị âm bất túc, ứ huyết trở lạc… Lâm sàng hay gặp nhất là Can khí phạm Vị và Tỳ Vị hư hàn.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương 1: hai bên khe giữa các mỏm gai đốt ngực T9–T10–T11–T12.
Trị pháp: Chỉ áp. Dùng bụng hai ngón cái ấn mạnh vào các điểm hai bên nói trên; mỗi điểm 1 phút, lặp 3–5 lượt; mỗi ngày 1 lần. Bệnh lâu ngày, thể trạng yếu thì dùng kích thích vừa (tức trung áp).
Chủ trị: Đau vị quản (đau dạ dày).
Phụ ký: Dùng nhiều lần, hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương 2: Trung quản(中脘). Kèm tăng toan vị thì phối Dương lăng tuyền(阳陵泉), giảm toan vị thì phối Túc tam lý(足三里).
Trị pháp: Chỉ áp. Bệnh nhân nằm ngửa, thả lỏng cơ. Dùng bụng ngón cái hoặc ngón trỏ xoa ấn mạnh Trung quản hoặc huyệt phối (tùy chứng), trước ấn sau xoa 1,5–3 phút; hoặc phối hợp hô hấp pháp: vừa thở ra chậm vừa dùng ngón tay ấn mạnh 6 giây rồi nhấc tay, lặp 10 lần; huyệt phối làm tương tự. Nếu chỉ đau vị, hoặc tăng/giảm toan riêng lẻ, thì chọn huyệt như trên. Làm lúc đang đau cho hiệu quả càng tốt. Mỗi ngày 1 lần đến khi khỏi.
Chủ trị: viêm dạ dày mạn, đau dạ dày.
Phụ ký: Thời gian điều trị cần điều chỉnh ăn uống để củng cố hiệu quả.
Phối huyệt phương 3: Lương khâu(梁丘, hai bên), Trung quản(中脘).
Trị pháp: Chỉ áp, xoa ấn. Ấn mạnh Lương khâu, xoa ấn Trung quản, mỗi huyệt 5 phút; nếu thuộc hàn hoặc hư hàn thì sau khi chỉ áp dùng ngải cứu hơ treo Trung quản 3–5 phút. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: đau vị quản.
Phụ ký: Nhiều năm sử dụng trên lâm sàng, đạt được hiệu quả khá hài lòng.
Phối huyệt phương 4: A thị huyệt(阿是穴 — tìm 1–2 điểm đau ấn ở hai bên T9–T12), Trung quản(中脘).
Trị pháp: Chỉ áp, xoa ấn. Ấn mạnh A thị huyệt, xoa ấn Trung quản, mỗi huyệt 5 phút, đạt “đắc khí” là vừa. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: Đau dạ dày do nhiều nguyên nhân.
Phụ ký: đã dùng nhiều năm trên lâm sàng, hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương 5
• Phương 1: Vị du(胃俞), Nội quan(内关), Túc tam lý(足三里), Nội đình(内庭). Dự chọn: Trung quản(中脘), Tỳ du(脾俞), Can du(肝俞), Lương khâu(梁丘), Hãm cốc(陷谷).
• Phương 2: Vị du(胃俞), Nội quan(内关), Túc tam lý(足三里), Lương khâu(梁丘), Hãm cốc(陷谷). Dự chọn: Trung quản(中脘), Rốn(脐中), Tỳ du(脾俞), Can du(肝俞), Nội đình(内庭).
Trị pháp:
– Phương 1 dùng: Điểm, ấn, nã (bóp–nhón), xoa, (kỹ pháp ký hiệu ● trong bản gốc), xát, chấn. Trước điểm ấn Vị du 100 lần; nã–điểm Nội quan 100 lần; rồi điểm–xoa Túc tam lý, Nội đình mỗi huyệt 50–100 lần. Xoa bụng thuận chiều kim đồng hồ 3–5 phút; tiếp dùng “● điểm pháp” qua lại vùng lưng 5–10 lượt. Lại ấn–xoa Tỳ du, Can du, Túc tam lý… mỗi huyệt 30–50 lần. Sau đó xoa xát hai mạng sườn 5–10 lượt; dùng lòng bàn tay ấn–rung vùng bụng 5–10 lượt. Mỗi ngày điều trị 1–2 lần. Người đau dữ dội có thể trước tiên dùng lực điểm ấn Tỳ du, Vị du, Túc tam lý… đến khi đau giảm rồi theo pháp điểm huyệt nói trên.
– Phương 2 dùng: điểm, ấn, xoa, ma (xoa xoay), xát, chấn. Trước dùng lực điểm ấn Vị du 100 lần; nã–điểm Nội quan 100 lần; điểm–xoa Túc tam lý, Lương khâu, Hãm cốc hoặc Nội đình mỗi huyệt 50–100 lần; xoa bụng thuận chiều kim đồng hồ 5–10 phút. Lại dùng “phép” day qua lại dọc cột sống 5–10 lượt; điểm ấn Tỳ du, Can du… mỗi huyệt 30–50 lần. Sau đó xoa xát hai mạng sườn 5–10 lượt. Chấn (rung) Trung quản và rốn mỗi nơi 1 phút.
Chu kỳ: Mỗi ngày 1 lần (đau nhiều: ngày 2 lần), 10 ngày là 1 liệu trình. Sau khi triệu chứng giảm vẫn cần kiên trì. Người bệnh có thể tự điểm–xoa Nội quan, Túc tam lý, Lương khâu, Hãm cốc… để củng cố hiệu quả.
Chủ trị: Đau vị quản (dùng Phương 1); viêm dạ dày mạn — viêm dạ dày nông, teo, phì đại (đều dùng Phương 2).
Phụ ký: Chứng nghiệm trên lâm sàng đều có hiệu quả tốt; kiên trì điều trị ắt công hiệu. Đồng thời nên kiêng rượu thuốc lá, ít uống trà, tránh cay nóng, tránh mệt nhọc… để giúp củng cố hiệu quả.
Loét dạ dày và tá tràng(胃及十二指肠溃疡)
Sự hình thành có thể liên quan đến rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương và tác dụng tiêu hóa của axit dịch vị cùng pepsin, nên còn gọi là “loét tiêu hóa”; thuộc phạm vi “vị quản thống(胃脘痛)”, “vị tâm thống(胃心痛)”, “tâm khẩu thống(心口痛)” của Trung y; là bệnh lâm sàng thường gặp, hay tái phát.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do tình chí uất kết, ăn uống thất điều, khí trệ huyết ứ, lạc mạch tổn thương; hoặc do viêm dạ dày mạn (vị quản thống) chuyển thành.
【Chứng trạng】
Loét dạ dày: đau xuất hiện sau ăn 30–60 phút, vị trí đau hơi lệch trái vùng thượng vị, kéo dài 1–2 giờ rồi mới giảm.
Loét tá tràng: thường đau khi đói hoặc sau ăn 2–4 giờ, vị trí đau hơi lệch phải vùng thượng vị, ăn vào thì giảm.
Các cơn loét đều có tính “nhịp điệu”. Đau kèm cảm giác bị đè ép, căng trướng; có thể âm ỉ, rát bỏng hoặc dữ dội, thường mang tính chu kỳ; hay kèm buồn nôn nôn ói, ợ hơi, ợ chua; nặng có hắc phân hoặc nôn ra máu. Tại huyệt Vị du(胃俞), Cách du(膈俞), Can du(肝俞) thường có điểm ấn đau.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương 1: Vị du(胃俞), Thận du(肾俞), Đại trường du(大肠俞).
Trị pháp: thôi áp (đẩy–ấn). Cho bệnh nhân nằm sấp, người thao tác đứng bên trái; ngón cái đặt lên huyệt phía trái của bệnh nhân, ngón trỏ đặt lên huyệt đối xứng phía phải (thành cặp), lực từ nhẹ đến mạnh, theo nhịp hô hấp mà đẩy–ấn lên xuống. Mỗi huyệt 1–3 phút.
Chủ trị: Đau do loét tiêu hóa, viêm ruột thừa, viêm dạ dày, co thắt dạ dày–ruột, rối loạn chức năng dạ dày–ruột, giun đường mật, sỏi mật… Bệnh dạ dày, can, đởm: lấy Vị du, Tiểu trường du; hệ tiết niệu: Thận du; viêm ruột thừa, bệnh đại tràng: Đại trường du.
Phụ ký: Các trường hợp chỉ định phẫu thuật tuyệt đối, suy kiệt nặng, sốc, hôn mê và suy tim–phổi nặng đều chống chỉ định phương pháp này. Đây chỉ là biện pháp giảm đau. Hiệu quả giảm đau: trong 282 ca, hiệu quả rõ (hết đau ngay) 177 ca, giảm đau 98 ca, dịu đau 7 ca. Thường đang đẩy–ấn hoặc sau đó là thấy giảm đau; nếu đau tái phát có thể lặp lại phương này.
Phối huyệt phương hai: A thị huyệt(阿是穴 — tìm điểm ấn đau vùng lưng đối xứng với vị quản), Trung quản(中脘), Túc tam lý(足三里, hai bên). Loét dạ dày gia Vị du(胃俞); loét tá tràng gia Đại trường du(大肠俞).
Trị pháp: xoa ấn. Thực chứng: trước ấn sau xoa; hư chứng: trước xoa sau ấn; cương nhu kiêm thi, lực tùy thể trạng. Mỗi huyệt 5 phút, mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: loét tiêu hóa.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả rất tốt; nếu tùy chứng phối bột thuốc uống, hiệu quả càng cao.
Phối huyệt phương 3: Lương khâu(梁丘, hai bên), Trung quản(中脘), Nội quan(内关, hai bên), Công tôn(公孙, hai bên).
Trị pháp: chỉ áp. Lần lượt dùng cường độ trung bình ấn các huyệt trên (Trung quản dùng xoa ấn), mỗi huyệt 5 phút; mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: loét dạ dày, tăng toan vị.
Phụ ký: nhiều lần dùng đều hiệu nghiệm. Nếu phối “phức phương Nguyên hồ tán” tự chế uống, hiệu quả càng tốt: Diên hồ sách(延胡索), Ngư cốt(乌贼骨) mỗi vị 30 g; Ngoa lăng tử(瓦楞子), Cao lương khương(高良姜), Chế hương phụ(制香附) mỗi vị 15 g; tán mịn, mỗi lần 1,5–3 g, ngày 3 lần.
Phối huyệt phương 4: Nội quan(内关), Lương khâu(梁丘), Vị du(胃俞), Túc tam lý(足三里), Công tôn(公孙), Thái xung(太冲).
Trị pháp: tráp (掐), điểm, ấn, xoa.
– Đặt đầu ngón cái lên Nội quan, đầu ngón trỏ ở mặt lưng (tức vị trí Ngoại quan), hai ngón dùng lực tương đối nặng bấu–ấn; mỗi 20 giây thả lỏng vài giây; lặp 3–5 phút, đạt cảm giác căng nặng tại chỗ là vừa. Phép này thích hợp các trường hợp loét dạ dày–tá tràng kèm đau, nôn, ợ hơi, ợ chua.
– Dùng bụng ngón cái ấn mạnh Lương khâu; mỗi nửa phút thả lỏng 10 giây; lặp 3–5 phút, đến khi căng đau rõ — trị đau dạ dày không dứt.
– Dùng bụng ngón cái ấn Vị du, mỗi 20 giây thả lỏng vài giây; lặp 5 phút, đến khi ê căng rõ — có tác dụng giảm đau, chống co thắt.
– Dùng bụng ngón cái hoặc ngón giữa xoa ấn nhẹ Túc tam lý 3–5 phút, đến khi ê căng nhẹ — trị trướng bụng, táo bón, tiết tả.
– Đặt đầu ngón cái lên Công tôn, bốn ngón còn lại đặt trên mu bàn chân; ngón cái dùng lực tương đối nặng bấu–ấn; mỗi 20 giây thả lỏng 3–5 giây; lặp 2–3 phút, đến khi ê căng rõ — hiệu quả tốt với đau dạ dày.
– Dùng đầu ngón trỏ điểm–xung Thái xung; tăng dần lực, khoảng 200 lần/phút; kéo dài 1–2 phút, đến khi căng đau rõ — nhất thích hợp với loét dạ dày–tá tràng kèm nôn chua.
Liệu trình: mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần; 15 ngày là 1 liệu trình.
Chủ trị: loét dạ dày và tá tràng.
Phụ ký: tác giả trị 100 ca; sau 3–5 liệu trình: khỏi 51 ca, hiệu quả rõ 25 ca, có hiệu quả 21 ca, không hiệu quả 3 ca.
Chứng thần kinh dạ dày(胃神经官能症)
Là một loại của thần kinh suy nhược (thần kinh chức năng), khá thường gặp trên lâm sàng.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do rối loạn chức năng dạ dày, lại thêm tinh thần bị kích thích xấu kéo dài khiến hệ thần kinh cao cấp mất cân bằng.
【Chứng trạng】
Đau không khu trú ở vùng thượng vị, vùng vị quản có cảm giác nóng rát, ợ hơi, trào chua, chướng bụng, buồn nôn nôn ói, ăn kém, đôi khi táo bón, tiêu chảy, thậm chí toàn thân mệt mỏi… nhưng xét nghiệm thường không phát hiện dương tính.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương 1: Vị du(胃俞), Nội quan(内关), Túc tam lý(足三里), Đại trường du(大肠俞), Can du(肝俞).
Trị pháp: Thôi áp, chỉ áp. Từ trên xuống dưới, dùng bụng hai ngón cái đẩy ấn và búng nhẹ mỗi đường 5–10 lượt; rồi ấn mạnh Nội quan, Túc tam lý hai bên mỗi huyệt 3–5 phút. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: chứng thần kinh dạ dày.
Phụ ký: lâm sàng dùng nhiều, phần lớn hiệu quả.
Phối huyệt phương hai: hai bên cột sống (từ Cách du(膈俞) đến Đại trường du(大肠俞) và hai bên kẽ các mỏm gai — tổng cộng 4 đường), Trung quản(中脘), Túc tam lý(足三里, đôi).
Trị pháp: thôi áp, xoa ấn. Trước hết dọc hai bên cột sống, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, dùng hai ngón cái đẩy ấn mỗi đường 15 lượt; sau đó xoa ấn Trung quản và Túc tam lý, mỗi huyệt 5 phút. Cường độ tùy bệnh tình và thể trạng. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: chứng thần kinh dạ dày.
Phụ ký: dùng nhiều năm, đều có hiệu quả khá.
Sa dạ dày(胃下垂)
Là bệnh mạn tính. Nói chung, khi điểm thấp nhất của bờ cong nhỏ dạ dày hạ xuống dưới đường nối hai mào chậu, hoặc hành tá tràng lệch trái, gọi là sa dạ dày. Trung y không có bệnh danh này, nhưng 《Nội kinh》 có mô tả triệu chứng tương tự. Lâm sàng hay gặp ở người thể hình gầy cao.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do ăn uống quá độ làm thương Tỳ Vị; hoặc thất tình nội thương, can khí uất kết, hoành nghịch phạm vị khiến Tỳ Vị bị tổn thương; hoặc Tỳ hư thất vận, đàm thấp thủy ẩm tụ ở vị, dịch ứ lưu tích, càng ngày càng nhiều, Tỳ Vị càng hư, rốt cuộc khí hư hạ hãm, lực thăng cử suy yếu, khiến lực “Tỳ khí thăng đề” ngày một giảm, thế hạ hãm ngày một tăng, dẫn đến nội tạng sa trễ mà thành bệnh này.
