Bàn lớn về ý chỉ vi diệu của sáu khí, thịnh suy, bản tiêu, thắng phục và thăng giáng xuất nhập
Đoạn 1
《六微旨大论》
黄帝问曰:呜呼远哉,天之道也,如迎浮云,若视深渊,视深渊尚可测,迎浮云莫知其极。夫子数言谨奉天道,余闻而藏之,心私异之,不知其所谓也。愿夫子溢志尽言其事,令终不灭,久而不绝,天之道可得闻乎。歧伯稽首再拜对曰:明乎哉问天之道也,此因天之序盛衰之时也。
Hán Việt
Lục Vi Chỉ Đại luận.
Hoàng Đế vấn viết: Ô hô viễn tai, thiên chi đạo dã! Như nghênh phù vân, nhược thị thâm uyên. Thị thâm uyên thượng khả trắc, nghênh phù vân mạc tri kỳ cực.
Phu tử sổ ngôn cẩn phụng thiên đạo, dư văn nhi tàng chi, tâm tư dị chi, bất tri kỳ sở vị dã. Nguyện phu tử dật chí tận ngôn kỳ sự, linh chung bất diệt, cửu nhi bất tuyệt, thiên chi đạo khả đắc văn hồ?
Kỳ Bá khể thủ tái bái đối viết: Minh hồ tai vấn thiên chi đạo dã! Thử nhân thiên chi tự, thịnh suy chi thời dã.
Dịch nghĩa
Lục Vi Chỉ Đại luận.
Hoàng Đế hỏi:
Than ôi, đạo của trời thật xa sâu thay! Như đón mây nổi, như nhìn vực sâu. Nhìn vực sâu còn có thể đo lường, còn đón mây nổi thì không biết đâu là cùng tận.
Phu tử nhiều lần nói phải kính cẩn phụng theo đạo trời. Ta nghe rồi giữ trong lòng, riêng tự lấy làm lạ, nhưng vẫn chưa hiểu ý nghĩa là gì. Mong phu tử mở rộng chí ý, nói hết sự việc ấy, khiến cho đạo ấy đến cuối cũng không mất, lâu dài mà không dứt. Đạo của trời có thể được nghe chăng?
Kỳ Bá cúi đầu, lạy hai lạy rồi đáp:
Câu hỏi về đạo trời sáng rõ thay! Điều này là dựa theo trật tự của trời và thời thịnh suy của khí vậy.
Giải thích từ ngữ
Lục vi chỉ (六微旨): ý chỉ vi diệu của sáu khí. Sáu khí gồm phong, nhiệt, thấp, hỏa, táo, hàn, tương ứng với Tam âm Tam dương trong hệ vận khí.
Thiên đạo (天道): đạo vận hành của trời, tức quy luật thịnh suy, thắng phục, thăng giáng của khí trời đất.
Như nghênh phù vân (如迎浮云): như đón mây nổi, ý nói đạo trời biến hóa mênh mông, khó nắm bắt.
Nhược thị thâm uyên (若视深渊): như nhìn vực sâu, sâu thẳm nhưng vẫn còn có thể dò; mây nổi thì biến hóa không cùng.
Cẩn phụng thiên đạo (谨奉天道): kính cẩn theo đạo trời, nghĩa là trị bệnh, dưỡng sinh, xét khí đều phải thuận thời khí và quy luật tự nhiên.
Thiên chi tự (天之序): thứ tự vận hành của thiên khí.
Thịnh suy chi thời (盛衰之时): thời điểm khí thịnh hay suy, đến hay chưa đến, thái quá hay bất cập.
Đoạn 2
帝曰:愿闻天道六六之节盛衰何也。歧伯曰:上下有位,左右有纪。故少阳之右,阳明治之。阳明之右,太阳治之。太阳之右,厥阴治之。厥阴之右,少阴治之。少阴之右,太阴治之。太阴之右,少阳治之。此所谓气之标,盖南面而待也。故曰:因天之序,盛衰之时,移光定位,正立而待之,此之谓也。少阳之上,火气治之,中见厥阴。阳明之上,燥气治之,中见太阴。太阳之上,寒气治之,中见少阴。厥阴之上,风气治之,中见少阳。少阴之上,热气治之,中见太阳。太阴之上,湿气治之,中见阳明。所谓本也。本之下,中之见也。见之下,气之标也。本标不同,气应异象。
Hán Việt
Đế viết: Nguyện văn thiên đạo lục lục chi tiết thịnh suy hà dã?
Kỳ Bá viết: Thượng hạ hữu vị, tả hữu hữu kỷ. Cố Thiếu dương chi hữu, Dương minh trị chi. Dương minh chi hữu, Thái dương trị chi. Thái dương chi hữu, Quyết âm trị chi. Quyết âm chi hữu, Thiếu âm trị chi. Thiếu âm chi hữu, Thái âm trị chi. Thái âm chi hữu, Thiếu dương trị chi.
Thử sở vị khí chi tiêu, cái nam diện nhi đãi dã.
Cố viết: nhân thiên chi tự, thịnh suy chi thời, di quang định vị, chính lập nhi đãi chi, thử chi vị dã.
Thiếu dương chi thượng, hỏa khí trị chi, trung kiến Quyết âm. Dương minh chi thượng, táo khí trị chi, trung kiến Thái âm. Thái dương chi thượng, hàn khí trị chi, trung kiến Thiếu âm. Quyết âm chi thượng, phong khí trị chi, trung kiến Thiếu dương. Thiếu âm chi thượng, nhiệt khí trị chi, trung kiến Thái dương. Thái âm chi thượng, thấp khí trị chi, trung kiến Dương minh.
Sở vị bản dã. Bản chi hạ, trung chi kiến dã. Kiến chi hạ, khí chi tiêu dã. Bản tiêu bất đồng, khí ứng dị tượng.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta muốn nghe về sáu lần sáu tiết của đạo trời, thịnh suy là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Trên dưới có vị trí, trái phải có kỷ cương.
Cho nên, bên phải của Thiếu dương là Dương minh cai trị. Bên phải của Dương minh là Thái dương cai trị. Bên phải của Thái dương là Quyết âm cai trị. Bên phải của Quyết âm là Thiếu âm cai trị. Bên phải của Thiếu âm là Thái âm cai trị. Bên phải của Thái âm là Thiếu dương cai trị.
Đó gọi là tiêu của khí, là cách định vị như người quay mặt về phương nam mà chờ xét.
Cho nên nói: dựa theo thứ tự của trời, xét thời thịnh suy, dời ánh sáng để định vị, đứng ngay thẳng mà chờ nó, chính là nghĩa này.
Trên Thiếu dương, hỏa khí cai trị, ở giữa hiện Quyết âm.
Trên Dương minh, táo khí cai trị, ở giữa hiện Thái âm.
Trên Thái dương, hàn khí cai trị, ở giữa hiện Thiếu âm.
Trên Quyết âm, phong khí cai trị, ở giữa hiện Thiếu dương.
Trên Thiếu âm, nhiệt khí cai trị, ở giữa hiện Thái dương.
