Phần 1: Nguyên nhân gây bệnh
Các yếu tố dẫn đến bệnh phụ nữ gồm có: yếu tố tà khí lục dâm, yếu tố tình chí, yếu tố sinh hoạt và yếu tố thể chất. Trong các yếu tố tà khí, thường gặp nhất là hàn, nhiệt, thấp; về tình chí thì chủ yếu là giận dữ (nộ), suy nghĩ (tư), lo sợ (khủng); yếu tố sinh hoạt bao gồm: kết hôn sớm, sinh nở nhiều, phòng sự không điều độ, ăn uống không hợp lý, lao lực quá độ, té ngã tổn thương… Yếu tố thể chất (bao gồm cả yếu tố bẩm sinh) là nói đến tình trạng mạnh yếu của thể chất, tức là sự hưng suy của hoạt động tạng phủ, kinh lạc, khí huyết.
Yếu tố tà khí, tình chí và sinh hoạt là các điều kiện gây bệnh, nhưng sau khi tác động đến cơ thể có gây bệnh hay không, biểu hiện thế nào, mức độ ra sao, tiên lượng tốt hay xấu, lại phụ thuộc vào thể chất. Các chứng bệnh phụ khoa thường liên quan đến sự hưng suy của chức năng tạng phủ, khí huyết, bốn mạch Xung – Nhâm – Đốc – Đới và tử cung.
Trong “Tố Vấn – Bình Nhiệt Bệnh Luận” có nói: “Tà chi sở tụ, kỳ khí tất hư” (nơi tà khí tụ lại, khí tất phải suy), cho thấy ngoại nhân là điều kiện thay đổi, nội nhân (thể chất) là căn cứ biến hóa, và ngoại nhân phát huy tác dụng thông qua nội nhân. Sau đây sẽ trình bày cụ thể các yếu tố gây bệnh và đặc điểm gây bệnh trong phụ khoa.
Tà khí lục dâm gồm: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa – gọi chung là “lục tà” hay “lục khí”. Khi chúng phát triển quá mức, không đầy đủ, hoặc xuất hiện không đúng thời, thì được gọi là “lục dâm”, là nguyên nhân gây bệnh.
Lục dâm đều có thể gây ra các bệnh phụ khoa, nhưng do phụ nữ “lấy huyết làm gốc”, nên hàn, nhiệt và thấp dễ tác động đến huyết mà gây nên các chứng bệnh phụ khoa, vì vậy sẽ được trình bày kỹ hơn. Ngoài ra, hàn, nhiệt, thấp ở nội tạng là do rối loạn chức năng tạng phủ mà sinh ra.
Xét theo vị trí có thể chia thành: Ngoại hàn và nội hàn; theo tính chất có thể chia thành: thực hàn và hư hàn – bốn loại này thường tồn tại đồng thời, nhưng lấy hư – thực làm nguyên tắc phân biệt.
Nguyên nhân cụ thể hàn tà gây bệnh như sau: nếu bị nhiễm hàn tà, dầm mưa, lội nước, hoặc ăn quá nhiều đồ sống lạnh, sẽ khiến huyết bị hàn làm ngưng trệ, huyết hành không thông, mạch tử cung bị cản trở, có thể dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, thống kinh (đau bụng kinh), khối tích trong bụng… Nếu dương khí của cơ thể không đủ, hàn sinh từ bên trong, chức năng tạng phủ rối loạn, ảnh hưởng đến chức năng Xung – Nhâm – tử cung, sẽ gây nên thống kinh, bệnh đới hạ, đau bụng khi mang thai, tử cung lạnh gây vô sinh…
Nhiệt tà cũng chia thành: ngoại nhiệt, nội nhiệt, hư nhiệt, thực nhiệt – ở đây vẫn lấy hư – thực làm nguyên tắc để phân loại:
Bị nhiễm nhiệt tà, tình chí thái quá sinh hỏa, ăn nhiều đồ cay nóng, kích thích dương khí, đều có thể dẫn đến dương nhiệt vượng thịnh bên trong.
Hoặc cơ địa vốn dĩ âm hư, dương khí thiên thắng, âm hư sinh nội nhiệt.
Nhiệt độc là một loại thực nhiệt nghiêm trọng, được gọi là “nhiệt cực sinh độc”, là chứng trọng của thực nhiệt.
Dù là thực nhiệt hay hư nhiệt đều có thể tổn thương Xung – Nhâm, thúc đẩy huyết đi sai đường, gây ra kinh nguyệt đến sớm, băng lậu, hành kinh nôn ra máu cam, thai động bất an, thai lậu, sản hậu phát sốt, huyết hạ không dứt…
Nếu tỳ dương vốn hư, chức năng vận hóa suy yếu, thấp đục bên trong thịnh; hoặc thận dương hư, khí hóa rối loạn, thủy khí đình trệ, đều dẫn đến thấp nước tụ lại bên trong – gọi là nội thấp.
Thấp là tà khí hữu hình thuộc âm, nên không phân hư – thực, nhưng lại dễ theo tình trạng âm dương thịnh suy và thời gian thấp khí tồn lưu mà biến hóa: từ dương hóa thành thấp nhiệt, từ âm hóa thành hàn thấp.