【Chứng trạng】
Sa dạ dày: Vùng dạ dày lõm xuống, hạ bụng nhô ra; sau ăn thường thấy đè nặng và đầy trướng vùng vị quản, ợ hơi buồn nôn nôn ói, sôi bụng, tự cảm giác dạ dày bị sa xuống. Có đau bụng mạn, có thể kèm táo bón, tiêu chảy, chóng mặt, mệt mỏi, hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng… Khi lao động, trong bụng có cảm giác co kéo giật.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Khí hải(气海), Trung quản(中脘), Thiên khu(天枢, đôi), Túc tam lý(足三里, hai bên).
Trị pháp: Khấu kích. Dùng hai hoặc bốn ngón tay gõ nhẹ trên các huyệt nói trên 30–40 cái. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: sa dạ dày và viêm dạ dày–ruột mạn.
Phụ ký: Kiên trì điều trị có hiệu quả nhất định; Nếu phối cứu gián tiếp bằng muối tại Thần khuyết(神阙, rốn) 10–20 phút, hoặc dán thuốc tại rốn, hiệu quả càng tốt.
Phối huyệt phương hai: từ Chí dương(至阳) đến Mệnh môn(命门) cùng đường giữa các mỏm gai và hai bên cách 0,5 thốn; Vị du(胃俞), Trung quản(中脘), Khí hải(气海).
Trị pháp: Thôi áp, xoa ấn. Trước tiên trên 5 đường dọc cột sống, từ dưới lên trên, từ giữa ra hai bên, nhẹ nhàng đẩy ấn 15–30 lượt, sau đó xoa ấn Thượng quản(上脘), Khí hải, Trung quản, Túc tam lý (đôi) mỗi huyệt 5 phút; mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: sa dạ dày.
Phụ ký: cần kiên nhẫn, phải điều trị lâu dài; đồng thời xoa bóp vùng vị quản, hạ bụng và quanh rốn 10–15 phút mỗi ngày; dùng “đai nâng dạ dày” hỗ trợ sẽ nâng cao hiệu quả.
Phối huyệt phương ba — chủ huyệt: Bách hội(百会), Trung quản(中脘), Khí hải(气海), Túc tam lý(足三里); phối huyệt: Vị du(胃俞), Tỳ du(脾俞), Thận du(肾俞), Quan nguyên(关元).
Trị pháp: kích, ấn, xoa, chấn, tráp (掐), xát. Lấy Bách hội làm trung tâm, dùng đầu ngón cái khấu kích vùng đầu 3–5 phút. Ấn xoa Trung quản, Khí hải, Quan nguyên, Vị du, Tỳ du, Thận du mỗi huyệt 50–100 lần; dùng lòng bàn tay chấn rung vùng bụng 1–2 phút.
Tiếp theo dùng đầu năm ngón một tay tráp vào bờ dưới thân vị (bờ dưới dạ dày), vừa rung vừa đỡ nhấc lên — gọi là “thác pháp” (đỡ nâng); lặp 3–5 lượt. Một tay ấn giữ mỏm cùng vai của xương vai, tay kia lòng bàn tay hướng ra ngoài, từ bờ dưới xương vai chéo lên trên dùng lực tráp vào giữa xương vai và xương sườn — gọi là “tráp pháp”; mỗi bên 5 lần. Lòng bàn tay xoa bụng 3–5 phút. Ấn xoa Túc tam lý 30–50 lần. Lại dùng lòng bàn tay xát nóng hai bên lưng dọc kinh Bàng quang.
Mỗi ngày điều trị 1 lần, 1 tháng là 1 liệu trình; khi triệu chứng cải thiện có thể đổi cách ngày 1 lần.
Chủ trị: sa dạ dày.
Phụ ký: kiên trì lâu dài, chỉ có lợi. Điều trị bệnh này nên lấy thuốc làm chính, phương pháp trên làm phụ; đồng thời dùng đai nâng dạ dày, và kiên trì mỗi sáng tối hít thở sâu 10–20 lần — đây là cách đơn giản, hiệu quả để tăng cường cơ bụng, cải thiện sa dạ dày.
Co cứng cơ hoành (nấc)(膈肌痉挛〔呃逆〕)
Trong Trung y gọi “ách nghịch(呃逆)”, dân gian gọi “đánh ợ”. Do khí nghịch xung lên, trong họng nấc liên hồi, tiếng ngắn và dồn dập, khó tự chủ. Phần lớn xuất hiện đơn độc; nếu là triệu chứng kèm theo bệnh khác thì thường báo hiệu bệnh thế nặng lên.
【Nguyên nhân】
Chủ yếu do Vị khí nghịch lên (trào ngược), cõ liên quan mật thiết tới Tỳ, Thận, Can. Thường vì kích thích hàn lương quấy rối Vị khí; hoặc ăn quá vội; hoặc ẩm thực bất tiết, ăn nhiều thực phẩm sống lạnh làm tổn thương Vị khí; hoặc tình chí uất ức, Can khí phạm Vị; hoặc Tỳ Vị hư nhược, Trung khí tổn, Tỳ Vị thất hoà. Cũng có thể do Thận khí không nạp, khiến khí nghịch xung lên, động cách mà nấc liên thanh — chứng này thường nặng.
【Chứng trạng】
Nấc liên tiếp; có nhẹ có nặng. Nếu phát thoáng qua, phần nhiều nhẹ, thường không dùng thuốc cũng khỏi; nếu tái phát, kéo dài không dứt thì chứng thường nặng; nếu kèm theo bệnh khác thì càng nặng, cần thẩm tra kỹ.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Chỉ ế điểm(止呃点 — ở chỗ tai luân cước biến mất – vị trí vị huyệt, kéo về phía trước, tức điểm cơ mềm ở giữa vùng Vị và Hung tê [đối tai luân] hơi phía trên).
Trị pháp: Dùng bấu ấn (掐压). Dùng móng hai ngón cái ấn chặt “Chỉ ế điểm” 2–3 phút; thường nấc dừng ngay lúc đó. Trường hợp ngoan cố có thể phối điện châm: lấy Đản trung(膻中), Cưu vĩ(鸠尾), Nội quan(内关)…, đắc khí xong nối máy G6805, dùng sóng liên tục 15–20 phút, mức ra điện vừa sức chịu của bệnh nhân.
Chủ trị: nấc.
Phụ ký: điều trị hơn 30 ca, đều đạt hiệu quả rõ rệt.
Phối huyệt phương hai: Nội quan(内关), Túc tam lý(足三里, đều hai bên).
Trị pháp: chỉ ấn. Trước sát khuẩn quy ước tại Túc tam lý, dùng kim số 7 hút 0,5 ml atropin, tiêm riêng vào Túc tam lý trái và phải; sau đó thầy thuốc dùng ngón tay ấn Nội quan, từ nhẹ đến nặng, để bệnh nhân có cảm giác ê, căng, tê (trong ngưỡng chịu được). Đồng thời vừa ấn vừa trò chuyện, phân tán chú ý — hiệu quả càng tốt. Mỗi lần ấn Nội quan 5–10 phút, mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: nấc.
Phụ ký: thường 1 lần là khỏi, trường hợp ngoan cố 2–3 lần có hiệu. Có bệnh nhân nấc dừng hoặc giảm nhiều ngay khi tiêm thuốc.
Phối huyệt phương ba: Nội quan(内关), Ngoại quan(外关, đều hai bên).
Trị pháp: chỉ ấn. Bệnh nhân ngồi, lòng tay hướng lên, gập khuỷu 90°; người thao tác đối diện bệnh nhân, đặt hai ngón cái phẳng lên Nội quan hai bên; ngón trỏ và giữa đặt lần lượt lên Ngoại quan và phía dưới; ngón giữa đỡ hai khuỷu; sau đó ngón cái và trỏ dùng lực véo–ấn Nội/Ngoại quan, cho kích thích mạnh hoặc trung bình; đồng thời bảo bệnh nhân hít thở sâu. Mỗi lần ấn 3–5 phút; đa số mỗi ngày làm 1 lần, cá biệt 2–3 lần.
Chủ trị: co cứng cơ hoành.
Phụ ký: điều trị 30 ca: khỏi 29 (trong đó 12 ca 1 lần khỏi, 8 ca 2 lần, 5 ca 3–4 lần, 4 ca 5 lần; có 2 ca phối thuốc Trung y), không hiệu quả 1.
Phối huyệt phương bốn: Nhân nghênh(人迎, hai bên).
Trị pháp: chỉ ấn. Bệnh nhân nằm ngửa hoặc ngửa tựa; người thao tác dùng hai ngón trỏ ấn Nhân nghênh hai bên. Lực ngón trỏ cần thích đáng, không quá mạnh.
Chủ trị: nấc.
Phụ ký: điều trị 23 ca — trong đó 5 ca huyết khối não kèm nấc, 2 ca hysteria kèm nấc, 15 ca do ăn uống hoặc cảm lạnh; tuổi nhỏ nhất 7, lớn nhất 82 — đều đạt hiệu quả hài lòng, đa số 1 lần nấc ngừng. Ấn huyệt này có tác dụng thông kinh lạc, điều khí huyết, chỉ ế, nên hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương năm (lấy huyệt):
1/ Thiên đột(天突); 2) Toản trúc(攒竹), Suất cốc(率谷), Giác tôn(角孙); 3) Thiên tông(天宗); 4) Thính cung(听宫).
Trị pháp:
• Phương 1 dùng ấn: dùng bụng ngón cái ấn Thiên đột 100–200 cái; đồng thời bảo bệnh nhân nhắm mắt, niệm thầm — phần nhiều 1 lần có hiệu.
• Phương 2 dùng điểm, ấn, ép: hai đầu ngón cái điểm–ấn Toản trúc hai bên; hai bụng ngón giữa cùng lúc ấn Suất cốc hoặc Giác tôn 100–200 cái; các ngón còn lại áp sát vùng thái dương, hơi dùng lực — thường 1 lần có hiệu.
• Phương 3 dùng ấn: hai đầu ngón cái ấn mạnh Thiên tông hai bên; người bệnh đồng thời khua răng (khấu xỉ) đếm thầm 100–200 cái — 1 lần là có hiệu quả.
• Phương 4 dùng ấn: hai đầu ngón cái ấn mạnh Thính cung hai bên; người bệnh nhắm mắt, khấu xỉ đếm 100–200 cái; sau khi hết nấc tiếp tục ấn 1–3 phút để củng cố hiệu quả.
Chủ trị: nấc.
Phụ ký: lâm sàng dùng nhiều, thường 1 lần đã có hiệu quả.
Chứng tăng axit dạ dày(胃酸过多症)
Thuộc phạm vi “vị quản thống(胃脘痛)” của Trung y.
【Nguyên nhân】
Thường do ăn vội, nuốt nhanh, nhai không kỹ; hoặc do bệnh răng miệng nên nuốt khi chưa nhai kỹ làm tổn thương Tỳ Vị; hoặc Tỳ Vị hư nhược, Can khí phạm Vị; hoặc do thần kinh suy nhược, ăn quá nhiều tinh bột và đồ có hương liệu, kích thích thần kinh chi phối tiết dịch của tuyến dạ dày; cũng có khi do kinh sợ, kích thích tinh thần mà phát bệnh.
【Chứng trạng】
Ban đầu vùng dạ dày có cảm giác đè nặng, khó chịu, ợ chua, cồn cào, ợ hơi; sau đó xuất hiện đau dạ dày. Đau thường xảy ra sau ăn khoảng 2 giờ, lan ra sau lưng đến hai bả vai. Tuy vậy người bệnh thường còn thèm ăn, hay kèm táo bón. Nếu tiến triển thêm, phần nhiều dẫn đến loét dạ dày.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Lương khâu(梁丘, hai bên).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Ấn mạnh huyệt này 3–5 phút, mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: tăng axit dạ dày.
Phụ ký: dùng nhiều lần đều hiệu quả.
Phối huyệt phương hai: Dương lăng tuyền(阳陵泉, hai bên).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Ấn mạnh 3–5 phút, mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: tăng axit dạ dày.
Phụ ký: hiệu quả tốt. Nếu phối “Nguyên hồ tán” tự chế (Diên hồ sách 延胡索 15 g; Ngư cốt 乌贼骨, Ngoa lăng tử 瓦楞子 mỗi vị 5 g; tán mịn) dùng uống và dán ngoài, hiệu quả càng tốt.
– Uống: mỗi lần 3 g, ngày 2–3 lần.
– Dán ngoài: mỗi lần 2,5 g, hoà với nước gừng tươi thành hồ đặc, dán tại Thần khuyết(神阙) và Trung quản(中脘), phủ gạc, cố định bằng băng dính, mỗi ngày thay 1 lần.
Co thắt thực quản(食管痉挛)
Thuộc phạm vi “đau ngực(胸口痛)”, “khí thống(气痛)” của Trung y; nữ giới gặp nhiều hơn.
【Nguyên nhân】
Thường do hút thuốc, rượu quá độ, lao lực tinh thần – thể chất, hoặc kích thích tinh thần; cũng có thể do bệnh não–tuỷ, viêm thực quản, thần kinh suy nhược, hysteria, bệnh tử cung gây phản xạ thần kinh.
【Chứng trạng】
Đau do co thắt thực quản có tính cơn; khi nuốt thức ăn, đau càng tăng; nuốt thức ăn đặc thường dễ chịu hơn so với lỏng. Thời điểm phát, vị trí và mức độ đau không nhất định; vị trí đau lúc ở đoạn trên, lúc ở đoạn dưới của thực quản.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: hai bên khe giữa các mỏm gai đốt ngực T5–T6–T7–T8.
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Dùng hai ngón cái ấn mạnh hai bên những vị trí trên (tổng 6 điểm) mỗi điểm 3–5 phút. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: co thắt thực quản.
Phụ ký: kiên trì điều trị, hiệu quả khá tốt.
Phối huyệt phương hai: Phong trì(风池), Đại trữ(大杼), Phế du(肺俞), Đản trung(膻中), Thượng quản(上脘), Khí hải(气海), Trung cực(中极), Khúc trạch(曲泽), Túc tam lý(足三里), Tam âm giao(三阴交).
Trị pháp: chỉ ấn, chấn rung, xoa ấn, điểm huyệt. Mỗi lần chọn 4–5 huyệt, luân phiên thực hiện. Tại các huyệt liên quan tiến hành ấn, xoa, rung, điểm mỗi huyệt 1,5–3 phút. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần.
Chủ trị: co thắt thực quản.
Phụ ký: lâm sàng chứng nghiệm, nếu kiên trì thì hiệu quả rất tốt.
Phối huyệt phương ba: Thiên trụ(天柱), Kiên tỉnh(肩井), Quyết âm du(厥阴俞), Ngọc đường(玉堂), Cự khuyết(巨阙), Quan nguyên(关元), Nội quan(内关), Địa cơ(地机).
Trị pháp: chỉ ấn, chấn rung. Lần lượt ấn mạnh các huyệt trên mỗi huyệt 1,5–3 phút; mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần.
Chủ trị: co thắt thực quản.
Phối huyệt phương bốn: Dương khê(阳溪), Tam gian(三间), Gian sử(间使), Thiên đột(天突).
Trị pháp: chỉ ấn, chấn rung. Ấn mạnh phối chấn rung các huyệt trên, mỗi huyệt 3–5 phút; mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần.
Chủ trị: co thắt thực quản và cảm giác nghẹn khí ở yết hầu.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả hài lòng.