Trên Thái âm, thấp khí cai trị, ở giữa hiện Dương minh.
Đó gọi là bản.
Dưới bản là chỗ thấy của trung khí. Dưới chỗ thấy ấy là tiêu của khí.
Bản và tiêu không giống nhau, nên khí ứng ra các hiện tượng khác nhau.
Giải thích từ ngữ
Lục lục chi tiết (六六之节): sáu khí theo sáu vị, lại vận hành qua các chu kỳ, nên gọi là sáu lần sáu tiết. Đây là cách nói của hệ Ngũ vận Lục khí.
Thượng hạ hữu vị (上下有位): khí ở trên, khí ở dưới đều có vị trí nhất định.
Tả hữu hữu kỷ (左右有纪): trái phải có quy luật xoay chuyển, không lộn xộn.
Khí chi tiêu (气之标): phần biểu hiện bên ngoài của khí, tức chỗ khí hiện ra ở Tam âm Tam dương.
Nam diện nhi đãi (南面而待): quay mặt về phương nam để định trái phải; đây là quy ước định vị trong vận khí cổ.
Bản (本): gốc của khí, tức sáu khí như phong, nhiệt, thấp, hỏa, táo, hàn.
Tiêu (标): ngọn, biểu hiện của khí qua Tam âm Tam dương.
Trung kiến (中见): trung khí hiện ở giữa bản và tiêu. Ví dụ Thiếu dương ở trên thì hỏa là bản, ở giữa thấy Quyết âm là trung khí.
Bản tiêu bất đồng, khí ứng dị tượng: gốc khí và biểu hiện không giống nhau, nên khi ứng ra bệnh khí, thời khí, mạch khí cũng có hình tượng khác nhau.
Đoạn 3
帝曰:其有至而至,有至而不至,有至而太过,何也。歧伯曰:至而至者和。至而不至,来气不及也。未至而至,来气有馀也。帝曰:至而不至,未至而至,如何。歧伯曰:应则顺,否则逆,逆则变生,变则病。帝曰:善。请言其应。歧伯曰:物,生其应也。气,脉其应也。
Hán Việt
Đế viết: Kỳ hữu chí nhi chí, hữu chí nhi bất chí, hữu chí nhi thái quá, hà dã?
Kỳ Bá viết: Chí nhi chí giả hòa. Chí nhi bất chí, lai khí bất cập dã. Vị chí nhi chí, lai khí hữu dư dã.
Đế viết: Chí nhi bất chí, vị chí nhi chí, như hà?
Kỳ Bá viết: Ứng tắc thuận, phủ tắc nghịch. Nghịch tắc biến sinh, biến tắc bệnh.
Đế viết: Thiện. Thỉnh ngôn kỳ ứng.
Kỳ Bá viết: Vật, sinh kỳ ứng dã. Khí, mạch kỳ ứng dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Có trường hợp đến thời thì khí đến, có trường hợp đến thời mà khí không đến, có trường hợp khí đến mà thái quá, là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Đến thời mà khí cũng đến, thì là hòa.
Đến thời mà khí không đến, là khí đến không đủ, tức bất cập.
Chưa đến thời mà khí đã đến, là khí đến có dư, tức hữu dư.
Hoàng Đế hỏi:
Đến thời mà khí không đến, hoặc chưa đến thời mà khí đã đến, thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Nếu ứng hợp thì thuận. Nếu không ứng hợp thì nghịch. Nghịch thì sinh biến. Đã biến thì thành bệnh.
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Xin nói về sự ứng của nó.
Kỳ Bá nói:
Ở vật thì sự sinh trưởng của vật ứng với nó. Ở khí thì mạch ứng với nó.
Giải thích từ ngữ
Chí nhi chí (至而至): đến đúng thời mà khí cũng đến đúng mức, là khí hòa.
Chí nhi bất chí (至而不至): thời đã đến nhưng khí chưa đủ, là bất cập.
Vị chí nhi chí (未至而至): thời chưa đến mà khí đã đến trước, là hữu dư, thái quá.
Ứng tắc thuận (应则顺): khí đến phù hợp với thời, vật, mạch thì thuận.
Nghịch tắc biến sinh (逆则变生): khí đến sai thời, sai mức thì sinh biến hóa bất thường.
Vật sinh kỳ ứng (物,生其应): cây cỏ, sinh vật, khí hậu bên ngoài có biểu hiện ứng với vận khí.
Mạch kỳ ứng (脉其应): mạch tượng trong người cũng ứng với khí của thời.
Đoạn 4
帝曰:善。愿闻地理之应六节气位何如。歧伯曰:显明之右,君火之位也。君火之右,退行一步,相火治之,复行一步,土气治之,复行一步,金气治之,复行一步,水气治之,复行一步,木气治之,复行一步,君火治之。相火之下,水气承之。水位之下,土气承之。土位之下,风气承之。风位之下,金气承之。金位之下,火气承之。君火之下,阴精承之。帝曰:何也。歧伯曰:亢则害,承乃制,制则生化,外列盛衰,害则败乱,生化大病。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Nguyện văn địa lý chi ứng lục tiết khí vị hà như?
Kỳ Bá viết: Hiển minh chi hữu, Quân hỏa chi vị dã. Quân hỏa chi hữu, thoái hành nhất bộ, Tướng hỏa trị chi; phục hành nhất bộ, Thổ khí trị chi; phục hành nhất bộ, Kim khí trị chi; phục hành nhất bộ, Thủy khí trị chi; phục hành nhất bộ, Mộc khí trị chi; phục hành nhất bộ, Quân hỏa trị chi.
Tướng hỏa chi hạ, Thủy khí thừa chi. Thủy vị chi hạ, Thổ khí thừa chi. Thổ vị chi hạ, Phong khí thừa chi. Phong vị chi hạ, Kim khí thừa chi. Kim vị chi hạ, Hỏa khí thừa chi. Quân hỏa chi hạ, Âm tinh thừa chi.
Đế viết: Hà dã?
Kỳ Bá viết: Kháng tắc hại, thừa nãi chế. Chế tắc sinh hóa. Ngoại liệt thịnh suy. Hại tắc bại loạn, sinh hóa đại bệnh.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Ta muốn nghe địa lý ứng với sáu tiết và vị trí của khí như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Bên phải của Hiển minh là vị trí của Quân hỏa. Bên phải Quân hỏa, lui một bước là Tướng hỏa cai trị. Lại đi một bước là Thổ khí cai trị. Lại đi một bước là Kim khí cai trị. Lại đi một bước là Thủy khí cai trị. Lại đi một bước là Mộc khí cai trị. Lại đi một bước thì Quân hỏa lại cai trị.
Dưới Tướng hỏa có Thủy khí thừa tiếp để chế ước.
Dưới vị trí của Thủy có Thổ khí thừa tiếp.
Dưới vị trí của Thổ có Phong khí thừa tiếp.
Dưới vị trí của Phong có Kim khí thừa tiếp.
Dưới vị trí của Kim có Hỏa khí thừa tiếp.