Co thắt dạ dày(胃痉挛)
Là một triệu chứng thứ phát trong các bệnh khác (như viêm dạ dày cấp–mạn, loét dạ dày và tá tràng, chứng thần kinh dạ dày…). Trung y không có bệnh danh riêng, đa phần quy vào phạm vi “vị quản thống(胃脘痛)”.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do bài tiết axit dịch vị quá mức kích thích niêm mạc dạ dày, dẫn đến co thắt cơ trơn. Thường được cho là liên quan đến lạm dụng thuốc lá, trà, rượu; hoặc kích thích do bệnh cơ quan sinh dục nữ, rối loạn kinh nguyệt, mang thai…
【Chứng trạng】
Đau bụng dữ dội đột ngột, đau như khoan, như châm, như bỏng, như xoắn. Người bệnh hay co tay hoặc dùng nắm đấm ấn mạnh vào bụng để giảm đau. Đau thường lan lên ngực trái, bả vai trái, vùng lưng. Đồng thời cơ bụng cũng co rút; có thể kèm buồn nôn, nôn; nặng thì mặt tái, tay chân lạnh, mồ hôi lạnh vã, thậm chí bất tỉnh. Thường sau vài phút đến vài giờ, ợ hơi hoặc nôn xong thì đỡ. Có thể phát nhiều lần trong ngày, hoặc vài ngày–vài tháng mới phát một lần.
【Liệu pháp】Phối huyệt phương một: A thị huyệt(阿是穴, vùng phụ cận Trung quản(中脘), tương ứng môn vị trên giải phẫu).
Trị pháp: chỉ áp. Sờ tìm điểm đau nhất ở bụng (tức A thị huyệt), rồi dùng bụng ngón cái phải, từ nhẹ đến nặng ấn 30 giây; tiếp tục luân phiên ấn nhẹ–nặng 3 lần, mỗi lần 0,5–1 phút; kết thúc bằng một lần ấn mạnh 1 phút. Sau đó cho người bệnh đứng đối diện tường, thực hiện: hít sâu – nín thở – thở ra – nín thở, lặp 3 lần.
Chủ trị: co thắt dạ dày.
Phụ ký: phối liệu pháp hô hấp điều trị 160 ca, đều được chỉ áp trong 10 phút–2 giờ sau khởi phát. Kết quả: khỏi hẳn 117 ca (đau, nôn, buồn nôn hết, tự thấy không còn khó chịu); cải thiện 31 ca (đau và triệu chứng giảm rõ, chịu được; buồn nôn, nôn hết); không hiệu quả 12 ca. Bệnh nhân co thắt dạ dày đơn thuần, đình trệ thức ăn đáp ứng tốt hơn. Thủ pháp không chỉ giải co thắt, giảm đau, mà với một số co thắt dạ dày đơn thuần còn có thể chữa khỏi. Trường hợp đau do bệnh nguyên khác cần trị căn nguyên. Chống chỉ định ở tổn thương thực thể nặng như ung thư dạ dày, xuất huyết lớn do loét tiêu hóa.
Phối huyệt phương hai: Trung quản(中脘).
Trị pháp: điểm huyệt. Dùng ngón tay điểm ấn Trung quản 50–100 cái, rồi xoa bóp tại chỗ 5 phút.
Chủ trị: co thắt môn vị.
Phụ ký: điều trị 110 ca; dưới chiếu X-quang có uống baryt thấy tất cả sau điểm ấn nhu động dạ dày tăng; 94 ca tăng tần số và tốc độ sóng, co thắt môn vị được giải, baryt qua môn vị vào ruột non; 12 ca sau 3–5 lần điểm ấn kèm ấn–đẩy thì baryt qua môn vị; còn 4 ca không qua được.
Phối huyệt phương ba: Túc tam lý(足三里), Công tôn(公孙), Lệ đoài(厉兑) — đều hai bên.
Trị pháp: chỉ áp. Dùng hai ngón cái ấn mạnh các huyệt trên, mỗi huyệt 5 phút. Mỗi ngày 1 lần, đến khi khỏi.
Chủ trị: cơn co thắt dạ dày.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả khá tốt, đa số 1 lần đã thấy hiệu.
Phối huyệt phương bốn: Nội quan(内关), Lương khâu(梁丘), Vị du(胃俞), Túc tam lý(足三里), Công tôn(公孙), Thái xung(太冲), Thiên khu(天枢), Đại hoành(大横).
Trị pháp: tráp (掐), ấn, xoa, ép.
– Đặt đầu ngón cái lên Nội quan, đầu ngón trỏ ở mặt lưng (vị trí Ngoại quan), hai ngón đối lực bấu–ấn; mỗi 20 giây thả lỏng vài giây; lặp 3–5 phút, đến khi tại chỗ có cảm giác căng nặng — hợp trị loét dạ dày–tá tràng kèm đau, nôn, ợ hơi, trào chua.
– Dùng bụng ngón cái ấn mạnh Lương khâu; mỗi nửa phút thả lỏng 10 giây; lặp 3–5 phút, đến khi căng đau rõ — thường dùng khi đau dạ dày không dứt.
– Dùng bụng ngón cái ấn Vị du; mỗi 20 giây thả lỏng vài giây; lặp 5 phút, đến khi ê căng — có tác dụng giảm đau, chống co thắt.
– Dùng bụng ngón cái hoặc ngón giữa xoa ấn nhẹ Túc tam lý 3–5 phút, đến khi ê căng nhẹ — trị trướng bụng, tiêu chảy…
– Đặt đầu ngón cái lên Công tôn, bốn ngón còn lại ở mu bàn chân, ngón cái dùng lực tương đối nặng bấu–ấn; mỗi 20 giây thả lỏng 3–5 giây; lặp 2–3 phút, đến khi ê căng rõ — hiệu quả tốt với chứng đau dạ dày.
– Dùng đầu ngón trỏ điểm–xung ấn Thái xung; tăng dần lực, khoảng 200 lần/phút; 1–2 phút, đến khi căng đau rõ — đặc biệt hợp với loét dạ dày–tá tràng kèm nôn chua.
– Đặt bụng hai ngón cái lên Thiên khu hoặc Đại hoành để ấn dò; lực tương đối nặng, duy trì 2–3 phút, giữa chừng có thể thả lỏng vài lần; đến khi ê căng rõ — hợp với co thắt ruột.
Mỗi ngày điều trị 1 lần, 5 ngày là 1 liệu trình.
Chủ trị: co thắt dạ dày–ruột.
Phụ ký: dùng nhiều lần đều hiệu quả; điều trị lâu dài hiệu quả càng tốt.
Co thắt ruột(肠痉挛)
Còn gọi là đau quặn ruột(肠绞痛).
【Nguyên nhân】
Thường do bị lạnh kích thích; hoặc do thần kinh suy nhược, lao tủy xương; sốt rét, ngộ độc chì, bệnh gút, kinh nguyệt không đều, ký sinh trùng đường ruột… cũng có thể khởi phát.
【Chứng trạng】
Đau bụng. Trước khi đau có đầy hơi, sôi bụng, đau tăng dần; cũng có khi phát đột ngột, đau như xoắn, như châm chích, phần nhiều ở quanh rốn, lan ra thắt lưng, tứ chi, các khớp. Ấn vùng rốn người bệnh thấy dễ chịu. Sau vài phút đến vài giờ, đau dần giảm; hoặc sau khi nôn, ợ hơi thì triệu chứng có thể mất.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Cấp mạch huyệt(急脉穴, ở vùng bẹn, lệch về phía trong so với đường giữa; ấn có thể sờ thấy mạch đùi đập, mỗi bên 1 huyệt).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Thường lấy huyệt cùng bên với bên đau; nếu đau cả hạ bụng, có thể dùng cả hai bên. Bệnh nhân nằm ngửa, duỗi thẳng hai chân; người thao tác dùng ngón cái ấn vào huyệt, từ từ tăng lực, đến khi cảm giác kiểu lấp ló như có nhịp mạch đập lại như không thì là thích hợp. Ấn khoảng 10 giây rồi thả lỏng, lại ấn rồi thả; mỗi lần thả lỏng, bệnh nhân cảm thấy có luồng nóng từ huyệt lan xuống gối hoặc tới bàn chân.
Chủ trị: co thắt ruột.
Phụ ký: tác giả điều trị 25 ca, đều ấn một lần là hết đau, thường không quá 5 phút đã có hiệu quả. Ví dụ một nữ 50 tuổi đau dữ dội hạ bụng do co thắt ruột, điều trị theo phương pháp trên, cơn đau hết; điều trị 8 lần thì khỏi, theo dõi 2 năm không tái phát.
Phối huyệt phương hai: Túc tam lý(足三里).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Ấn mạnh một hoặc hai bên Túc tam lý 4–5 phút; hoặc sau khi ấn thì cứu bằng ngải điếu vài phút là có hiệu.
Chủ trị: co thắt ruột.
Phụ ký: Có lần chúng tôi đi tàu từ Thái Nguyên về Bắc Kinh, khoảng 2 giờ sáng nghe tiếng run cầm cập và rên khẽ ở giường trên. Hóa ra một hành khách mang thai 3 tháng lên tàu thì đau bụng dữ dội, có bác sĩ chẩn đoán do dọa sảy, định đến ga Phong Đài sẽ vào viện. Khám và xem xét, tôi cho rằng là co thắt ruột chứ không phải dọa sảy, liền ấn huyệt Túc tam lý một bên; sau bốn–năm phút, bệnh nhân không còn rên. Mời chị xuống giường dưới để tiếp tục, chị sợ vận động nhiều dễ sảy nên không muốn xuống; chúng tôi trấn an, giải thích chủ yếu do bị lạnh gây co thắt ruột, không phải sảy thai, đừng lo. Xuống giường dưới, tiếp tục ấn Túc tam lý và cho uống trà nóng. Nửa giờ sau, chị hết đau hoàn toàn. Sau đó cứu bằng điếu thuốc lá (hơ) vài phút ở Túc tam lý hai bên. Cuối cùng khuyên chị xuống đi lại, chị lảo đảo đi vài bước, rồi mới mỉm cười vui vẻ.
Đau bụng(腹痛)
“Đau bụng” ở đây chỉ toàn bộ vùng dưới rốn đến trên xương mu xuất hiện đau; là bệnh thường gặp trên lâm sàng, nam nữ, già trẻ đều có thể mắc. Có thể xuất hiện đơn độc hoặc thứ phát trong bệnh khác.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do ngoại cảm phong, hàn, thử, thấp; hoặc ăn nhiều thực phẩm sống lạnh làm thương tổn do ăn uống; hoặc tình chí thất thường khiến khí trệ huyết ứ; hoặc do bệnh khác gây nên.
【Chứng trạng】
Đau bụng. Vị trí bệnh chia đại phúc, tiểu phúc, thiếu phúc; chứng có hàn, nhiệt, hư, thực — cần biện chứng kỹ để trị.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: hai bên ngoài 1,5 thốn ở khe giữa gai sau đốt ngực 9–10 (tương đương Can du(肝俞), Đởm du(胆俞)).
Trị pháp: chỉ ấn. Ở các vị trí trên, hoặc tìm điểm ấn đau (điểm phản ứng) giữa Cách du(膈俞) và Đởm du(胆俞), dùng ngón cái và ngón trỏ, hoặc hai ngón cái áp sát huyệt, ấn trượt xoa bóp, trước nhẹ sau nặng, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác chua, tê, căng. Sau 3–5 phút, cơn đau có thể giảm hoặc hết.
Chủ trị: đau bụng cấp.
Phụ ký: dùng phương này trị 20 ca đau bụng cấp do giun đường mật, giun ruột, viêm tụy cấp, đau dạ dày… đều đạt giảm đau hoặc hết đau.
Phối huyệt phương hai: Thừa sơn(承山).
Trị pháp: chỉ ấn. Bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng; người thao tác tay phải nắm phần dưới cẳng chân người bệnh (nam bên trái, nữ bên phải), ngón cái ấn huyệt — trước nhẹ sau nặng, trước mềm sau cứng, trước nông sau sâu — đến khi người bệnh cảm thấy căng tức rõ ở huyệt thì ngón cái ấn mạnh sâu; đồng thời bảo bệnh nhân dùng thở bụng, hít sâu một hơi (tới mức tối đa), dừng khoảng nửa phút rồi từ từ thở ra, ngón cái theo đó dần buông lỏng; sau đó xoa nhẹ huyệt vài lần thì đau dừng. Cần thiết có thể lặp lại 1 lần.
Chủ trị: đau bụng do nhiều nguyên nhân; kiêm trị nấc.
Phụ ký: thường đạt hiệu quả rõ rệt; đa số 1 lần là hết đau, nhiều nhất 2 lần tất có hiệu quả. Pháp này chỉ để cầm đau; sau khi hết đau cần trị theo căn nguyên. Khi thao tác, người già yếu, phụ nữ, trẻ em không nên dùng lực quá mạnh. Phụ nữ có thai cấm dùng.
Phối huyệt phương ba: từ Phế du(肺俞) đến Thận du(肾俞), tức hai bên các khe giữa gai sau từ đốt ngực 3 đến đốt thắt lưng 2.
Trị pháp: thôi ấn, xoa ấn. Bệnh nhân nằm sấp.
Bước 1: hai ngón cái dọc hai bên cột sống, từ trên xuống dưới, đẩy ấn 3–5 lượt;
Bước 2: lòng bàn tay phải ấn vùng hai bên các mỏm gai, từ trên xuống dưới, xoa ấn theo chiều kim đồng hồ;
Bước 3: dọc tuyến từ Thận du lên Phế du, từ trên xuống dưới, nâng–kéo da lưng.
Mỗi lần 25–30 phút.
Chủ trị: đau bụng cấp.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả hài lòng.
Phối huyệt phương bốn: Túc tam lý(足三里).
Trị pháp: chỉ bấu ấn (指掐). Khi đau, dùng ngón cái bấu ấn một bên Túc tam lý 3–5 phút thì hết đau; cần thiết thì bấu ấn tiếp bên còn lại.
Chủ trị: đau bụng cấp.
Phụ ký: dùng nhiều hiệu quả tốt, đa số 1–2 lần là hết đau.
Phối huyệt phương năm: Thượng cự hư(上巨虚, đôi), Thiên khu(天枢, đôi).
Trị pháp: chỉ ấn. Hai ngón cái thao tác đồng thời, ấn mạnh mỗi huyệt 3–5 phút. Mỗi ngày 1 lần tới khi khỏi.
Chủ trị: đau bụng cấp do viêm đại tràng.
Phụ ký: thường nghiệm, hiệu quả rất tốt.
Phối huyệt phương sáu: A thị huyệt(阿是穴 — điểm ấn đau), Trung quản(中脘), Túc tam lý(足三里), Tam âm giao(三阴交), Thương khúc(商曲).
Trị pháp: chỉ ấn. Lần lượt ấn mạnh từng huyệt 3–5 phút, ngày 3 lần.
Chủ trị: đau bụng do khí trệ huyết ứ, ấn vào bụng thì tránh (không chịu được ấn).
Phụ ký: thường 1~3 lần thấy hiệu.
Chướng bụng(腹胀)
Chướng bụng đơn thuần ít gặp; phần nhiều xuất hiện trong các bệnh khác (như viêm ruột cấp, bệnh gan, bệnh dạ dày, trẻ em cam tích, sau mổ…), hoặc đi kèm đau bụng.
【Nguyên nhân】
Nguyên nhân khá phức tạp, phần nhiều liên quan đến bệnh mạn tính cũ hoặc sau mổ. Thường do thấp nhiệt, thực tích, khí trệ — phần nhiều thuộc thực chứng; cũng có chướng do hư lâu ngày. Đại lược: sau ăn mà trướng nặng thì phần nhiều ở dạ dày–ruột; nếu đại tiểu tiện điều hòa thì trướng phần nhiều thuộc tạng.
【Chứng trạng】
Chướng bụng, lúc nhẹ lúc nặng; hoặc sau ăn trướng nặng; hoặc gặp biến đổi tình chí thì tăng; đánh rắm thì hơi dễ chịu; có thể đi kèm đau bụng. Chướng bụng thường có kiêm chứng, nhưng thường nhẹ hơn đau bụng.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Kiến lý(建里), Thượng quản(上脘), Thiên khu(天枢, đôi), Túc tam lý(足三里, đôi).
Trị pháp: chỉ ấn, khấu kích. Trước dùng ngón trỏ hoặc 5 ngón gõ lên 3 huyệt đầu với tần số 80–150 lần/phút; sau đó ấn mạnh Túc tam lý hai bên 3–5 phút. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: chướng bụng, sôi ruột; kiêm trị tiêu hóa kém.
Phụ ký: liên tục khoảng 5 lần là hiệu rõ hoặc hết.
Phối huyệt phương hai: Thượng cự hư(上巨虚, đôi), Trung xu(中枢, đôi), Giải khê(解溪, đôi).
Trị pháp: chỉ ấn, chấn rung. Trước ấn mạnh Thượng cự hư hai bên 1–2 phút, rồi thêm chấn rung (trước ấn sau rung) khoảng 3 phút; tiếp theo chỉ ấn Trung xu 3 phút. Cần thiết có thể lặp 1 lần. Trong thao tác có thể phối hợp phương pháp thở.
Chủ trị: chướng bụng.
Phụ ký: lâm sàng thường hiệu quả.
Phối huyệt phương ba: Thiên khu(天枢, đôi), Thượng cự hư(上巨虚, đôi).
Trị pháp: gõ, chỉ ấn. Trước ấn sau gõ, mỗi huyệt 5 phút, ngày 2 lần, đến khi khỏi.
Chủ trị: chướng bụng sau mổ vùng bụng.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả rất tốt.
Phối huyệt phương bốn: vòng quanh rốn cách 2 thốn, Túc tam lý(足三里).
Trị pháp: gõ, chỉ ấn. Trước dùng 4 ngón tay gõ vòng quanh rốn ở vành 2 thốn 5 vòng, tần số 100 lần/phút; rồi ấn mạnh Túc tam lý hai bên 3–5 phút đến mức đắc khí. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: các loại chướng bụng.
Phụ ký: dùng nhiều năm, đa số 1 lần đã hiệu, nhiều ca khỏi hẳn.
Ợ hơi, xì hơi(嗳气、矢气)
Ợ hơi và xì hơi (phóng khí) là hai triệu chứng khác nhau, có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời. Thỉnh thoảng hoặc sau phẫu thuật xuất hiện thì là biểu hiện mạch khí thông suốt, thuộc hiện tượng sinh lý, không coi là bệnh lý. Nếu ợ hơi liên tục, hoặc xì hơi dồn dập, thì là phản ứng bệnh lý; tuy không nghiêm trọng, nhưng ảnh hưởng thân tâm và môi trường, nên điều trị.
【Nguyên nhân】
Thường do ăn quá no, lên men thức ăn bất thường làm rối loạn chức năng dạ dày–ruột; hoặc Can khí phạm Vị, Can Vị bất hòa, khí cơ nghịch.
【Chứng trạng】
Ợ hơi liên tiếp, hoặc xì hơi không dứt.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Trung quản(中脘).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Phối hợp phép thở: vừa thở ra vừa ấn mạnh Trung quản 6 giây, lặp 3–5 lần.
Chủ trị: ợ hơi liên tục.
Phụ ký: dùng trên lâm sàng, hiệu quả rõ rệt.
Phối huyệt phương hai: Chỉ thí huyệt(止屁穴, ở hai bên cạnh đầu dưới của bờ sườn dưới, ngay dưới vú).
Trị pháp: dùng nhu(揉) ấn. Từ hai bên bờ sườn dưới ấn vuốt hướng xuống bụng: chậm rãi thở ra, đồng thời ấn 6 giây, lặp 3 lần là hiệu.
Chủ trị: xì hơi (xì hơi to tiếng hoặc liên tiếp).
Viêm ruột cấp–mạn(急慢性肠炎)
Thuộc phạm vi “tiết tả(泄泻)/phúc tả(腹泻)” của Trung y; là bệnh thường gặp quanh năm ở mọi lứa tuổi.
【Nguyên nhân】
Thường do thấp tà xâm nhập, hàn lương phạm trong, thương tổn do ăn uống, tình chí thất điều, Tỳ Vị hư nhược, mệnh môn hỏa suy… Bệnh ở ruột–dạ dày, nhưng liên quan Can Thận.
【Chứng trạng】
Đau bụng, sôi ruột, đi tiêu nhiều lần (mỗi ngày vài lần đến hơn chục lần), phân lỏng, thậm chí như nước, nhưng không có mủ máu và triệu chứng mót rặn. Ngoại cảm, thương thực thường là viêm ruột cấp, phát bệnh đột ngột; Tỳ Thận bất túc thường là viêm ruột mạn, tái phát dai dẳng, lâu ngày không khỏi.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Tam gian(三间, hai bên), Âm lăng tuyền(阴陵泉, hai bên).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Hai ngón cái ấn mạnh mỗi huyệt 3–5 phút. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: tiêu chảy, sôi ruột.
Phụ ký: đã dùng nhiều năm, đều thu được hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương hai: Thiên khu(天枢, hai bên), Trung quản(中脘), Khí hải(气海), Túc tam lý(足三里, hai bên).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Dùng ngón cái ấn mạnh lần lượt các huyệt trên, mỗi huyệt 5 phút. Khi thao tác nên một ấn một nhả, cương nhu phối hợp. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: viêm ruột cấp–mạn.
Phụ ký: lâm sàng cho hiệu quả tốt; đồng thời đối với đau bụng, kiết lỵ và liệt ruột cũng có hiệu quả khá.
Phối huyệt phương ba: Hạ cự hư(下巨虚, đôi). Kèm chọn: tiêu chảy do tiêu hóa kém thêm Trung quản(中脘), Quan nguyên(关元); viêm ruột cấp thêm Thiên khu(天枢, hai bên).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Tại huyệt chính và huyệt phối hợp, dùng hai ngón cái ấn mạnh 3–5 phút, khi ấn có lắc rung vài cái. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: viêm ruột cấp và tiêu chảy nước do tiêu hóa kém.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả khá. Nếu thuộc hàn chứng, có thể cứu tại Quan nguyên(关元), Thần khuyết(神阙) 10–15 phút, hiệu quả càng tốt.
Phối huyệt phương bốn
Chủ huyệt: Trung quản(中脘), Thần khuyết(神阙), Đại trường du(大肠俞), Thượng cự hư(上巨虚), Hạ cự hư(下巨虚)。
Phối huyệt: Bách hội(百会), Khí hải(气海), Tỳ du(脾俞), Vị du(胃俞), Thận du(肾俞), Túc tam lý(足三里)。
Trị pháp: dùng các thủ pháp rung (振), xoa (摩), điểm (点), nắn–xoa (揉), đẩy (推), ấn (按), véo–nhéo (捏). Trước hết chồng hai lòng bàn tay ấn lên bụng, kèm rung chấn 1 phút, rồi bất ngờ nhấc hai bàn tay lên; cứ một ấn một nhả, lặp 5–10 lần. Xoa bụng ngược chiều kim đồng hồ khoảng 10 phút. Sau đó điểm–xoa Trung quản, Khí hải, Quan nguyên mỗi huyệt 30–50 lần. Tiếp theo đẩy các cơ vùng lưng, thắt lưng, trọng điểm phối hợp ấn–xoa các huyệt Tỳ du, Vị du, Đại trường du, Thận du trong 3–5 phút. Dùng gốc lòng bàn tay ấn–xoa vùng thắt lưng–cùng 2–3 phút, đồng thời dùng mô út (tiểu ngư tế) từ xương cùng cụt dọc theo cột sống xoa–đẩy lên trên, đến khi nóng ấm là được. Dùng ngón cái và ngón trỏ véo chặt cơ vùng xương cùng cụt, một nhả một véo, dần dần di chuyển lên đến huyệt Đại chùy(大椎), lặp 5–10 lần. Sau đó ấn–xoa Túc tam lý, Thượng cự hư, Hạ cự hư mỗi huyệt 30–50 lần. Đồng thời chà xát lên–xuống mặt trong đùi và cẳng chân đến khi nóng ấm. Người bị tiêu chảy kéo dài không dứt thì thêm điểm–xoa Bách hội 100 lần. Mỗi ngày trị 1–2 lần, 5 ngày là 1 liệu trình. Người bệnh sáng và tối mỗi ngày có thể tự dùng một bàn tay xoa bụng theo chiều ngược kim đồng hồ, mỗi lần 100 vòng, xoa nhiều càng tốt.
Chủ trị: tiêu chảy (viêm ruột cấp, mạn).
Phụ ký: ① Tác giả dùng phương này trị 50 ca tiêu chảy, sau 2–5 liệu trình: khỏi hẳn 31 ca, hiệu quả rõ 12 ca, có hiệu quả 6 ca, không hiệu quả 1 ca. ② Trong thời gian điều trị, bệnh nhân nên giữ ấm, kiêng đồ sống lạnh và thức ăn khó tiêu, tránh lao lực quá độ…
Phối huyệt phương năm
Thiên khu(天枢), Hợp cốc(合谷), Túc tam lý(足三里), Âm lăng tuyền(阴陵泉), Đại hoành(大横), Quan nguyên(关元)。
Trị pháp: dùng ấn, xoa, nhéo. Trước hết đặt bụng hai ngón cái lên huyệt Thiên khu: viêm ruột cấp dùng phép ấn dò (扪按), lực tương đối mạnh, ấn 2–3 phút, giữa chừng thả lỏng vài lần; viêm ruột mạn dùng phép xoa ấn (揉按), lực nhẹ hơn, xoa ấn liên tục 5 phút. Đặt đầu ngón cái lên Hợp cốc, đầu ngón trỏ ở mặt lưng huyệt này, hai ngón dùng lực nhéo–ấn; mỗi 20 giây thả lỏng vài giây, lặp nhiều lần đến khi tại chỗ có cảm giác nặng rõ rệt. Tiếp theo dùng đầu ngón giữa với lực ôn hòa ấn dò Túc tam lý; mỗi nửa phút thả lỏng 10 giây, lặp nhiều lần, lấy cảm giác ê căng tại chỗ làm chuẩn. Lại dùng ngón trỏ hoặc ngón cái ấn dò Âm lăng tuyền, lực hơi mạnh; mỗi nửa phút thả lỏng 10 giây, lặp 2–3 phút, đến khi ê căng rõ. Dùng bụng ngón cái xoa–ấn Đại hoành với lực trung bình; mỗi nửa phút thả lỏng 5 giây, xoa–ấn khoảng 5 phút, lấy cảm giác căng nhẹ tại chỗ làm chuẩn. Pháp này đặc biệt thích hợp trị bụng đau, tiêu chảy. Sau đó dùng bụng ngón giữa hoặc ngón cái xoa–ấn Quan nguyên với lực trung bình; xoa khoảng 1 phút rồi chuyển sang ấn dò (扪按) với lực mạnh hơn, ấn 20 giây rồi thả lỏng 5–10 giây, lại ấn lần nữa như trước; có thể lặp lại nhiều lần kỹ thuật “xoa–ấn xen kẽ”, đến khi có cảm giác ê căng rõ là được. Pháp này đặc biệt thích hợp với viêm ruột mạn kéo dài không khỏi.Liệu trình: mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 5–10 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: viêm ruột cấp, mạn. Phụ ký: qua lặp lại kiểm chứng lâm sàng, hiệu quả xác đáng. Chỉ cần kiên trì và thao tác đúng, đều thu được hiệu quả tốt.
Lỵ tật(痢疾)
Còn gọi “trệ hạ”, “tràng tích”. Danh xưng trong Tây y tương đồng với cách gọi “lỵ tật” trong 《Tế Sinh Phương》. Bệnh thường phát vào mùa hạ–thu, là bệnh truyền nhiễm đường ruột.
【Nguyên nhân】
Căn cứ biểu hiện lâm sàng, tuy chia “xích lỵ”, “bạch lỵ”, “xích bạch lỵ”, nhưng đều do thấp nhiệt gây hại, hoặc kiêm thử thấp nhiệt độc. Phần nhiều vì ăn uống thất thường hoặc không sạch, làm thương tổn Tỳ Vị, thấp nhiệt hun đốt, khí huyết ngưng trệ hóa thành mủ máu. Tuy cũng có hư hàn, nhưng tất do thể chất vốn hư yếu, lỵ kéo dài, hàn lương quá mức, từ thấp nhiệt chuyển thành hư hàn. Lỵ mới mắc thì quyết không phải hư hàn.
【Chứng trạng】
Đi lỵ nhiều lần nhưng không thông suốt, mót rặn (lý cấp hậu trọng), phân nhầy đỏ trắng. Đỏ nhiều gọi “xích lỵ”, trắng nhiều gọi “bạch lỵ”, đỏ trắng lẫn gọi “xích bạch lỵ” — phần nhiều thuộc thấp nhiệt. Nếu đi phân loãng, nhầy trắng, mùi tanh hôi, tứ chi quyết lạnh, tuy có mót rặn nhưng không rõ, mạch tế nhược — thuộc hư hàn.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Túc tam lý(足三里), Thiên khu(天枢), Đại trường du(大肠俞, đều lấy hai bên).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Hai ngón cái ấn mạnh lần lượt các huyệt, mỗi huyệt 3–5 phút. Mỗi ngày 1 lần; sau khi triệu chứng giảm thì cách ngày 1 lần.
Chủ trị: lỵ tật.
Phụ ký: lâm sàng thường có hiệu quả.
Phối huyệt phương hai: Đại trường du(大肠俞, đôi), Túc tam lý(足三里, đôi), Thiên khu(天枢, đôi), Trung quản(中脘), Khí hải(气海).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Dùng một hoặc hai ngón cái hay ngón trỏ ấn mạnh các huyệt trên, mỗi huyệt 1.5–3 phút; cần thiết có thể lặp lại 1 lần. Mỗi ngày điều trị 1 lần.
Chủ trị: lỵ tật; kiêm trị viêm ruột.
Phụ ký: đã dùng nhiều năm, hiệu quả khá.
Phối huyệt phương ba: Thiên khu(天枢), Hợp cốc(合谷), Khí hải(气海), Thượng cự hư(上巨虚), Khúc trì(曲池).
Trị pháp: dùng ấn, xoa, nhéo, điểm, ép. Trước dùng bụng ngón cái xoa ấn Thiên khu, lực nhẹ, xoa liên tục 3–5 phút rồi chuyển sang ấn dò (扪按) với lực hơi mạnh: ấn nửa phút, thả 10 giây, lặp 7–10 lần, lấy cảm giác căng nhẹ tại chỗ làm chuẩn. Đặt bụng ngón cái lên Hợp cốc, bụng ngón trỏ ở mặt lưng huyệt, hai ngón dùng lực nhéo ấn; mỗi 20 giây thả 5 giây, lặp 3–5 phút, đến khi ê căng rõ. Dùng bụng ngón trỏ xoa ấn Khí hải với lực hơi mạnh 3–5 phút, rồi đổi sang điểm–xung ấn 2–3 phút, tạo cảm giác ê căng mạnh — thích hợp bụng đau dữ, có tác dụng đạo trệ, hành khí, chỉ thống. Dùng bụng ngón giữa ấn mạnh Thượng cự hư; mỗi 20 giây thả vài giây; lặp 3–5 phút đến khi ê căng đau rõ rệt. Sau đó dùng đầu ngón cái ấn mạnh Khúc trì; mỗi nửa phút thả vài giây; lặp 3–5 phút, đến khi có cảm giác nặng tại chỗ — thích hợp kèm sốt.