Dưới Quân hỏa có Âm tinh thừa tiếp.
Hoàng Đế hỏi:
Vì sao như vậy?
Kỳ Bá nói:
Khí quá cao, quá thịnh thì gây hại. Có khí thừa tiếp ở dưới thì mới chế ước được. Có chế ước thì sinh hóa mới tiếp tục.
Bên ngoài hiện ra thịnh suy. Nếu không chế mà thành hại, thì sinh bại loạn, sinh hóa thành bệnh lớn.
Giải thích từ ngữ
Hiển minh (显明): vị trí sáng rõ, thường dùng trong vận khí để chỉ một vị trí khởi đầu liên hệ hỏa khí.
Quân hỏa (君火): hỏa của quân chủ, sáng rõ, chủ thần minh, ứng Thiếu âm.
Tướng hỏa (相火): hỏa của tướng, vận hành, phụ tá, ứng Thiếu dương.
Thừa (承): thừa tiếp, nâng đỡ và chế ước. Một khí ở dưới nâng và chế khí ở trên.
Kháng tắc hại (亢则害): khí thái quá, lên cao quá mức thì gây hại.
Thừa nãi chế (承乃制): có khí bên dưới thừa tiếp thì chế được sự thái quá.
Chế tắc sinh hóa: có chế ước đúng thì sinh hóa được tiếp tục bình thường.
Bại loạn (败乱): khí mất trật tự, sinh hóa hư hỏng, thành bệnh lớn.
Đoạn 5
帝曰:盛衰何如。歧伯曰:非其位则邪,当其位则正,邪则变甚,正则微。帝曰:何谓当位。歧伯曰:木运临卯,火运临午,土运临四季,金运临酉,水运临子,所谓岁会,气之平也。帝曰:非位何如。歧伯曰:岁不与会也。帝曰:土运之岁,上见太阴,火运之岁,上见少阳少阴,金运之岁,上见阳明,木运之岁,上见厥阴,水运之岁,上见太阳,柰何。歧伯曰:天之与会也。故《天元册》曰:天符。天符岁会何如。歧伯曰:太一天符之会也。帝曰:其贵贱何如。歧伯曰:天符为执法,岁位为行令,太一天符为贵人。帝曰:邪之中也柰何。歧伯曰:中执法者,其病速而危。中行令者,其病徐而特。中贵人者,其病暴而死。帝曰:位之易也何如。歧伯曰:君位臣则顺,臣位君则逆,逆则其病近,其害速,顺则其病远,其害微,所谓二火也。
Hán Việt
Đế viết: Thịnh suy hà như?
Kỳ Bá viết: Phi kỳ vị tắc tà, đương kỳ vị tắc chính. Tà tắc biến thậm, chính tắc vi.
Đế viết: Hà vị đương vị?
Kỳ Bá viết: Mộc vận lâm Mão, Hỏa vận lâm Ngọ, Thổ vận lâm tứ quý, Kim vận lâm Dậu, Thủy vận lâm Tý, sở vị Tuế hội, khí chi bình dã.
Đế viết: Phi vị hà như?
Kỳ Bá viết: Tuế bất dữ hội dã.
Đế viết: Thổ vận chi tuế, thượng kiến Thái âm; Hỏa vận chi tuế, thượng kiến Thiếu dương, Thiếu âm; Kim vận chi tuế, thượng kiến Dương minh; Mộc vận chi tuế, thượng kiến Quyết âm; Thủy vận chi tuế, thượng kiến Thái dương, nại hà?
Kỳ Bá viết: Thiên chi dữ hội dã. Cố “Thiên Nguyên Sách” viết: Thiên phù.
Thiên phù Tuế hội hà như?
Kỳ Bá viết: Thái nhất Thiên phù chi hội dã.
Đế viết: Kỳ quý tiện hà như?
Kỳ Bá viết: Thiên phù vi chấp pháp, Tuế vị vi hành lệnh, Thái nhất Thiên phù vi quý nhân.
Đế viết: Tà chi trúng dã nại hà?
Kỳ Bá viết: Trúng chấp pháp giả, kỳ bệnh tốc nhi nguy. Trúng hành lệnh giả, kỳ bệnh từ nhi đặc. Trúng quý nhân giả, kỳ bệnh bạo nhi tử.
Đế viết: Vị chi dịch dã hà như?
Kỳ Bá viết: Quân vị thần tắc thuận, thần vị quân tắc nghịch. Nghịch tắc kỳ bệnh cận, kỳ hại tốc. Thuận tắc kỳ bệnh viễn, kỳ hại vi. Sở vị nhị hỏa dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Thịnh suy là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Không ở đúng vị trí của mình thì thành tà. Ở đúng vị trí của mình thì là chính. Là tà thì biến hóa mạnh. Là chính thì biến hóa nhẹ.
Hoàng Đế hỏi:
Thế nào gọi là đúng vị trí?
Kỳ Bá nói:
Mộc vận lâm vào Mão, Hỏa vận lâm vào Ngọ, Thổ vận lâm vào bốn mùa cuối quý, Kim vận lâm vào Dậu, Thủy vận lâm vào Tý, đó gọi là Tuế hội, là khí bình hòa.
Hoàng Đế hỏi:
Không đúng vị trí thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Là năm ấy không hội với vị trí của nó.
Hoàng Đế hỏi:
Năm thuộc Thổ vận, phía trên hiện Thái âm. Năm thuộc Hỏa vận, phía trên hiện Thiếu dương hoặc Thiếu âm. Năm thuộc Kim vận, phía trên hiện Dương minh. Năm thuộc Mộc vận, phía trên hiện Quyết âm. Năm thuộc Thủy vận, phía trên hiện Thái dương. Điều ấy là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Đó là trời cùng hội với vận của năm. Cho nên “Thiên Nguyên Sách” gọi là Thiên phù.
Hoàng Đế hỏi:
Thiên phù và Tuế hội cùng gặp thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Đó là hội của Thái nhất Thiên phù.
Hoàng Đế hỏi:
Cao thấp, quý tiện của chúng như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Thiên phù là người giữ pháp. Tuế vị là người thi hành lệnh. Thái nhất Thiên phù là bậc quý nhân.
Hoàng Đế hỏi:
Khi tà khí trúng vào thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Trúng vào Chấp pháp thì bệnh nhanh và nguy. Trúng vào Hành lệnh thì bệnh chậm nhưng đặc biệt. Trúng vào Quý nhân thì bệnh bạo phát mà chết.
Hoàng Đế hỏi:
Nếu vị trí thay đổi thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Quân ở vào vị trí của thần thì thuận. Thần ở vào vị trí của quân thì nghịch. Nghịch thì bệnh gần, hại nhanh. Thuận thì bệnh xa, hại nhẹ. Đó là nói về hai hỏa.
Giải thích từ ngữ
Đương vị (当位): khí ở đúng vị trí, đúng năm, đúng phương, đúng thời.
Phi kỳ vị tắc tà (非其位则邪): khí không đúng vị, dù bản thân là chính khí, cũng có thể thành tà.