Liệu trình: mỗi ngày 1 lần, 5 ngày là 1 liệu trình.
Chủ trị: lỵ do vi khuẩn.
Phụ ký: tác giả trị 35 ca, 1–2 liệu trình: khỏi 27, hiệu quả rõrệt 3, có hiệu 4, vô hiệu 1.
Viêm dạ dày–ruột cấp(急性胃肠炎)
Trung y gọi “thượng thổ hạ tả”, viết tắt “thổ tả”.
【Nguyên nhân】
Thường do ăn uống không sạch, ăn quá nhiều đồ sống lạnh; như ăn thực phẩm ôi thiu, có độc, kích thích hoặc khó tiêu. Vị dương tổn thương thì nôn, Tỳ dương tổn thương thì tả.
【Chứng trạng】
Ban đầu đầy trướng và đau vùng vị quản, dần dần đau kịch liệt ở bụng; tiếp đó nôn thức ăn chua ôi và tiêu phân lỏng, trong phân có lẫn bã thức ăn chưa tiêu. Nếu hốc mắt lõm, tinh thần mệt lả thì bệnh nguy.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Xích trạch(尺泽), Ủy trung(委中, đều lấy hai bên).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Ấn mạnh từng huyệt 5 phút; cần thiết có thể lặp 1 lần, hoặc sau ấn chích tam lăng châm cho ra ít máu.
Chủ trị: thổ tả.
Phụ ký: Đã dùng nhiều năm, thường cho hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương hai: Khúc trạch(曲泽), Ủy trung(委中, đều hai bên).
Trị pháp: chỉ ấn phối hợp chích huyết. Ấn mạnh mỗi huyệt 1.5–3 phút, rồi dùng tam lăng châm điểm chích ra ít máu.
Chủ trị: Thử (nắng) ôn cao nhiệt, thượng thổ hạ tả.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả rất tốt.
Phối huyệt phương ba: Túc tam lý(足三里, đôi), Thiên khu(天枢, đôi), Trung quản(中脘), Khí hải(气海).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Hai ngón cái ấn mạnh lần lượt các huyệt trên, mỗi huyệt 3–5 phút. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: viêm dạ dày–ruột cấp, mạn; kiêm trị tiêu hóa kém.
Phụ ký: dùng nhiều năm, đa số 1 lần có hiệu, trị lâu hiệu càng tốt.
Phối huyệt phương bốn: Hợp cốc(合谷, đôi), Thượng quản(上脘), Thiên khu(天枢, đôi), Túc tam lý(足三里, đôi), Đại trường du(大肠俞, đôi).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Theo thứ tự “tay–chân → bụng–lưng”, ấn mạnh từng huyệt 1.5–3 phút; cần thiết lại xoa ấn 1 lần. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: viêm dạ dày–ruột cấp, mạn.
Phụ ký: lâm sàng xác nhận hiệu quả tốt.
Viêm túi mật, sỏi mật(胆囊炎、胆石症)
Viêm túi mật và sỏi mật gồm thể cấp và mạn, phần nhiều thuộc các phạm vi “hiếp thống(胁痛)”, “hoàng đản(黄疸)”, “kết thạch(结石)” trong Trung y; là bệnh thường gặp.
【Nguyên nhân】
Đởm phụ thuộc Can, biểu lý tương quan. Đởm dịch là phần dư khí tàng ở Can trút vào túi mật mà tích tụ. Can thất sơ tiết, Tỳ thất kiện vận có thể dẫn đến khí trệ huyết ứ, thấp nhiệt uất kết, khiến túi mật sưng to, viêm; lại vì Can sơ tiết kém, đởm dịch bài xuất không thông, ngày tháng nung nấu, tụ lại thành sỏi; sỏi bế tắc thì “bất thông tắc thống”.
【Chứng trạng】
Đau hoặc quặn đau hạ sườn phải, lan lên vai phải (sỏi mật đau quặn càng dữ). Kèm buồn nôn nôn ói, sốt ớn lạnh, đau đầu mệt mỏi, có thể vàng da, hoặc chán ăn, miệng đắng…
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Đởm du(胆俞).
Trị pháp: dùng nắn–xoa. Dùng ngón cái ấn lên Đởm du bên phải, dùng lực xoa ấn, sẽ cảm thấy vùng lưng phải ê nặng lan lên xuống; lúc này cơn đau giảm rõ. Nếu xoa ấn trên 15 phút, sẽ thấy thư thái, đói bụng muốn ăn.
Chủ trị: cơn quặn mật.
Phụ ký: lâm sàng dùng nhiều lần, hiệu quả giảm đau tốt.
Phối huyệt phương hai: vùng dưới góc xương bả vai phải.
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Bệnh nhân ngồi, hai vai thả lỏng; người thao tác dùng bụng ngón cái tay phải ấn vào vùng dưới góc xương bả vai phải, khi xuất hiện cảm giác ê căng thì tiếp tục ấn mạnh 1–3 phút, đồng thời xoa bóp tại chỗ đến khi đau giảm.
Chủ trị: cơn quặn mật (thường do sỏi hoặc giun đường mật).
Phụ ký: trị 56 ca cơn quặn mật (đều do giun mật hoặc sỏi), kết quả: hiệu rõ 30 ca, giảm nhẹ 18 ca, không hiệu quả 8 ca.
Phối huyệt phương ba: chọn huyệt theo vị trí sỏi.
– Sỏi ống mật trong gan: Can du(肝俞, hai bên)
– Sỏi túi mật: Đởm du(胆俞, hai bên)
– Sỏi ống mật chủ: Vị du(胃俞, hai bên)
Khi chọn huyệt lấy bên phải làm chính.
Trị pháp: dùng điểm huyệt và nhất chỉ thiền thôi pháp. Dùng ngón tay (hoặc gậy điểm huyệt) liên tục điểm ấn các huyệt liên quan (lấy ấn làm chủ) đến khi đau giảm. Thường 2–3 phút bắt đầu có hiệu, khoảng 10 phút có thể hết đau; trường hợp nặng thì kéo dài thời gian điểm huyệt.
Chủ trị: cơn quặn mật (do sỏi mật).
Phụ ký: trị 100 ca cơn quặn mật, tổng hiệu quả 99,7%; trong đó hết hẳn 52,1%, giảm rõ 47,6%, không hiệu quả 1 ca. Phép này có tác dụng sơ can lý khí, thông kinh hoạt lạc, phù chính khu tà. Khi điểm huyệt, vị trí cảm giác mạnh (tức huyệt) là tốt nhất. Thường khoảng 10 phút giảm đau; nặng thì cần kéo dài.
Phối huyệt phương bốn: Túc tam lý(足三里, hai bên), Nội quan(内关, hai bên), khi choáng kèm thêm Nhân trung(人中).
Trị pháp: dùng chỉ bấu (chỉ掐). Dùng hai ngón cái bấu ấn hai bên Túc tam lý và Nội quan; khi choáng thêm bấu ấn Nhân trung. Bấu ấn khoảng 40 phút có thể giảm.
Chủ trị: viêm túi mật mạn phát cơn cấp, đau bụng dữ, nôn ói.
Phụ ký: ca thực nghiệm: một bà lão đau bụng, nôn, đau dữ từng cơn đến ngất. Chẩn đoán lúc đó: viêm túi mật cấp hoặc co thắt dạ dày. Xử trí ưu tiên cắt nôn giảm đau phòng sốc: lấy hai bên Túc tam lý, Nội quan bấu ấn; khi ngất bấu nhanh Nhân trung. Khoảng 40 phút, triệu chứng cấp giảm và kiểm soát, bệnh nhân ngủ được; sau hơn 2 giờ tỉnh dậy chứng trạng cải thiện rõ rệt. Sau đó xác định là viêm túi mật mạn phát tác cấp tính.
Phối huyệt phương năm: Thái xung(太冲), Dương lăng tuyền(阳陵泉), Chi câu(支沟), Đởm du(胆俞, bên phải).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Trước ấn mạnh hai bên Thái xung, Dương lăng tuyền, Chi câu; sau đó ấn huyệt Đởm du bên phải, lực từ nhẹ đến nặng, lấy mức bệnh nhân chịu được, đến khi cơn đau dữ dội dần giảm.
Chủ trị: Đau cạnh sườn (kể cả viêm túi mật), do can đởm khí nghịch không sơ tiết mà gây đau dữ vùng mạn sườn, đường thở không thông.
Phụ ký: lâm sàng dùng nhiều, hiệu quả giảm đau khá.
Phối huyệt phương sáu: Đởm du(胆俞, phải), Nhật nguyệt(日月, phải).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Ngón cái ấn mạnh Đởm du, ngón trỏ xoa ấn Nhật nguyệt; lực từ nhẹ đến nặng, lấy mức để bệnh nhân chịu được; khi xuất hiện cảm giác ê, căng, tê rõ rệt thì tiếp tục ấn thêm 20–30 phút đến khi hết đau.
Chủ trị: viêm túi mật, sỏi mật.
Phụ ký: lâm sàng dùng nhiều, hiệu quả giảm đau khá. Sau khi đau giảm, phối hợp thang “gia vị Tam kim” do tác giả gia giảm (Kim tiền thảo 30g, Hải kim sa 15g, Kê nội kim 10g – tán bột uống, Diên hồ sách 12g, Sài hồ 6g) sắc uống, mỗi ngày 1 thang, giúp củng cố hiệu quả, đạt mục tiêu khỏi bệnh.
Phối huyệt phương bảy: Khâu khư(丘墟), Dương lăng tuyền(阳陵泉), Đởm nang huyệt(胆囊穴).
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Dùng ngón cái hoặc ngón trỏ lần lượt ấn mạnh hai bên các huyệt, mỗi huyệt 5–10 phút; cần thiết lặp lại 2–3 lần, lấy giảm nhẹ làm độ.
Chủ trị: viêm túi mật, sỏi mật.
Phụ ký: hiệu quả giảm đau tốt; nếu cần trị căn, nên phối hợp thuốc.
Phối huyệt phương tám: Đởm nang huyệt(胆囊穴), Thái xung(太冲), Đởm du(胆俞), Nội quan(内关)。
Trị pháp: dùng ấn, nắn, xoa, bấu. Trước hết dùng đầu ngón cái dùng lực ấn thăm dò ấn mạnh Đởm nang huyệt, mỗi 20 giây thả lỏng một lần, lặp lại ấn mạnh 3–5 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác ê tức rõ rệt thì dừng. Tiếp đó đặt bụng ngón cái lên Thái xung, bụng ngón giữa ở mặt lưng của huyệt này, hai ngón dùng lực nắn bóp, mỗi 10 giây thả lỏng một lần, lặp lại hàng chục lần, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác ê tức mạnh khó chịu được thì dừng. Rồi dùng bụng ngón cái nhẹ nhàng xoa ấn Đởm du 3~5 phút, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác trướng là được. Nếu là cơn cấp, có thể dùng đầu ngón cái ấn mạnh Đởm du, mỗi 10 giây thả lỏng một lần, lặp lại hàng chục lần, cho đến khi vùng túi mật giảm đau. Sau đó đặt đầu ngón cái lên Nội quan, bốn ngón còn lại đặt ở mặt lưng huyệt, ngón cái dùng lực cắt (bấu) ấn Nội quan, mỗi 10 giây thả lỏng một lần, lặp lại hàng chục lần, đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác nặng tức rõ rệt thì dừng. Mỗi ngày trị 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: viêm túi mật, cơn quặn mật.
Phụ ký: tác giả đã kiểm chứng lâm sàng nhiều ca, đều thu được hiệu quả tốt.
Viêm gan mạn(慢性肝炎)
Viêm gan mạn thuộc các phạm trù “hiếp thống(胁痛)đau cạnh sườn”, “hoàng đản(黄疸)” vàng da, “thấp trở(湿阻)”, “hư chứng(虚证)” và “chưng tích(癥积)” trong Trung y. Lâm sàng khá thường gặp, bệnh trình dai dẳng, khó trị dứt điểm.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do viêm gan cấp không được điều trị hoặc điều trị không triệt để chuyển thành. Bệnh từ thực mà thành hư, rốt cuộc thành Can uất Tỳ hư, Can Thận bất túc, mạch lạc ứ trở… biểu hiện bệnh lý hư thực đan xen.
【Chứng trạng】
Vùng gan (hoặc hạ sườn) đau tức, chóng mặt mệt mỏi, sắc mặt kém tươi, gan to, miệng đắng tức hạ sườn trướng, hoặc dạ dày–bụng đầy trướng, hoặc ăn kém, hoặc gầy sút, hoặc ngủ kém. Xét nghiệm chức năng gan bất thường.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: chia 2 nhóm huyệt:
– Nhóm 1: Can du(肝俞, hai bên), Đởm du(胆俞, hai bên), Thận du(肾俞, hai bên);
– Nhóm 2: Trung quản(中脘)。
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Thông thường lấy nhóm 1, dùng hai ngón cái ấn huyệt; khi chỉ ấn thì vừa thở ra vừa ấn mạnh 6 giây, mỗi lần ấn 5 cái, mỗi ngày ấn 5 lần. Nếu chỉ ấn Trung quản có hiệu tốt, có thể theo cách trên, ấn từ trái phải vào giữa.
Chủ trị: viêm gan mạn.
Phụ ký: khi điều trị cần chú ý: (1) lực ấn không nên nhất loạt dùng ấn mạnh, phải tùy bệnh tình, thể chất, tuổi tác; nếu bệnh nhân là người già hoặc bệnh nặng, ấn mạnh có thể làm bệnh nặng thêm; (2) phối hợp ăn uống điều dưỡng, nghỉ ngơi thích hợp, kiêng rượu.
Phối huyệt phương hai: Can du(肝俞), Đởm du(胆俞), Kỳ nội(期内), Trung quản(中脘), Túc tam lý(足三里), Tam âm giao(三阴交)。
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Lần lượt dùng hai ngón cái ấn các huyệt (Trung quản ấn từ hai bên vào giữa), mỗi huyệt 1.5–3 phút; lực ấn tùy trường hợp: bệnh trình ngắn, thực chứng, thể chất còn khỏe thì dùng ấn mạnh; ngược lại bệnh lâu ngày, hư chứng, người già yếu thì dùng lực vừa/nhẹ. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: viêm gan mạn.
Phụ ký: phép này Tỳ và Can kiêm trị, phù chính khu tà đồng thời; kiên trì điều trị sẽ có hiệu quả rõ rệt, phối hợp thang thuốc phù hợp thì càng tốt.
Phối huyệt phương ba: Can du(肝俞), Tỳ du(脾俞), Túc tam lý(足三里), và tùy chứng gia phối huyệt.
Trị pháp: dùng xoa ấn. Dùng hai ngón cái lần lượt xoa ấn hai bên huyệt đạo, mỗi huyệt 3–5 phút. Trước ấn sau xoa, vừa cương vừa nhu, lực linh hoạt, tùy chứng màthi thố. Mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: viêm gan mạn.