Tuế hội (岁会): khi tuế vận gặp đúng vị trí sở thuộc của ngũ hành, khí được bình hòa.
Thiên phù (天符): khi khí của trời ứng hợp với tuế vận.
Thái nhất Thiên phù (太一天符): khi Thiên phù và Tuế hội cùng gặp, khí thế rất mạnh, ảnh hưởng lớn.
Chấp pháp (执法): ví Thiên phù như người giữ pháp luật, tác động nghiêm.
Hành lệnh (行令): ví Tuế hội như người thi hành mệnh lệnh, tác động theo lệnh của năm.
Quý nhân (贵人): ví Thái nhất Thiên phù như bậc tôn quý, khí thế mạnh, bệnh đến có thể bạo liệt.
Quân hỏa và Tướng hỏa: hai loại hỏa. Quân hỏa ở vị trí chủ thì chính; Tướng hỏa phụ tá thì thuận. Nếu tướng lấn vị quân thì nghịch.
Đoạn 6
帝曰:善。愿闻其步何如。歧伯曰:所谓步者,六十度而有奇,故二十四步积盈百刻而成日也。帝曰:六气应五行之变何如。歧伯曰:位有终始,气有初中,上下不同,求之亦异也。帝曰:求之柰何。歧伯曰:天气始于甲,地气始于子,子甲相合,命曰岁立,谨候其时,气可与期。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Nguyện văn kỳ bộ hà như?
Kỳ Bá viết: Sở vị bộ giả, lục thập độ nhi hữu kỳ, cố nhị thập tứ bộ tích doanh bách khắc nhi thành nhật dã.
Đế viết: Lục khí ứng ngũ hành chi biến hà như?
Kỳ Bá viết: Vị hữu chung thủy, khí hữu sơ trung, thượng hạ bất đồng, cầu chi diệc dị dã.
Đế viết: Cầu chi nại hà?
Kỳ Bá viết: Thiên khí thủy vu Giáp, địa khí thủy vu Tý. Tý Giáp tương hợp, mệnh viết tuế lập. Cẩn hậu kỳ thời, khí khả dữ kỳ.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Ta muốn nghe về “bộ” là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Điều gọi là bộ, là sáu mươi độ có dư một chút. Vì vậy, hai mươi bốn bộ tích lại, đầy một trăm khắc thì thành một ngày.
Hoàng Đế hỏi:
Sáu khí ứng với biến hóa của ngũ hành như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Vị trí có đầu có cuối. Khí có sơ khí và trung khí. Trên dưới không giống nhau, nên cách tìm cũng khác nhau.
Hoàng Đế hỏi:
Tìm như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Thiên khí bắt đầu ở Giáp, địa khí bắt đầu ở Tý. Tý và Giáp hợp nhau, gọi là lập năm. Cẩn thận quan sát thời của nó thì có thể dự liệu được khí.
Giải thích từ ngữ
Bộ (步): bước vận hành của khí theo độ số thời gian. Trong vận khí học, “bộ” là đơn vị để tính sự chuyển dịch của khí.
Lục thập độ nhi hữu kỳ: mỗi bộ khoảng sáu mươi độ có dư, dùng để tính vòng vận hành.
Bách khắc (百刻): một ngày chia thành một trăm khắc theo phép tính thời gian cổ.
Sơ trung (初中): sơ khí và trung khí, tức phần đầu và phần giữa trong một giai đoạn khí.
Thiên khí thủy vu Giáp: khí trời lấy Giáp làm đầu.
Địa khí thủy vu Tý: khí đất lấy Tý làm đầu.
Tý Giáp tương hợp: Thiên can Giáp và Địa chi Tý hợp lại, mở đầu một năm trong hệ can chi.
Tuế lập (岁立): năm được lập, tức xác định khí của năm.
Đoạn 7
帝曰:愿闻其岁六气始终早晏何如。歧伯曰:明乎哉问也。甲子之岁,初之气天数始于水下一刻,终于八十七刻半。二之气始于八十七刻六分,终于七十五刻。三之气始于七十六刻,终于六十二刻半。四之气始于六十二刻六分,终于五十刻。五之气始于五十一刻,终于三十七刻半。六之气始于三十七刻六分,终于二十五刻。所谓初六,天之数也。乙丑岁初之气天数始于二十六刻,终于一十二刻半。二之气始于一十二刻六分,终于水下百刻。三之气始于一刻,终于八十七刻半。四之气始于八十七刻六分,终于七十五刻。五之气始于七十六刻,终于六十二刻半。六之气始于六十二刻六分,终于五十刻。所谓六二,天之数也。丙寅岁,初之气天数始于五十一刻,终于三十七刻半。二之气始于三十七刻六分,终于二十五刻。三之气始于二十六刻,终于一十二刻半。四之气始于一十二刻六分,终于水下百刻。五之气始于一刻,终于八十七刻半。六之气始于八十七刻六分,终于七十五刻。所谓六三,天之数也。丁卯岁,初之气天数始于七十六刻,终于六十二刻半。二之气始于六十二刻六分,终于五十刻。三之气始于五十一刻,终于三十七刻半。四之气始于三十七刻六分,终于二十五刻。五之气始于二十六刻,终于一十二刻半。六之气始于一十二刻六分,终于水下百刻。所谓六四,天之数也。次戊辰岁,初之气复始于一刻,常如是无已,周而复始。帝曰:愿闻其岁候何如。歧伯曰:悉乎哉问也。日行一周,天气始于一刻,日行再周,天气始于二十六刻,日行三周,天气始于五十一刻,日行四周,天气始于七十六刻,日行五周,天气复始于一刻,所谓一纪也。是故寅午戌岁气会同,卯未亥岁气会同,辰申子岁气会同,览巳酉丑岁气会同,终而复始。
Hán Việt
Đế viết: Nguyện văn kỳ tuế lục khí thủy chung tảo yến hà như?
Kỳ Bá viết: Minh hồ tai vấn dã!
Giáp Tý chi tuế, sơ chi khí thiên số thủy vu thủy hạ nhất khắc, chung vu bát thập thất khắc bán. Nhị chi khí thủy vu bát thập thất khắc lục phân, chung vu thất thập ngũ khắc. Tam chi khí thủy vu thất thập lục khắc, chung vu lục thập nhị khắc bán. Tứ chi khí thủy vu lục thập nhị khắc lục phân, chung vu ngũ thập khắc. Ngũ chi khí thủy vu ngũ thập nhất khắc, chung vu tam thập thất khắc bán. Lục chi khí thủy vu tam thập thất khắc lục phân, chung vu nhị thập ngũ khắc. Sở vị sơ lục, thiên chi số dã.
Ất Sửu tuế, sơ chi khí thiên số thủy vu nhị thập lục khắc, chung vu nhất thập nhị khắc bán. Nhị chi khí thủy vu nhất thập nhị khắc lục phân, chung vu thủy hạ bách khắc. Tam chi khí thủy vu nhất khắc, chung vu bát thập thất khắc bán. Tứ chi khí thủy vu bát thập thất khắc lục phân, chung vu thất thập ngũ khắc. Ngũ chi khí thủy vu thất thập lục khắc, chung vu lục thập nhị khắc bán. Lục chi khí thủy vu lục thập nhị khắc lục phân, chung vu ngũ thập khắc. Sở vị lục nhị, thiên chi số dã.