Phối huyệt phương bốn: hai bên giữa các mỏm gai đốt ngực 9, 10, 11, 12 và vùng mỏm gai; Can du(肝俞, hai bên), Tỳ du(脾俞, hai bên)。
Trị pháp: dùng đẩy ấn, xoa ấn, chỉ ấn. Trước dùng hai ngón cái, từ trên xuống dưới, xoa ấn lần lượt hai bên khoảng gian mỏm gai nói trên (mỗi bên 3 điểm, tổng 6 điểm), mỗi điểm 3–5 phút; rồi từ trên xuống dưới đẩy ấn vùng mỏm gai 5–10 lượt; sau đó ấn mạnh đôi huyệt Can du, Tỳ du mỗi huyệt 3–5 phút. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: viêm gan mạn, gan lách to.
Phụ ký: lực chỉ ấn cần tùy bệnh tình, thể chất mà linh hoạt; nếu kiên trì điều trị đều có hiệu quả nhất định.
Phối huyệt phương năm:
1/ Nội quan(内关), Ngoại quan(外关);
2/ Chí dương(至阳), Linh đài(灵台), Đởm du(胆俞), Can du(肝俞), Thiên tông(天宗)。
Trị pháp: dùng điểm, ấn, gõ, bấu. Chọn 1 trong 2 phương hoặc luân phiên.
– Phương 1: dùng ngón cái, ngón giữa gõ–bấu Nội quan, Ngoại quan bên phải mỗi huyệt 100–200 cái; cần thì có thể đồng thời hai bên.
– Phương 2: trước dùng hai ngón cái hoặc ngón giữa đồng thời điểm ấn Chí dương, Linh đài mỗi huyệt 100–200 cái; sau đó lần lượt ấn Đởm du, Can du, Thiên tông mỗi huyệt 30–60 cái. Mỗi ngày 1–2 lần.
Chủ trị: đau vùng gan. Phụ ký: dùng nhiều lần đều hiệu quả.
Top of Form
Bệnh giun đũa đường mật(胆道蛔虫症)
Bệnh này thuộc phạm trù “Hồi quyết(蛔厥)” của Trung y, là một trong các chứng cấp cứu bụng (Cấp phúc chứng) thường gặp.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do rối loạn chức năng đường tiêu hóa làm nhu động ruột bất thường, kích thích giun hoạt động khác thường; hoặc do cơ thắt lỗ đổ của đường mật giãn lỏng, khiến giun đũa từ ruột chui vào đường mật. Giun vào trong đường mật gây can khí nghịch loạn, co thắt ống mật, ứ đọng mật, nhiễm trùng và sinh ra các triệu chứng lâm sàng khác nhau.
【Chứng trạng】
Dưới ức xuất hiện đột ngột cơn đau kịch phát kiểu “khoan/chồi đỉnh” hoặc đau quặn dữ dội. Người bệnh ôm bụng co gối, nằm sấp trên giường, hoặc lăn trở bứt rứt, buồn nôn, nôn ói, hoặc mồ hôi đầm đìa, rên rẩm không dứt; có thể kèm sắc mặt tái nhợt, tứ chi lạnh buốt, hoặc rét run, sốt cao, vàng da… Đau đôi khi lan lên vai lưng hoặc thắt lưng.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: vùng góc dưới xương bả vai bên phải.
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Bệnh nhân ngồi, hai tay buông tự nhiên; thầy thuốc dùng đầu ngón cái tay phải ấn vào vùng góc dưới xương bả vai phải, đợi xuất hiện cảm giác ê tức thì tiếp tục ấn mạnh 1–3 phút, kết hợp xoa bóp tại chỗ cho đến khi đau giảm.
Chủ trị: bệnh giun đũa đường mật.
Phụ ký: dùng nhiều năm, hiệu quả giảm đau rất tốt.
Phối huyệt phương hai: Túc tam lý(足三里, đôi), Trung quản(中脘), Thiên khu(天枢, đôi), Huyết hải(血海, đôi)。
Trị pháp: dùng chỉ ấn, điểm huyệt. Ấn mạnh các huyệt trên, mỗi huyệt 3–5 phút, khi xuất hiện cảm giác ê, trướng, tê thì tiếp tục ấn mạnh riêng Túc tam lý cho đến khi hoàn toàn giảm mới dừng.
Chủ trị: bệnh giun đũa đường mật.
Phụ ký: lâm sàng cho thấy hiệu quả giảm đau khá tốt.
Phối huyệt phương ba: A thị huyệt(阿是穴, tìm điểm đau ở lưng), Đởm du(胆俞, bên phải)。
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Dùng bụng ngón cái ấn mạnh A thị huyệt và Đởm du, khi có cảm giác ê, trướng, tê thì tiếp tục ấn cho đến khi đau giảm. Sau khi giảm hẳn, phối hợp thang thuốc phù hợp để uống trong.
Chủ trị: bệnh giun đũa đường mật.
Phụ ký: lâm sàng nhiều lần ứng dụng, trong–ngoài phối hợp, hiệu quả rất tốt. Bài thuốc tham khảo xem trong sách “Tinh tuyển bí phương nghiệm phương danh lão Trung y(名老中医秘方验方精选)”.
Bệnh mạch vành(冠心病)
Bệnh động mạch vành xơ vữa (gọi tắt bệnh mạch vành), còn gọi “bệnh tim thiếu máu cục bộ”, thuộc các phạm trù “Hung tý(胸痹)”, “Chân tâm thống(真心痛)”, “Hung thống(胸痛)” trong Trung y, hay gặp ở trung lão niên.
【Nguyên nhân】
Phần nhiều do tâm dương bất túc, lục dâm hàn tà thừa hư xâm nhập, dẫn đến hàn ngưng khí trệ, co rút kéo siết; hoặc ăn uống không điều độ, cao lương mỹ vị sinh đàm thấp, đàm thấp phạm vào chiếm nơi thanh quang (quang đãng); hoặc đàm nhiệt thiêu đốt kinh lạc, hỏa tính thượng viêm; hoặc khí huyết tân dịch âm dương bất túc, do hư mà huyết hành chậm; hoặc thất tình nội thương, khí cơ uất trệ – đều có thể gây khí trệ huyết ứ, mạch lạc ứ tắc, uất kết ở hung (ngực).
Y học hiện đại cho rằng: do cholesterol, lipid lắng đọng dưới nội mạc động mạch vành, tế bào nội mô, cơ trơn và mô liên kết tăng sinh, cùng kết tập tiểu cầu hình thành mảng xơ vữa, làm hẹp hoặc tắc lòng mạch; hoặc do co thắt mạnh cơ trơn nội mạc gây co thắt động mạch vành, dẫn đến thiếu máu cơ tim.
【Chứng trạng】
Hung tý (cơn đau thắt ngực), hoặc nhồi máu cơ tim, rối loạn nhịp, suy tim… Như “Kim Quỹ Yếu Lược(金匮要略)” nói: “Hung tý bất đắc ngọa, tâm thống triệt bối, bối thống triệt tâm” (Bệnh nhân liệt ngực không thể nằm, đau ngực xuyên sang lưng, đau từ lưng sang ngực), “Hung tý, hung trung khí hàn đoản khí” (liệt ngực, trong ngực có khí lạnh, hơi thở ngắn), “Dương vi, âm huyền, tức hung tý nhi thống.” (Dương nhỏ bé, âm huyền, là liệt ngực mà đau) Do căn nguyên khác nhau nên kiêm chứng cũng khác.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Linh đạo huyệt(灵道穴, bên trái có vùng phản ứng ấn đau rõ)。
Trị pháp: dùng xoa ấn. Thầy thuốc dùng bụng ngón cái đặt lên Linh đạo, trước tiên ấn nhẹ 1,5 phút, rồi ấn mạnh và xoa 2 phút, cuối cùng xoa nhẹ 1,5 phút. Mỗi ngày 1 lần, 15 lần là 1 liệu trình. Giữa các liệu trình nghỉ 3 ngày; mỗi tuần thầy thuốc thao tác 1 lần, các ngày còn lại bệnh nhân tự xoa ấn; nửa tháng kiểm tra lại điện tâm đồ một lần.
Chủ trị: cơn đau thắt ngực do bệnh mạch vành.
Phụ ký: điều trị 48 ca, kết quả: hiệu quả rõ 20 ca, cải thiện 17 ca, không hiệu quả 10 ca, nặng thêm 1 ca. Trước điều trị có 28 ca uống nitroglycerin, sau điều trị 21 ca ngừng dùng; điện tâm đồ cải thiện 16 ca.
Phối huyệt phương hai: Nội quan(内关), Phế du(肺俞), Tâm du(心俞), Quyết âm du(厥阴俞), Đan trung(膻中) và hai bên Kinh Bàng quang ở lưng (đoạn ngực).
Trị pháp: dùng xoa ấn, khuỷu đẩy ấn, và “nhất chỉ thiền” đẩy. Tùy huyệt vị và vùng mà linh hoạt áp dụng các thủ pháp trên. Mỗi lần 30 phút, cách ngày 1 lần, 15 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: Bệnh mạch vành kèm suy chức năng thất trái.
Phụ ký: Có người dùng pháp này điều trị 9 ca (bệnh trình 1–11 năm), đều có tiền sử cơn đau thắt ngực, đa số kèm tăng huyết áp. Sau 1 liệu trình, theo dõi 2 tháng chỉ 1 ca tái phát 1 cơn đau thắt ngực; hồi hộp, khó thở, tức ngực, chóng mặt mệt mỏi, khó thở kịch phát về đêm đều cải thiện ở các mức độ khác nhau, đặc biệt tức ngực, mệt mỏi, hồi hộp cải thiện rõ. Trong thời gian trị liệu đều ngừng dùng nhóm digitalis hoặc các thuốc ảnh hưởng chức năng tim.
Phối huyệt phương ba: Tâm du(心俞), Quyết âm du(厥阴俞), Đản trung(膻中), Nội quan(内关)。
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Dùng bụng hai ngón cái lần lượt ấn các huyệt liên quan (huyệt Đan trung đẩy từ hai bên vào trung tâm huyệt), trước nhẹ sau nặng, tăng lực dần, lấy mức người bệnh chịu đựng được; mỗi huyệt 1,5–3 phút. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần.
Chủ trị: Cơn đau thắt ngực.
Phụ ký: Dùng nhiều năm, có hiệu quả nhất định.
Phối huyệt phương bốn (chia 2 nhóm huyệt):
Nhóm 1: Tâm du(心俞), Khúc trạch(曲泽), Lao cung(劳宫), Âm khích(阴郄)。
Nhóm 2: Quyết âm du(厥阴俞), Thiếu phủ(少府), Nội quan(内关), Khích môn(郄门)。
Trị pháp: dùng chỉ ấn. Mỗi lần chọn một nhóm, luân phiên sử dụng. Mỗi huyệt ấn mạnh 1,5–3 phút, cần thiết có thể lặp lại 1 lần. Mỗi ngày 1 lần, 15 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: Bệnh mạch vành.
Phụ ký: Pháp này có tác dụng làm dịu co thắt động mạch vành, giãn mạch, cải thiện rối loạn tưới máu cơ tim… nên lâm sàng dùng nhiều, hiệu quả tốt, giảm đau đặc biệt rõ.
Phối huyệt phương năm – Chủ huyệt: Tâm du(心俞), Cực tuyền(极泉), Cách du(膈俞), Chí dương(至阳), Nội quan(内关), Thần môn(神门).
Phối huyệt: Can du(肝俞), Tỳ du(脾俞), Đan trung(膻中), Thái xung(太冲), Túc tam lý(足三里), Quan nguyên(关元), Dũng tuyền(涌泉).
Trị pháp: dùng ấn, xoa, đẩy, vỗ, điểm, rung. Trước dùng đầu ngón cái ấn xoa Tâm du rồi ép đẩy sang Cách du, Can du, Tỳ du, mỗi huyệt 3–5 phút. Ấn mạnh Chí dương (giữa đường lưng, giữa mỏm gai T7–T8) 50–100 lần. Dùng nắm tay rỗng vỗ vai lưng 1 phút, thủ pháp nhẹ nhàng vừa phải. Tiếp ấn xoa đôi huyệt Nội quan mỗi bên 100 lần. Dùng lòng bàn tay đẩy thẳng từ ngoài vào trong dọc mặt trong chi trên, trái/phải mỗi bên 10 lần, rồi xoa nhanh vùng trước tim 2–3 phút. Kế đến nắm nhồi (nã nắn) nhóm cơ mặt trong chi trên 3–5 lượt, dùng ngón giữa móc điểm Cực tuyền 30–50 lần. Điểm ấn Thần môn, Đan trung mỗi huyệt 50 lần; lấy mô bàn tay ấn rung Quan nguyên 3–5 phút. Sau đó ấn xoa Túc tam lý, Thái xung mỗi huyệt 50–100 lần; ấn xoa chà sát Dũng tuyền đến khi ấm nóng. Mỗi ngày điều trị 1 lần, cần kiên trì liên tục, hiệu quả sẽ rõ.
Chủ trị: Bệnh mạch vành.
Phụ ký: (1) Điều trị bệnh này nên lấy thuốc làm chính, phương pháp này làm phụ; nội ngoại kết hợp, hiệu quả càng tốt. (2) Phòng phát tác: bệnh thường phát về đêm, nên trước khi ngủ có thể vỗ nhẹ vùng trước tim 20–30 lần, điểm ấn Cực tuyền, Nội quan mỗi huyệt 1–3 phút để dự phòng tốt. (3) Lưu ý: trước ngủ tránh ăn no, uống rượu và hút thuốc; quần áo ngủ nên rộng rãi; không trùm kín đầu khi ngủ; tránh ngủ một mình trong phòng. (4) Kiêm trị: phương này còn có thể phòng trị rối loạn nhịp tim.
Phối huyệt phương sáu
① Nội quan(内关), Khích môn(郄门), Khúc trì(曲池), Thiếu hải(少海)。
② Tâm du(心俞), Kiên tỉnh(肩井)。
③ Nội quan(内关), Ngoại quan(外关), Đan trung(膻中)。
Trị pháp: ba phương trên, lâm sàng tùy chọn một phương. Cách làm như sau:
Phương ① dùng điểm–cấu (bấm–cấu). Dùng ngón cái một tay điểm trọng vào một bên Nội quan hoặc Khích môn, đồng thời ngón cái và ngón giữa tay kia lần lượt nhằm Khúc trì và Thiếu hải bên đối diện, thực hiện gõ–cấu mạnh 150–200 cái; cần thiết có thể luân phiên trái–phải, trước trái sau phải.
Phương ② dùng ấn, ép, cấu, bạt. Trước dùng hai ngón cái ấn ép song phương Tâm du 50–100 cái; rồi dùng ngón giữa (ngón cái hỗ trợ) gõ–cấu hai huyệt Kiên tỉnh, phối hợp bật gảy 5–7 lần.
Phương ③ dùng cấu ấn. Trước dùng ngón cái, trỏ hoặc giữa gõ–cấu một bên Nội quan, Ngoại quan 15–30 phút; cần thiết có thể luân phiên trái–phải, trước trái sau phải. Tay còn lại dùng ngón cái cấu ấn Đan trung 3–5 phút.
Cả ba pháp đều điều trị mỗi ngày 1 lần, đỡ bệnh thì dừng.
Chủ trị: Cơn đau thắt ngực.
Phụ ký: Hiệu quả thường rất tốt, đa số 1–2 lần là hết đau.
Top of Form
Nhịp tim nhanh (心动过速)
Nhịp tim nhanh thuộc phạm vi “tâm quý” của Trung y.
【Nguyên nhân】
Đa phần do âm hư dương phù, tâm thận bất giao; hoặc lao lực, vận động quá độ; hoặc do kích thích tinh thần.
【Triệu chứng】
Hồi hộp, khó thở, chóng mặt, mệt mỏi, mất ngủ, hay quên, thở gấp, mạch gấp nhanh nhưng vô lực.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một
Nội quan(内关), Thần môn(神门)(đều lấy hai bên).
Trị pháp: dùng chỉ ấn, điểm huyệt. Ấn mạnh các huyệt trên; nếu chứng hư thì dùng lực trung bình hoặc nhẹ, tăng lực dần, mỗi huyệt 3–5 phút. Sau khi ấn huyệt, xoa bóp thêm 2 phút. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: Tâm quý (còn gọi là hồi hộp).
Phụ ký: Kiên trì điều trị, đa số có thể giảm nhẹ hoặc khỏi.
Phối huyệt phương hai
Ức song(膺窗, hai bên), Đan trung(膻中), Nội quan(内关, hai bên).
Trị pháp: dùng xoa ấn. Dùng bụng ngón cái xoa ấn nhẹ Ức song, Đan trung, sau đó xoa ấn mạnh Nội quan. Mỗi huyệt 5 phút.
Chủ trị: Nhịp tim nhanh, hoặc rối loạn nhịp và đau vùng trước tim.
Phụ ký: Lâm sàng dùng nhiều,确有良效.
Phối huyệt phương ba (biện chứng chọn huyệt)
1/ Tâm huyết bất túc: Khích nội(郄内), Thần cân(神巾), Đan trung(膻中), Túc tam lý(足三里), Tâm du(心俞), Tỳ du(脾俞).
2/ Đàm hỏa nhiễu tâm: Khích nội(郄内), Nội quan(内关), Thần nội(神内), Tâm du(心俞), Khúc trạch(曲泽), Phong long(丰隆).
3/ Thủy ẩm thượng nghịch: Khích nội(郄内), Thần môn(神门), Tâm du(心俞), Tỳ du(脾俞), Vị du(胃俞), Tam tiêu du(三焦俞).
4/ Tâm huyết ứ trở: Khích cân(郄巾), Thần nội(神内), Tâm du(心俞), Cự khuyết(巨阙), Đại lăng(大陵), Cách du(膈俞), Thiếu hải(少海).
Trị pháp: dùng xoa ấn, điểm huyệt. Bệnh nhân ngồi, chọn huyệt theo từng thể, dùng các thủ pháp xoa ấn, điểm huyệt để trị. Thể “đàm hỏa nhiễu tâm” và “tâm huyết ứ trở” dùng phép tả; hai thể còn lại dùng phép bổ. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần.
Chủ trị: Kinh quý, chinh xung (hồi hộp trầm trọng).
Phụ ký: Lấy dưỡng tâm an thần làm chủ. Tâm huyết bất túc thì bổ khí dưỡng huyết; đàm hỏa nhiễu tâm thì kiêm thanh nhiệt hóa đàm; thủy ẩm thượng nghịch thì ôn dương lợi thủy; huyết ứ trở thì hoạt huyết hóa ứ, điều khí thông lạc, nên dùng có hiệu quả.
Phối huyệt phương bốn
Nội quan(内关), Thần môn(神门), Tam âm giao(三阴交), Khích môn(郄门), Đại lăng(大陵), Lao cung(劳宫), Tâm du(心俞).
Trị pháp: dùng điểm, cấu, ấn, nắn.
– Trước hết đặt đầu ngón cái lên Nội quan(内关), bốn ngón còn lại ở mặt lưng huyệt, ngón cái ấn (cắt/掐) mạnh; thời gian ấn không dưới 2 phút, lấy cảm giác vùng huyệt rõ rệt hoặc nhịp – tần số tim cải thiện làm chuẩn. Pháp này đặc biệt thích hợp với nhịp tim nhanh hoặc chậm, có tác dụng điều chỉnh nhịp và tần số tim.
– Tiếp đến đặt bụng ngón cái lên Tam âm giao(三阴交), bụng ngón trỏ ở mặt sau huyệt, hai ngón đối nhau ấn nắn với lực hơi mạnh, giữ nửa phút, thả lỏng 10 giây rồi lặp lại hơn chục lần, đến khi vùng huyệt có cảm giác tức nặng rõ.
– Sau đó dùng bụng ngón cái ấn mạnh Tâm du(心俞) trong 10–20 giây, thả lỏng vài giây rồi ấn lại, tăng lực dần, lặp 7–10 lần, đến khi vùng huyệt có cảm giác căng rõ.
– Thần môn(神门), Khích môn(郄门), Đại lăng(大陵), Lao cung(劳宫) thao tác như Nội quan nhưng thời gian mỗi huyệt khoảng 1 phút.
Mỗi ngày điều trị 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: Rối loạn nhịp tim.
Phụ ký: Lâm sàng dùng nhiều đều thu được hiệu quả khá tốt. Ngoài ra có phương kinh nghiệm dân gian: lấy Á môn(哑门), người thao tác một tay đỡ đầu bệnh nhân, tay kia nhẹ nhàng điểm – khấu (gõ) Á môn, 80–120 lần/phút, lực gõ không quá 0,4 kg, mỗi lần 5–10 phút, mỗi ngày 1 lần, trị rối loạn nhịp cũng có hiệu quả tốt.
Top of Form
Đái tháo đường (糖尿病)
Đái tháo đường thuộc phạm vi “tiêu khát” của Trung y; hiện là bệnh thường gặp trên lâm sàng, rất khó trị dứt điểm.
【Nguyên nhân】
《Phổ Tế Bản Sự Phương》 viết: “Do thận hư mà nên, mỗi khi phát thì tiểu tiện có vị ngọt.” “Ấy là hỏa bốc ở trên, âm hao ở dưới, thủy hỏa không tương tế; chân âm tổn hao, nguồn thủy không đủ, dương hỏa thiên thịnh, hư cực mà cuồng viêm, nhiệt thương thận âm, tinh khí hao tổn nên tiểu tiện nhiều; nhiệt thương phế âm, tân dịch khô kiệt nên khát uống vô độ; nhiệt thương vị âm nên ‘tiêu cốc thiện cơ’ (ăn chóng đói), hình thể gầy sút. Ngọn tuy có ba, mà gốc chỉ một, tức là âm hư.” Luận thuật thấu triệt, đích thực là lời từ kinh nghiệm.
【Triệu chứng】
Đặc trưng bởi “tam đa nhất thiểu” (ba nhiều một ít) cùng xét nghiệm đường huyết tăng, đường niệu dương tính: uống nhiều (khô miệng khát nước, khát uống vô độ), ăn nhiều (ăn chóng đói, ăn không biết no), tiểu nhiều (uống một thì tiểu hai, tiểu nhiều lần, về đêm càng rõ) và sút cân. Nguyên nhân không thuần nhất, có hư – thực, kèm chứng khác nhau. Lâm sàng thấy hư chứng, nhiệt chứng là chủ; thực chứng, hàn chứng ít gặp; nhất là hư nhiệt và khí âm lưỡng hư thì thường gặp hơn.
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một
Thiên khu(天枢), Đản trung(膻中), Âm lăng tuyền(阴陵泉), Khí hải(气海), Tam âm giao(三阴交), Quan nguyên(关元), Trung quản(中脘), Lương khâu(梁丘), Chương môn(章门), Kiên tỉnh(肩井), Nội quan(内关), Tỳ du(脾俞), Vị du(胃俞), Thận du(肾俞)。
Trị pháp: dùng xoa ấn, điểm huyệt, khấu kích. Bệnh nhân lần lượt nằm ngửa và sấp; người thao tác đứng bên thân, lần lượt xoa, ấn, điểm, gõ các huyệt trên. Mỗi huyệt 3–5 phút; mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần; 10 lần là 1 liệu trình.
Chủ trị: Đái tháo đường.
Phụ ký: Pháp này có công năng thanh vị tả hỏa, dưỡng âm bảo tân, tư âm cố thận, nên dùng thường có hiệu quả.
Phối huyệt phương hai
Chi chính(支正), Trung quản(中脘), Túc tam lý(足三里), Tỳ du(脾俞)。
Trị pháp: xoa ấn, khấu kích. Dùng bụng ngón cái (hoặc cả hai ngón cái) xoa ấn các huyệt, mỗi huyệt 3–5 phút, rồi gõ (bằng ngón) 10–20 cái; lực vừa phải, không quá mạnh, cương nhu phối hợp, vận dụng linh hoạt. Mỗi ngày 1 lần.
Chủ trị: Đái tháo đường.
Phụ ký: Kiên nhẫn điều trị sẽ có hiệu quả.
Phối huyệt phương ba
Dương trì(阳池), Tỳ du(脾俞), Thận du(肾俞), Tam âm giao(三阴交), Chiếu hải(照海)。
Trị pháp: xoa ấn, khấu kích. Dùng hai ngón cái xoa ấn trước, rồi dùng các ngón tay (4–5 ngón khép) gõ các huyệt trên; lực vừa phải, thao tác linh hoạt. Mỗi lần 20–30 phút; sau đó dán “Đường niệu khắc tiêu tán” hoặc “Giáng đường tán” vào rốn. Mỗi ngày điều trị hoặc thay thuốc 1 lần.
Chủ trị: Đái tháo đường.
Phụ ký: Dùng nhiều năm, phối hợp hai cách, hiệu quả khá. (Hai phương thuốc dán xem sách 《Trung dược tị tề liệu pháp》.)
Phối huyệt phương bốn
Phế du(肺俞), Vị du(胃俞), Tỳ du(脾俞), Thận du(肾俞), Túc tam lý(足三里), Tam âm giao(三阴交), Thái khê(太溪)。
Trị pháp: dùng ấn. Trước hết dùng bụng ngón cái ấn Phế du, Vị du, Tỳ du, Thận du; lực trung bình, mỗi huyệt 3–5 phút, lấy cảm giác trướng nặng tại chỗ làm độ. Tiếp đó ấn mạnh Túc tam lý, mỗi 30 giây thả lỏng 10 giây, lặp 3–5 phút, đến khi cảm giác toan trướng rõ rệt. Lại ấn Tam âm giao với lực tương đối mạnh, mỗi 20 giây thả lỏng vài giây, lặp 3–5 phút đến khi cảm giác toan trướng rõ. Sau cùng dùng đầu ngón giữa, lực trung bình, ấn Thái khê; mỗi 20 giây thả lỏng vài giây, lặp 3–5 phút, đến khi có cảm giác toan trướng. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần; 1 tháng là 1 liệu trình.
Chủ trị: Đái tháo đường.
Phụ ký: Pháp này hiệu quả tốt với bệnh nhân giai đoạn sớm – trung bình và thể nhẹ. Đồng thời cần phối hợp kiểm soát ăn uống, vận động thích hợp và dùng thuốc; điều trị lâu dài để khống chế đường huyết.
Yêu thống (腰痛) — chỉ chứng đau vùng thắt lưng một bên hoặc hai bên; “yêu vi thận chi phủ (腰为肾之府)” (Eo là nơi ở của thận), nên yêu thống có quan hệ với thận; là bệnh thường gặp trên lâm sàng.
【Nguyên nhân (病因)】 Thường do phong–hàn–thấp–nhiệt ngoại tà xâm nhập; hoặc thể nhược tinh suy, không thể nhu dưỡng kinh mạch; hoặc do mang nặng, ngã, vặn xoắn khiến khí trệ ứ trở; hoặc do nghề nghiệp như cúi lưng mang vác quá độ, gấp duỗi quá thường xuyên, lâu ngày thành lao quyện hư tổn, khí huyết bất hòa, ứ trở kinh mạch mà thành yêu cơ lao tổn (lao tổn cơ eo lưng).
【Chứng trạng (症状)】 đau một hoặc hai bên thắt lưng, chuyển mình gấp duỗi bị hạn chế, động thì đau tăng; do căn nguyên bất nhất nên kiêm chứng cũng khác; lâm sàng thường phân: hàn–thấp yêu thống, thấp–nhiệt yêu thống, thận hư yêu thống, ứ huyết yêu thống và yêu cơ lao tổn.
【Liệu pháp (疗法)】 Phối huyệt phương 1 (配穴方一): hai bên gian gian gai sau của đốt thắt lưng 2–3; trị pháp: dùng chỉ áp pháp (指压法), hai bụng ngón cái ấn mạnh vào vị trí trên 3–5 phút, lực trước nhẹ sau nặng, đợi xuất hiện cảm giác toan, trướng, tê thì tiếp tục cường áp đến khi đau dịu; mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần; chủ trị: Đau eo lưng; Phụ ký: lâm sàng thường dùng, giảm đau rất tốt, kiên trì trị liệu có thể khỏi hẳn. Phối huyệt phương 2 (配穴方二) lấy huyệt theo chứng: 1) đau lưng do hàn–thấp và thấp–nhiệt: lấy Thận du (肾俞), Ủy trung (委中), Dương lăng tuyền (阳陵泉), A thị huyệt (阿是穴); 2) đau lưng dovthận hư: lấy Thận du (肾俞), Đại trường du (大肠俞), Bát liêu (八髎), Thái khê (太溪), Chí thất (志室); 3) đau lưng do ứ huyết: lấy Yêu dương quan (腰阳关), Thận du (肾俞), Ủy trung (委中), A thị huyệt (阿是穴); trị pháp: dùng thôi, sát, nhu, điểm, khấu, dao (推、擦、揉、点、叩、摇法); người bệnh nằm sấp, theo chứng mà chọn huyệt, trước thôi–sát, sau đó nhu–điểm; ứ huyết yêu thống gia pháp bẻ nghiêng (侧扳法); thận hư yêu thống dùng bổ pháp (补法); ba chứng còn lại dùng tả pháp (泻法); mỗi huyệt 3–5 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần; chủ trị: yêu thống; phụ ký: nhiều lần dùng hiệu quả. Phối huyệt phương 3 (配穴方三): Yêu thiên ứng (腰天应, khu vực đau), Ủy trung (委中, hai bên); trị pháp: dùng chỉ áp pháp (指压法), cường áp Yêu thiên ứng 3–5 phút, rồi dùng tam lăng châm (三棱针) điểm thích Ủy trung cho xuất huyết như chuỗi hạt; cách ngày 1 lần đến khi khỏi; chủ trị: phong–thấp yêu thống, mỗi khi quá lao hoặc thời tiết biến hóa thì đau tăng; phụ ký: hiệu quả tốt, thường 1–5 lần đã thấy hiệu rõ hoặc khỏi; trị yêu nịch thương (vẹo/đau do trẹo lưng) cũng tốt. Phối huyệt phương 4 (配穴方四): Thận du (肾俞), Quan nguyên du (关元俞), Ủy trung (委中, đều lấy hai bên); trị pháp: dùng nhu áp pháp (揉压法), hai bụng ngón cái mỗi tay ấn một huyệt, lần lượt nhu–áp, mỗi huyệt 3–5 phút; nếu chứng thuộc ứ huyết hoặc do ngoại tà, sau khi ấn lại điểm thích Ủy trung phóng huyết ít nhiều; cách ngày 1 lần; chủ trị: các loại yêu thống; phụ ký: lâm sàng chứng thực hữu hiệu. Phối huyệt phương 5 (配穴方五): Thận du (肾俞), Quan nguyên du (关元俞), Chí thất (志室), Yêu nhãn (腰眼), A thị huyệt (阿是穴, điểm ấn đau); trị pháp: dùng nhu áp pháp (揉压法), hai bụng ngón cái ấn lên huyệt, dùng bổ pháp, trước nhu sau áp, mỗi huyệt 3–5 phút; mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần; chủ trị: yêu cơ lao tổn; Phụ ký: nếu phối hợp xoa bóp và bẻ nghiêng thì hiệu quả càng tốt.