Bính Dần tuế, sơ chi khí thiên số thủy vu ngũ thập nhất khắc, chung vu tam thập thất khắc bán. Nhị chi khí thủy vu tam thập thất khắc lục phân, chung vu nhị thập ngũ khắc. Tam chi khí thủy vu nhị thập lục khắc, chung vu nhất thập nhị khắc bán. Tứ chi khí thủy vu nhất thập nhị khắc lục phân, chung vu thủy hạ bách khắc. Ngũ chi khí thủy vu nhất khắc, chung vu bát thập thất khắc bán. Lục chi khí thủy vu bát thập thất khắc lục phân, chung vu thất thập ngũ khắc. Sở vị lục tam, thiên chi số dã.
Đinh Mão tuế, sơ chi khí thiên số thủy vu thất thập lục khắc, chung vu lục thập nhị khắc bán. Nhị chi khí thủy vu lục thập nhị khắc lục phân, chung vu ngũ thập khắc. Tam chi khí thủy vu ngũ thập nhất khắc, chung vu tam thập thất khắc bán. Tứ chi khí thủy vu tam thập thất khắc lục phân, chung vu nhị thập ngũ khắc. Ngũ chi khí thủy vu nhị thập lục khắc, chung vu nhất thập nhị khắc bán. Lục chi khí thủy vu nhất thập nhị khắc lục phân, chung vu thủy hạ bách khắc. Sở vị lục tứ, thiên chi số dã.
Thứ Mậu Thìn tuế, sơ chi khí phục thủy vu nhất khắc, thường như thị vô dĩ, chu nhi phục thủy.
Đế viết: Nguyện văn kỳ tuế hậu hà như?
Kỳ Bá viết: Tất hồ tai vấn dã! Nhật hành nhất chu, thiên khí thủy vu nhất khắc. Nhật hành tái chu, thiên khí thủy vu nhị thập lục khắc. Nhật hành tam chu, thiên khí thủy vu ngũ thập nhất khắc. Nhật hành tứ chu, thiên khí thủy vu thất thập lục khắc. Nhật hành ngũ chu, thiên khí phục thủy vu nhất khắc, sở vị nhất kỷ dã.
Thị cố Dần Ngọ Tuất tuế khí hội đồng, Mão Mùi Hợi tuế khí hội đồng, Thìn Thân Tý tuế khí hội đồng, Tỵ Dậu Sửu tuế khí hội đồng, chung nhi phục thủy.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Ta muốn nghe trong mỗi năm, sáu khí bắt đầu và kết thúc sớm muộn như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi sáng rõ thay!
Năm Giáp Tý, sơ khí theo thiên số bắt đầu ở dưới thủy một khắc, kết thúc ở tám mươi bảy khắc rưỡi. Khí thứ hai bắt đầu ở tám mươi bảy khắc sáu phân, kết thúc ở bảy mươi lăm khắc. Khí thứ ba bắt đầu ở bảy mươi sáu khắc, kết thúc ở sáu mươi hai khắc rưỡi. Khí thứ tư bắt đầu ở sáu mươi hai khắc sáu phân, kết thúc ở năm mươi khắc. Khí thứ năm bắt đầu ở năm mươi mốt khắc, kết thúc ở ba mươi bảy khắc rưỡi. Khí thứ sáu bắt đầu ở ba mươi bảy khắc sáu phân, kết thúc ở hai mươi lăm khắc. Đó gọi là sơ lục, là số của trời.
Năm Ất Sửu, sơ khí theo thiên số bắt đầu ở hai mươi sáu khắc, kết thúc ở mười hai khắc rưỡi. Khí thứ hai bắt đầu ở mười hai khắc sáu phân, kết thúc ở dưới thủy một trăm khắc. Khí thứ ba bắt đầu ở một khắc, kết thúc ở tám mươi bảy khắc rưỡi. Khí thứ tư bắt đầu ở tám mươi bảy khắc sáu phân, kết thúc ở bảy mươi lăm khắc. Khí thứ năm bắt đầu ở bảy mươi sáu khắc, kết thúc ở sáu mươi hai khắc rưỡi. Khí thứ sáu bắt đầu ở sáu mươi hai khắc sáu phân, kết thúc ở năm mươi khắc. Đó gọi là lục nhị, là số của trời.
Năm Bính Dần, sơ khí theo thiên số bắt đầu ở năm mươi mốt khắc, kết thúc ở ba mươi bảy khắc rưỡi. Khí thứ hai bắt đầu ở ba mươi bảy khắc sáu phân, kết thúc ở hai mươi lăm khắc. Khí thứ ba bắt đầu ở hai mươi sáu khắc, kết thúc ở mười hai khắc rưỡi. Khí thứ tư bắt đầu ở mười hai khắc sáu phân, kết thúc ở dưới thủy một trăm khắc. Khí thứ năm bắt đầu ở một khắc, kết thúc ở tám mươi bảy khắc rưỡi. Khí thứ sáu bắt đầu ở tám mươi bảy khắc sáu phân, kết thúc ở bảy mươi lăm khắc. Đó gọi là lục tam, là số của trời.
Năm Đinh Mão, sơ khí theo thiên số bắt đầu ở bảy mươi sáu khắc, kết thúc ở sáu mươi hai khắc rưỡi. Khí thứ hai bắt đầu ở sáu mươi hai khắc sáu phân, kết thúc ở năm mươi khắc. Khí thứ ba bắt đầu ở năm mươi mốt khắc, kết thúc ở ba mươi bảy khắc rưỡi. Khí thứ tư bắt đầu ở ba mươi bảy khắc sáu phân, kết thúc ở hai mươi lăm khắc. Khí thứ năm bắt đầu ở hai mươi sáu khắc, kết thúc ở mười hai khắc rưỡi. Khí thứ sáu bắt đầu ở mười hai khắc sáu phân, kết thúc ở dưới thủy một trăm khắc. Đó gọi là lục tứ, là số của trời.
Tiếp đến năm Mậu Thìn, sơ khí lại bắt đầu ở một khắc. Thường cứ như vậy không ngừng, xoay vòng rồi lại bắt đầu.
Hoàng Đế hỏi:
Ta muốn nghe dấu hiệu của năm ấy như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi thật đầy đủ thay!
Mặt trời đi một vòng, thiên khí bắt đầu ở một khắc. Mặt trời đi vòng thứ hai, thiên khí bắt đầu ở hai mươi sáu khắc. Mặt trời đi vòng thứ ba, thiên khí bắt đầu ở năm mươi mốt khắc. Mặt trời đi vòng thứ tư, thiên khí bắt đầu ở bảy mươi sáu khắc. Mặt trời đi vòng thứ năm, thiên khí lại bắt đầu ở một khắc. Đó gọi là một kỷ.