Thất miên (失眠) Mất ngủ còn gọi bất miên (不眠), tên khác bất mị (不寐); Trương Cảnh Nhạc đời Thanh nói: “Bất mị chứng, tuy bệnh có không đồng nhất; nhưng chỉ cần biết hai chữ chính–tà là biết hết vậy… có tà thì đa thực chứng, vô tà thì giai hư chứng”; thuộc phạm trù suy nhược thần kinh của Tây y.
【Nguyên nhân (病因)】 đa do tư lự uất ức, lao quyện quá độ, tâm–tỳ huyết hư, hoặc sau bệnh, sau sản khí huyết suy nhược; bệnh phần nhiều do nguyên nhân bên trong (nội nhân), chứng có hư–thực; huyết hư là bản của bệnh, đàm hỏa, ẩm thực, dương kháng là tiêu của bệnh; huyết hư phần nhiều quy trách ở tâm, can, tỳ: huyết hư thì tâm hỏa thiên kháng, hoặc can dương thiên kháng, hoặc tâm–thận bất giao.
【Chứng trạng (症状)】 thất miên tức đến giờ ngủ mà không ngủ, khó dỗ giấc, hoặc suốt đêm trằn trọc khó miên; thường kèm sắc mặt không tươi, chi thể mệt mỏi, đầu huyễn mục huyền, trí nhớ giảm; hoặc phiền táo đa hãn, khẩu can thiệt táo; hoặc hung mãn; hoặc dạ mộng phân vân, nhị tiện bất xướng.
Bạn có thích tính cách này không
【Liệu pháp】
Phối huyệt phương một: Túc tam lý (足三里), Thần môn (神门), Tam âm giao (三阴交); trị pháp: dùng nhu áp pháp; làm chân trước tay sau, dùng bụng hai ngón cái lần lượt “nhu trước, áp sau” trên các huyệt liên quan, lực ngón tay tăng dần, lấy mức người bệnh có thể chịu được làm độ; mỗi huyệt 3–5 phút, mỗi ngày 1 lần; hư chứng dùng bổ pháp, thực chứng dùng tả pháp; cân nhắc hư–thực mà linh hoạt thi thuật; chủ trị: mất ngủ; phụ ký: kiên trì điều trị, đa phần dần dần cải thiện mà khỏi.
Phối huyệt phương hai: Thần lực (神力), Tam âm giao (三阴交); tâm–tỳ lưỡng hư thì phối Tâm du (心俞), Tỳ du (脾俞), Túc tam lý (足三里); can dương thượng kháng thì phối Can du (肝俞), Thái xung (太冲); tâm–thận bất giao thì phối Thận du (肾俞), Tâm du (心俞), Bát liêu (八髎). Trị pháp: dùng nhu áp, chỉ áp, điểm huyệt pháp; mỗi lần lấy chủ huyệt gia phối huyệt, dùng hai ngón cái để “nhu, áp, điểm, thôi”; hư chứng dùng bổ pháp, thực chứng dùng tả pháp; mỗi huyệt 3–5 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần; chủ trị: mất ngủ; phụ ký: tùy chứng linh hoạt thi thuật, kiên nhẫn điều trị, thường thu được hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương ba: hai bên cột sống, Thiên trụ (天柱), Thần môn (神门/文中作“神内”); trị pháp: dùng thôi áp, nhu áp; trước dùng bụng hai ngón cái ấn dọc hai bên cột sống, từ trên xuống dưới, thôi áp vài lượt; sau đó dùng ngón tay nhu áp Thiên trụ (天柱), Thần môn (神门); hư chứng dùng bổ pháp, thực chứng dùng tả pháp; mỗi lần 20–25 phút, mỗi ngày 1 lần; chủ trị: mất ngủ; phụ ký: dùng nhiều năm, mỗi lần đều thu được hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương bốn:① Dũng tuyền (涌泉), Quan nguyên (关元)。② Thiên dung (天容), Nhân nghênh (人迎), Phong phủ (风府), Thiên trụ (天柱), Kiên tỉnh (肩井), Bách hội (百会), Túc tam lý (足三里), Thái xung (太冲), Hợp cốc (合谷)。Trị pháp: hai phương trên, có thể chọn một trong hai để trị. — Phương ① dùng điểm, ấn, nhu (按、揉、擦);mỗi tối trước ngủ, ngâm hai bàn chân trong nước ấm khoảng 45 °C, mực nước nên ngập đến bắp chân; lòng–mu bàn chân trong nước luân phiên chà xát nhẹ 10–15 phút, lau khô, đặt chân trái lên chân phải, dùng bụng ngón cái tay phải với tần suất 2–4 lần/giây, lực nhẹ ấn–nhu Dũng tuyền (涌泉) bên trái 100 lần cho đến khi vùng đó có cảm giác nóng; xong, làm tương tự với Dũng tuyền bên phải; cuối cùng nằm ngửa trên giường, khép ngón trỏ–giữa–áp út, dùng bụng ngón tay nhẹ nhàng ấn–nhu Quan nguyên (关元) 100–200 lần, đồng thời nhắm mắt đếm thầm; làm xong toàn thân thư thái, dễ vào giấc; mỗi ngày trị 1 lần, bệnh giảm thì dừng. — Phương ② dùng điểm, ấn, áp, cấu, nhu (点、按、压、掐、揉);bước một: trước dùng ngón trỏ điểm–áp huyệt Thiên dung (天容) hoặc Nhân nghênh (人迎) ở cổ bên trên, trái trước phải sau, mỗi bên 10–15 cái; kế đó dùng ngón cái và trỏ mân–ấn hai bên cơ ức–đòn–chũm ở cổ, từ trên xuống dưới xoa ấn 3–5 lượt; rồi dùng ngón cái cấu liên tục Phong phủ (风府) khoảng 1 phút, tiếp đến dùng ngón cái–trỏ gõ–cấu Thiên trụ (天柱) 30–50 cái, và dọc hai gân hai bên từ trên xuống dưới xoa ấn đến chân cổ 3–5 lượt. Bước hai: dùng ngón cái ấn–nhu Bách hội (百会) 100 cái, rồi phối hợp ngón trỏ gõ–cấu Thiên trụ (天柱), Kiên tỉnh (肩井), thêm phép “bạt” mỗi huyệt 15 cái; kế đó hai tay lần lượt nhu–ấn hai bên Túc tam lý (足三里), Thái xung (太冲), Hợp cốc (合谷) mỗi huyệt 10–30 cái; sau cùng lại điểm–áp Thiên dung (天容) 10 cái, một lòng bàn tay áp lên mắt, một lòng bàn tay áp lên vùng tâm vị 10–15 phút; mỗi ngày trị 1 lần, bệnh giảm thì dừng; chủ trị: mất ngủ; phụ ký: nhiều lần dùng, hiệu quả tốt.
Phối huyệt phương năm
Chủ huyệt: Bách hội (百会), Suất cốc (率谷), An miên (安眠), Phong trì (风池), Tam âm giao (三阴交), Thái xung (太冲), Dũng tuyền (涌泉), Thái dương (太阳)。
Phối huyệt: Trung quản (中脘), Quan nguyên (关元), Túc tam lý (足三里), Can du (肝俞), Tỳ du (脾俞), Thận du (肾俞)。
Trị pháp: dùng điểm, thôi, ấn, nhu, nắm, miết (点、推、按、揉、捏、抹);trước dùng bờ quay của hai ngón cái thay nhau thôi (đẩy)–điểm (bấm) từ Ấn đường (印堂) đến chính giữa tiền phát tế 30 lượt; rồi dùng bụng hai ngón cái phân–thôi từ Ấn đường (印堂) sang hai bên Thái dương (太阳) 30 lượt; tiếp theo ấn–nhu Bách hội (百会) khoảng 50 lần; dùng mô ngón cái (đại ngư tế) ấn–nhu Thái dương 30 lần, tức miết về trước và về sau mỗi hướng 15 lần; lại dùng đầu ngón giữa móc–điểm An miên (安眠), Phong trì (风池) mỗi huyệt 30–50 lần; ấn–nhu Trung quản (中脘), Quan nguyên (关元) mỗi huyệt 2–3 phút; điểm–nhu Can du (肝俞), Tỳ du (脾俞), Thận du (肾俞) mỗi huyệt 20–30 lần; nắm–điểm Tam âm giao (三阴交), Túc tam lý (足三里), Thái xung (太冲) mỗi huyệt 20–30 lần; sau đó nhẹ nhàng nắm–nhéo Phong trì (风池) 10 lần; dùng năm ngón tay từ trước ra sau “nắm” đỉnh đầu, đến vùng chẩm thì đổi ba ngón để nắm, thuận thế từ trên xuống dưới nắm–nhéo cơ gáy 3–5 lượt; lại dùng hai mô ngón cái từ đường giữa trán đẩy sang hai bên, tại Thái dương (太阳) ấn–nhu 3–5 lần, rồi đẩy về sau tai, thuận thế đẩy xuống cổ, làm 3 lượt; điểm–nhu Dũng tuyền (涌泉) 30–50 lần, kế tiếp xoa–sát Dũng tuyền đến khi lòng bàn chân nóng lên; mỗi ngày trị 1 lần, 15 ngày tính một liệu trình; chủ trị: mất ngủ; phụ ký: thường trị 1–2 liệu trình là có hiệu quả hoặc khỏi; nếu người bệnh kiên trì tự điểm huyệt hằng ngày, hiệu quả càng tốt; với mất ngủ nặng có thể phối hợp phép “niếp tích” (捏脊) miết sống lưng để nâng cao hiệu quả.
Hysteria (癔症) — thuộc phạm trù “uất chứng (郁证)”, “tạng táo (脏躁)” của Trung y; là một chứng thần kinh chức năng cấp tính do yếu tố tinh thần rõ rệt gây nên, thường gặp ở thanh niên, nữ giới nhiều hơn. 【Nguyên nhân (病因)】 đa do nộ khí thương can (怒气伤肝), hoặc tình chí bất toại (情志不遂) mà thành. 【Chứng trạng (症状)】 thường phát tác đột ngột, có thể kéo dài vài giờ đến vài ngày, phát xong trở lại như người thường; thường thấy các chứng: khóc cười vô thường, nói năng lộn xộn, tay múa chân nhảy; hoặc tình chí uất ức, buồn bực không vui, sợ hãi đa nghi, nét mặt đờ đẫn; hoặc cảm giác vướng vật ở họng, đôi khi giống cơn động kinh (癫痫样发作); lúc phát có thể la hét, cắn người, xé áo, kèm rối loạn vận động và cảm giác, v.v.
【Liệu pháp (疗法)】
Phối huyệt phương một: Đại hoành (大横), Nhân trung (人中), Hợp cốc (合谷). Trị pháp: dùng nhu áp, chỉ cấu (揉压、指掐); dùng bụng hai ngón cái nhu áp Đại hoành 3–5 phút, rồi cấu–ấn Nhân trung và Hợp cốc (hai bên) mỗi huyệt 3–5 phút; sau cơn chỉ nhu áp Đại hoành, Hợp cốc; mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: cơn Hysteria癔症; Phụ ký: lâm sàng dùng có hiệu quả nhất định.
Phối huyệt phương hai: Nhân trung (人中), Cự khuyết (巨阙), Linh đạo (灵道), Hợp cốc (合谷). Trị pháp: chỉ cấu, chỉ áp (指掐、指压); trước cấu Nhân trung, kế cấu Cự khuyết (hai bên), rồi dùng hai ngón cái mạnh cấu hoặc mạnh áp song phương Linh đạo, Hợp cốc; mỗi huyệt 1.5–3 phút; mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. Chủ trị: 癔症; Phụ ký: dùng nhiều năm, có hiệu quả nhất định.
Phối huyệt phương ba: chia 2 nhóm huyệt, đều phối Nhân trung (人中). — Nhóm 1: Phế du (肺俞), Tâm du (心俞), Tam tiêu du (三焦俞), Thứ liêu (次髎), Trung quản (中脘), Quan nguyên (关元), Tam âm giao (三阴交); — Nhóm 2: Đản trung (膻中), Trung quản (中脘), Khí hải (气海), Hợp cốc (合谷). Trị pháp: dùng khấu kích pháp (叩击法); thường lấy nhóm 1, cơn giống động kinh (癫痫样发作) lấy nhóm 2; dùng bốn ngón tay khấu kích, mỗi huyệt 30–40 cái, tần suất 100–120 lần/phút; riêng Hợp cốc, Nhân trung dùng cấu–áp pháp; nhóm 1 dùng khấu kích nhẹ–vừa, nhóm 2 dùng khấu kích nặng; mỗi ngày 1 lần; khấu kích xong ôn cứu (温灸) tại Quan nguyên. Chủ trị: 癔症 hoặc cơn giống động kinh; Phụ ký: khi trị cần giữ tinh thần lạc quan, tránh kích thích tinh thần, nếu phối hợp thuốc thang nội phục thì hiệu quả càng tốt.
Phối huyệt phương bốn: Nhân trung (人中), Thái xung (太冲), Dương lăng tuyền (阳陵泉), Nội quan (内关), Thiên đột (天突), Thiên khu (天枢), Trung cực (中极), Tam âm giao (三阴交). Trị pháp: dùng điểm, cấu, ấn, nắn, nhu (点、掐、按、捏、揉). — Trước hết dùng đầu ngón cái hoặc trỏ mạnh “cắt/cấu” ấn Nhân trung; người hôn quyết thì ấn liên tục đến khi tỉnh, người rối loạn tinh thần, khóc cười vô thường thì ấn 3–5 phút, có thể thả lỏng vài lần. — Lại dùng đầu ngón cái mạnh cấu–ấn Thái xung 3–5 phút, có thể thả lỏng vài lần (thích hợp với Hysteria癔症 gây mù, điếc, giả sa sút trí tuệ). — Tiếp đặt bụng ngón cái lên Dương lăng tuyền, bốn ngón còn lại tựa phía sau, ngón cái dùng lực mạnh nắn–ấn, mỗi nửa phút thả lỏng vài giây, lặp lại đến khi tại chỗ xuất hiện cảm giác toan–trướng rõ rệt (thích hợp癔症 liệt, co giật). — Lại đặt đầu ngón cái lên Nội quan, bốn ngón còn lại đỡ phía sau, đối nắn–áp mạnh, mỗi nửa phút thả lỏng một lần, vài giây sau lại nắn–ấn, lặp nhiều lần, lấy cảm giác trướng nặng rõ tại chỗ làm độ (hiệu với nấc, nôn do Hysteria癔症). — Dùng bụng ngón giữa nhẹ nhàng nhu–ấn Thiên đột 3–5 phút, có thể thả lỏng vài lần (thích hợp trị Hysteria 癔症). — Rồi dùng bụng ngón cái đặt lên Thiên khu, dùng lực vừa mân–nhu–ấn 5–10 phút, có thể thả lỏng nhiều lần (trị trướng bụng, đau bụng). — Dùng đầu ngón giữa nhẹ nhàng nhu–ấn Trung cực 3–5 phút, mỗi nửa phút thả lỏng 1 lần, lấy cảm giác trướng nhẹ tại chỗ làm độ; phối hợp bụng ngón cái nắn–ấn Tam âm giao 2–3 phút (trị tiểu nhiều do癔症). Mỗi ngày trị 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Chủ trị: Hysteria癔症; Phụ ký: kiên trì điều trị giúp cải thiện triệu chứng, giảm phát tác với hiệu quả khá tốt.