Vì vậy, các năm Dần, Ngọ, Tuất có khí hội đồng với nhau. Các năm Mão, Mùi, Hợi có khí hội đồng với nhau. Các năm Thìn, Thân, Tý có khí hội đồng với nhau. Các năm Tỵ, Dậu, Sửu có khí hội đồng với nhau. Hết rồi lại bắt đầu.
Giải thích từ ngữ
Sơ khí, nhị khí, tam khí, tứ khí, ngũ khí, lục khí: một năm chia thành sáu giai đoạn khí, mỗi giai đoạn có khí chủ.
Khắc (刻): đơn vị thời gian cổ, một ngày chia thành một trăm khắc.
Thiên số (天数): số vận hành của trời, dùng để tính sự bắt đầu và kết thúc của sáu khí.
Tảo yến (早晏): sớm muộn, chỉ sự đến trước hay đến sau của khí.
Nhất kỷ (一纪): một chu kỳ nhỏ trong phép tính vận khí.
Dần Ngọ Tuất, Mão Mùi Hợi, Thìn Thân Tý, Tỵ Dậu Sửu: các nhóm địa chi có khí hội đồng, tức có quy luật khí tương ứng nhau.
Đoạn này chủ yếu ghi phép số của vận khí. Khi ứng dụng không nhất thiết phải hiểu như lịch hiện đại từng phút từng giờ, mà nên nắm ý: sáu khí có thứ tự, có sớm muộn, có chu kỳ, có nhóm năm cùng khí hội đồng.
Đoạn 8
帝曰:愿闻其用也。歧伯曰:言天者求之本,言地者求之位,言人者求之气交。帝曰:何谓气交。歧伯曰:上下之位,气交之中,人之居也。故曰:天枢之上,天气主之,天枢之下,地气主之,气交之分,人气从之,万物由之,此之谓也。
Hán Việt
Đế viết: Nguyện văn kỳ dụng dã.
Kỳ Bá viết: Ngôn thiên giả cầu chi bản, ngôn địa giả cầu chi vị, ngôn nhân giả cầu chi khí giao.
Đế viết: Hà vị khí giao?
Kỳ Bá viết: Thượng hạ chi vị, khí giao chi trung, nhân chi cư dã. Cố viết: Thiên khu chi thượng, thiên khí chủ chi; Thiên khu chi hạ, địa khí chủ chi. Khí giao chi phân, nhân khí tòng chi, vạn vật do chi, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta muốn nghe cách dùng của nó.
Kỳ Bá nói:
Nói về trời thì tìm ở bản. Nói về đất thì tìm ở vị trí. Nói về người thì tìm ở nơi khí giao.
Hoàng Đế hỏi:
Thế nào gọi là khí giao?
Kỳ Bá nói:
Giữa vị trí trên và dưới, ở trong chỗ khí giao nhau, là nơi con người cư trú.
Cho nên nói: trên Thiên khu thì thiên khí làm chủ; dưới Thiên khu thì địa khí làm chủ. Ở phần khí giao, nhân khí theo đó, muôn vật từ đó mà sinh. Chính là nghĩa này.
Giải thích từ ngữ
Ngôn thiên cầu chi bản: nói trời thì xét gốc khí, tức lục khí chủ ở trên.
Ngôn địa cầu chi vị: nói đất thì xét vị trí, nơi khí đặt vào và thành hình.
Ngôn nhân cầu chi khí giao: nói người thì xét nơi thiên khí và địa khí giao nhau, vì người ở giữa trời đất.
Khí giao (气交): nơi khí trời và khí đất giao nhau. Con người sống trong vùng khí giao, nên bệnh và sinh lý đều chịu ảnh hưởng của hai khí trên dưới.
Thiên khu (天枢): trục của trời, cũng có thể hiểu là ranh giới giữa phần thiên khí và địa khí trong hệ vận khí.
Nhân khí tòng chi: khí của con người theo sự giao hội của trời đất mà biến hóa.
Đoạn 9
帝曰:何谓初中。歧伯曰:初凡三十度而有奇,中气同法。帝曰:初中何也。歧伯曰:所以分天地也。帝曰:愿卒闻之。歧伯曰:初者,地气也,中者,天气也。帝曰:其升降何如。歧伯曰:气之升降,天地之更用也。帝曰:愿闻其用何如。歧伯曰:升已而降,降者谓天。降已而升,升者谓地。天气下降,气流于地,地气上升,气腾于天,故高下相召,升降相因,而变作矣。
Hán Việt
Đế viết: Hà vị sơ trung?
Kỳ Bá viết: Sơ phàm tam thập độ nhi hữu kỳ, trung khí đồng pháp.
Đế viết: Sơ trung hà dã?
Kỳ Bá viết: Sở dĩ phân thiên địa dã.
Đế viết: Nguyện tốt văn chi.
Kỳ Bá viết: Sơ giả, địa khí dã; trung giả, thiên khí dã.
Đế viết: Kỳ thăng giáng hà như?
Kỳ Bá viết: Khí chi thăng giáng, thiên địa chi cánh dụng dã.
Đế viết: Nguyện văn kỳ dụng hà như?
Kỳ Bá viết: Thăng dĩ nhi giáng, giáng giả vị thiên. Giáng dĩ nhi thăng, thăng giả vị địa. Thiên khí hạ giáng, khí lưu vu địa; địa khí thượng thăng, khí đằng vu thiên. Cố cao hạ tương triệu, thăng giáng tương nhân, nhi biến tác hĩ.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Thế nào gọi là sơ và trung?
Kỳ Bá nói:
Sơ thường gồm ba mươi độ có dư; trung khí cũng theo phép ấy.
Hoàng Đế hỏi:
Sơ và trung là gì?
Kỳ Bá nói:
Là để phân biệt trời và đất.
Hoàng Đế nói:
Ta muốn nghe đầy đủ.
Kỳ Bá nói:
Sơ là địa khí. Trung là thiên khí.
Hoàng Đế hỏi:
Sự thăng giáng của chúng như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Sự thăng giáng của khí là công dụng thay nhau của trời và đất.
Hoàng Đế nói:
Ta muốn nghe công dụng ấy như thế nào.
Kỳ Bá nói:
Đã thăng rồi thì giáng; giáng là tác dụng của trời.
Đã giáng rồi thì thăng; thăng là tác dụng của đất.
Thiên khí giáng xuống, khí chảy vào đất. Địa khí thăng lên, khí bốc lên trời. Cho nên cao và thấp cùng gọi nhau, thăng và giáng nương vào nhau, rồi biến hóa phát sinh.
Giải thích từ ngữ
Sơ (初): phần đầu của một giai đoạn khí, thuộc địa khí.
Trung (中): trung khí, thuộc thiên khí.
Tam thập độ hữu kỳ: mỗi phần sơ hoặc trung khoảng ba mươi độ có dư, dùng trong phép tính vận khí.
Thăng giáng (升降): khí lên và xuống. Đây là trục vận hành lớn của trời đất và thân người.
Thiên khí hạ giáng: khí trời đi xuống.
Địa khí thượng thăng: khí đất đi lên.
Cao hạ tương triệu: cái cao và cái thấp gọi nhau, cảm ứng nhau.
Thăng giáng tương nhân: lên và xuống nương vào nhau; không có giáng thì không có thăng, không có thăng thì không có giáng.
Đoạn 10
帝曰:善。寒湿遘沟,燥热相临,风火相值,其有闻乎。歧伯曰:气有胜复,胜复之作,有德有化,有用有变,变则邪气居之。帝曰:何谓邪乎。歧伯曰:夫物之生从于化,物之极由乎变,变化之相薄,成败之所由也。故气有往复,用有迟速,四者之有而化而变,风之来也。帝曰:迟速往复,风所由生,而化而变,故因盛衰之变耳。成败倚伏游乎中,何也。歧伯曰:成败倚伏生乎动,动而不已,则变作矣。帝曰:有期乎。歧伯曰:不生不化,静之期也。帝曰:不生化乎。歧伯曰:出入废则神机化灭,升降息则气立孤危。故非出入,则无以生长壮老已,非升降,则无以生长化收藏。是以升降出入,无器不有。故器者生化之宇,器散则分之,生化息矣。故无不出入,无木升降。化有小大,期有近远,四者之有而贵常守,反常则灾害至矣。故曰无形无患,此之谓也。帝曰:善。有不生不化乎。歧伯曰:悉乎哉问也。与道合同,惟真人也。帝曰:善。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Hàn thấp cấu câu, táo nhiệt tương lâm, phong hỏa tương trị, kỳ hữu văn hồ?
Kỳ Bá viết: Khí hữu thắng phục. Thắng phục chi tác, hữu đức hữu hóa, hữu dụng hữu biến. Biến tắc tà khí cư chi.
Đế viết: Hà vị tà hồ?
Kỳ Bá viết: Phù vật chi sinh tòng vu hóa, vật chi cực do hồ biến. Biến hóa chi tương bạc, thành bại chi sở do dã. Cố khí hữu vãng phục, dụng hữu trì tốc. Tứ giả chi hữu nhi hóa nhi biến, phong chi lai dã.
Đế viết: Trì tốc vãng phục, phong sở do sinh, nhi hóa nhi biến, cố nhân thịnh suy chi biến nhĩ. Thành bại ỷ phục du hồ trung, hà dã?
Kỳ Bá viết: Thành bại ỷ phục sinh hồ động. Động nhi bất dĩ, tắc biến tác hĩ.
Đế viết: Hữu kỳ hồ?
Kỳ Bá viết: Bất sinh bất hóa, tĩnh chi kỳ dã.
Đế viết: Bất sinh hóa hồ?
Kỳ Bá viết: Xuất nhập phế tắc thần cơ hóa diệt, thăng giáng tức tắc khí lập cô nguy. Cố phi xuất nhập, tắc vô dĩ sinh trưởng tráng lão dĩ; phi thăng giáng, tắc vô dĩ sinh trưởng hóa thu tàng.
Thị dĩ thăng giáng xuất nhập, vô khí bất hữu. Cố khí giả, sinh hóa chi vũ. Khí tán tắc phân chi, sinh hóa tức hĩ. Cố vô bất xuất nhập, vô mộc thăng giáng.
Hóa hữu tiểu đại, kỳ hữu cận viễn. Tứ giả chi hữu nhi quý thường thủ. Phản thường tắc tai hại chí hĩ. Cố viết vô hình vô hoạn, thử chi vị dã.
Đế viết: Thiện. Hữu bất sinh bất hóa hồ?
Kỳ Bá viết: Tất hồ tai vấn dã! Dữ đạo hợp đồng, duy chân nhân dã.
Đế viết: Thiện.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Hàn và thấp gặp nhau ở khe rãnh, táo và nhiệt đến gần nhau, phong và hỏa gặp nhau, phu tử có từng nghe điều ấy chăng?
Kỳ Bá nói:
Khí có thắng và phục. Khi thắng phục phát sinh thì có đức, có hóa, có dụng, có biến. Khi đã biến thì tà khí trú vào đó.
Hoàng Đế hỏi:
Thế nào gọi là tà?
Kỳ Bá nói:
Sự sinh của vật theo hóa mà có. Sự cùng cực của vật do biến mà ra. Biến và hóa xung động với nhau, đó là chỗ thành và bại phát sinh.
Cho nên khí có đi và trở lại, công dụng có chậm và nhanh. Bốn điều ấy cùng có, rồi hóa, rồi biến, đó là chỗ phong đến.
Hoàng Đế nói:
Chậm, nhanh, đi, trở lại là chỗ phong sinh ra; rồi hóa, rồi biến, chính là do biến của thịnh suy mà thôi. Vậy thành và bại nương phục, qua lại ở trong đó là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Thành và bại nương phục nhau, sinh ra từ động. Động mà không ngừng thì biến phát sinh.
Hoàng Đế hỏi:
Có thời hạn nhất định chăng?
Kỳ Bá nói:
Không sinh, không hóa là thời của tĩnh.
Hoàng Đế hỏi:
Có thật là không sinh hóa chăng?
Kỳ Bá nói:
Nếu xuất nhập phế bỏ thì thần cơ của hóa diệt. Nếu thăng giáng ngừng lại thì khí lập tức cô độc và nguy.
Cho nên, nếu không có xuất nhập thì không có sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ. Nếu không có thăng giáng thì không có sinh, trưởng, hóa, thu, tàng.
Vì vậy, thăng giáng và xuất nhập, không vật nào là không có.
Cho nên, vật khí là nhà của sinh hóa. Khi vật khí tán thì phân rã, sinh hóa ngừng lại. Vì vậy, không gì là không xuất nhập, không gì là không thăng giáng.
Hóa có nhỏ có lớn, thời kỳ có gần có xa. Bốn điều ấy đã có thì quý ở chỗ giữ thường. Trái với thường thì tai hại đến.
Cho nên nói: không có hình bất thường thì không có hoạn nạn. Chính là nghĩa này.
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Có thứ nào không sinh, không hóa chăng?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi thật đầy đủ thay! Cùng hợp một thể với đạo, chỉ có chân nhân mà thôi.
Hoàng Đế nói:
Hay thay.
Giải thích từ ngữ
Hàn thấp cấu câu (寒湿遘沟): hàn và thấp gặp nhau, dễ làm khí bế, thủy thấp ngưng ở khe rãnh, kinh lạc.
Táo nhiệt tương lâm (燥热相临): táo và nhiệt cùng đến, dễ làm tân dịch khô hao.
Phong hỏa tương trị (风火相值): phong và hỏa gặp nhau, dễ sinh động, viêm, bốc, biến nhanh.
Thắng phục (胜复): khí này thắng quá thì khí kia phục lại để chế. Đây là cơ chế tự điều chỉnh trong vận khí.
Đức, hóa, dụng, biến: đức là tính tốt, hóa là sinh hóa bình thường, dụng là công năng, biến là chuyển đổi bất thường.
Biến tắc tà khí cư chi: khi khí biến ra khỏi thường độ thì tà khí có chỗ trú.
Vãng phục (往复): khí đi rồi trở lại.
Trì tốc (迟速): khí vận hành chậm hay nhanh.
Thành bại ỷ phục (成败倚伏): thành và bại nương nhau, ẩn trong nhau; khi khí động không ngừng thì biến hóa có thể thành tốt hoặc hỏng.
Xuất nhập (出入): khí ra vào. Trong thân là hô hấp, khai hợp, xuất nhập của khí huyết tân dịch; trong trời đất là khí ra vào giữa các lớp sinh hóa.
Thăng giáng (升降): khí lên xuống. Đây là trục vận hành của trời đất và thân người.
Thần cơ hóa diệt (神机化灭): cơ vi diệu của sinh hóa bị diệt mất.
Khí lập cô nguy (气立孤危): khí không còn thăng giáng giao thông, đứng cô độc, trở thành nguy hiểm.
Sinh trưởng tráng lão dĩ: sinh ra, lớn lên, mạnh trưởng, già, kết thúc.
Sinh trưởng hóa thu tàng: sinh, trưởng, hóa, thu, tàng, là chu trình ngũ hành và bốn mùa thêm trưởng hạ.
Khí giả sinh hóa chi vũ (器者生化之宇): vật thể là nơi nương của sinh hóa; có hình khí thì sinh hóa có chỗ diễn ra.
Chân nhân (真人): người đạt đạo, hợp với đạo, vượt khỏi sinh hóa thường tình theo quan niệm dưỡng sinh cổ.
Nhận xét chung
Thiên Lục Vi Chỉ Đại luận là một thiên rất sâu trong phần Ngũ vận Lục khí. Nếu Thiên Nguyên Kỷ Đại luận lập ra đại cương của thiên nguyên, Ngũ Vận Hành Đại luận nói sự vận hành của năm vận, thì thiên này đi vào chỗ “vi chỉ” của sáu khí: bản, tiêu, trung khí, thịnh suy, đến đúng hay sai thời, thắng phục, thăng giáng, xuất nhập.
Điểm đầu tiên là sáu khí không chỉ có tên gọi đơn giản. Mỗi khí có bản, tiêu và trung. Ví dụ Thiếu dương là tiêu, trên nó hỏa khí làm bản, ở giữa hiện Quyết âm. Dương minh là tiêu, táo khí làm bản, ở giữa hiện Thái âm. Thái dương là tiêu, hàn khí làm bản, ở giữa hiện Thiếu âm. Vì bản, tiêu, trung khác nhau nên khí ứng ra cũng khác nhau. Đây là chỗ rất quan trọng để hiểu vì sao cùng một Tam âm Tam dương nhưng bệnh khí có thể biểu hiện khác nhau.
Điểm thứ hai là đạo trời phải xét thời đến của khí. Đến thời mà khí đến là hòa. Đến thời mà khí không đến là bất cập. Chưa đến thời mà khí đã đến là hữu dư. Khí ứng đúng thì thuận; không ứng thì nghịch; nghịch thì sinh biến; biến thì thành bệnh. Nói cách khác, bệnh không chỉ do khí nào, mà còn do khí ấy đến đúng lúc hay không, đủ hay thiếu, thái quá hay bất cập.
Điểm thứ ba là “kháng thì hại, thừa mới chế”. Một khí quá thịnh mà không có khí khác thừa tiếp để chế, thì gây hại. Có chế ước thì sinh hóa mới bình thường. Đây là nguyên tắc lớn của vận khí: sinh hóa không phải do một khí càng mạnh càng tốt, mà do có thịnh có suy, có sinh có chế, có nâng có giữ. Khi mất chế ước thì bại loạn, sinh bệnh lớn.
Điểm thứ tư là thiên này phân biệt Tuế hội, Thiên phù và Thái nhất Thiên phù. Khí đúng vị là chính, không đúng vị là tà. Tuế hội là khí của năm hội đúng vị, khí bình hơn. Thiên phù là trời cùng hội với vận. Thái nhất Thiên phù là hội lớn hơn nữa. Văn dùng hình ảnh chấp pháp, hành lệnh, quý nhân để nói mức ảnh hưởng khác nhau. Khi tà trúng vào các khí này, bệnh có thể nhanh, chậm, đặc biệt, nguy hoặc bạo tử tùy thế khí.
Điểm thứ năm là phép tính sáu khí trong năm cho thấy Nội Kinh nhìn thời khí rất có quy luật. Sơ khí, nhị khí, tam khí, tứ khí, ngũ khí, lục khí có đầu cuối, có sớm muộn, có nhóm năm hội đồng. Dù ngày nay không nên chấp số khắc một cách máy móc, tinh thần cần giữ là: khí trong năm không đứng yên, mà có bước đi, có chu kỳ, có lúc đến trước, đến sau.
Điểm thứ sáu là con người ở nơi khí giao. Nói trời thì tìm bản; nói đất thì tìm vị; nói người thì tìm khí giao. Người sống giữa thiên khí và địa khí, nên sinh lý và bệnh lý đều do khí giao mà thành. Trên Thiên khu là thiên khí chủ, dưới Thiên khu là địa khí chủ, còn nơi khí giao thì nhân khí theo đó. Đây là tư tưởng rất trung tâm của Nội Kinh: người là một phần của trời đất, không tách khỏi khí hóa của trời đất.
Điểm thứ bảy là thăng giáng và xuất nhập là gốc của sinh hóa. Thiên khí giáng xuống, địa khí thăng lên; cao thấp gọi nhau, thăng giáng nương nhau mà biến hóa sinh ra. Nếu xuất nhập dừng thì thần cơ hóa diệt; nếu thăng giáng ngừng thì khí đứng cô độc và nguy. Không có xuất nhập thì không có sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ. Không có thăng giáng thì không có sinh, trưởng, hóa, thu, tàng. Đây là một trong những câu rất quan trọng của toàn bộ Nội Kinh.
Điểm cuối cùng là phải giữ thường. Hóa có lớn nhỏ, kỳ có gần xa, khí có đi lại chậm nhanh, có thắng phục, có biến hóa; nhưng quý nhất là giữ được thường độ. Trái thường thì tai hại đến. Vì vậy, học vận khí không phải để suy đoán huyền bí, mà để biết đâu là thường, đâu là phản thường; đâu là khí đến đúng, đâu là khí đến sai; đâu là thịnh suy bình thường, đâu là biến thành tà.
Tóm lại, Lục Vi Chỉ Đại luận dạy rằng sáu khí tuy vi diệu nhưng vẫn có cương kỷ: bản, tiêu, trung; trên, dưới, trái, phải; đến, chưa đến, đến quá; thắng, phục, chế, hóa; thăng, giáng, xuất, nhập. Người học y muốn hiểu bệnh theo vận khí thì không thể chỉ thuộc tên sáu khí, mà phải hiểu khí đang ở vị nào, thời nào, thịnh hay suy, thuận hay nghịch, có chế hay không, có giao hay không. Đó chính là “vi chỉ” của sáu khí.