Về thấp độc, có hai nguyên nhân chính: một là thấp tích tụ lâu ngày sinh độc, hai là nhiễm khuẩn từ đường sinh dục gây ra.
Tổng kết lại, thấp tà nặng trọc, có xu hướng đi xuống, hạ nhập vào Xung – Nhâm, làm Đới mạch mất chức năng, có thể gây ra bệnh đới hạ, ngứa âm hộ, vô sinh… Nếu xảy ra trong thai kỳ, do ảnh hưởng thai khí, có thể gây ra chứng nôn nghén khi mang thai, phù khi mang thai…
Yếu tố tình chí là chỉ bảy loại tình cảm gồm: hỷ (vui), nộ (giận), ưu (lo), tư (nghĩ), bi (buồn), khủng (sợ), kinh (kinh hãi). Phụ nữ nếu bị kích động tinh thần quá mức, tình chí thay đổi sẽ chủ yếu làm tổn thương phần khí, sau đó ảnh hưởng đến phần huyết, gây nên khí huyết không điều hòa, khiến âm dương mất cân bằng, chức năng tạng phủ rối loạn mà sinh bệnh. Trong bảy tình chí gây tổn thương nội thương, các tình chí ảnh hưởng lớn đến bệnh phụ khoa là nộ, tư, khủng, nên được phân tích như sau:
Ứ ức, phẫn nộ dễ gây khí trệ, khí nghịch, tiếp đó dẫn đến tổn thương phần huyết, có thể gây ra: kinh nguyệt đến muộn, thống kinh (đau bụng kinh), bế kinh, hành kinh nôn ra máu cam, thiếu sữa, khối tích trong bụng…
Suy nghĩ không giải tỏa được thường khiến khí kết, khí huyết ứ trệ, có thể dẫn đến bế kinh, rối loạn kinh nguyệt, khối tích…
Khiếp sợ quá độ thường làm khí hạ, khí loạn, mất khả năng điều hòa và thống nhiếp huyết, có thể gây ra: rong kinh, băng lậu, thai động bất an, sẩy thai, sinh non…
III. Yếu tố sinh hoạt
Yếu tố sinh hoạt là điều kiện phát bệnh, cũng là điều kiện ảnh hưởng đến thể chất, ở một mức độ nào đó còn là nguyên nhân quan trọng làm tổn thương thể chất.
Phụ nữ nếu bẩm sinh không đủ, hoặc kết hôn sớm, phòng sự không điều độ, sinh nở nhiều, cho con bú nhiều, đều có thể làm tổn thương thận khí, hao tổn khí huyết. Khi thận khí không đủ, khí huyết mất điều hòa, sẽ gây ra: bệnh kinh nguyệt, bệnh đới hạ, thai động bất an, sẩy thai, sinh non…
Nếu ăn uống thất thường, ăn quá nhiều hoặc thiên lệch, thích món béo ngọt, cay nóng, hoặc ăn uống lạnh nóng không hợp lý, đều có thể tổn thương tỳ vị, dẫn đến nhiều bệnh.
Ăn nhiều đồ cay nóng dễ trợ dương sinh hỏa, gây kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt quá nhiều, hành kinh kèm nôn ra máu cam, thai động bất an…
Ăn nhiều đồ lạnh sống có thể gây thống kinh, bế kinh, bệnh đới hạ…
Phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và sau sinh cần lao động vừa phải.
Nếu lao động quá sức trong kỳ kinh nguyệt, có thể gây kéo dài kỳ kinh hoặc lượng kinh quá nhiều.
Nếu lao động nặng nhọc trong thai kỳ, dễ dẫn đến thai động bất an, sẩy thai, sinh non.
Ngược lại, nếu nghỉ ngơi quá mức, khí huyết ứ trệ, dễ dẫn đến đẻ khó.
Sau sinh nếu mang vác nặng, làm việc sớm quá mức dễ dẫn đến sa tử cung.
Phụ nữ trong kỳ kinh hoặc thai kỳ nếu leo trèo, mang vác nặng, hoặc bị té ngã, va đập dễ dẫn đến băng huyết, thai động bất an…
Thể chất của con người thể hiện rõ ràng khả năng kháng bệnh mạnh hay yếu. Nó không những quyết định các yếu tố gây bệnh có thể tổn hại đến cơ thể hay không, mà còn ảnh hưởng đến loại bệnh phát ra, mức độ nặng nhẹ, tiến triển và tiên lượng.
Trong “Linh Khu – Bách Bệnh Thủy Sinh” có nói: “Bỗng gặp gió dữ mưa lớn mà không bị bệnh, vì không hư, nên tà không thể gây hại” – cho thấy tầm quan trọng của thể chất.
Đồng thời, những loại thể chất khác nhau có thể ảnh hưởng đến khả năng cảm thụ với các yếu tố gây bệnh khác nhau.
Trong “Y Lý Tập Yếu” của Ngô Đức Hán có viết: “Người dễ bị bệnh do phong là vì khí ngoài biểu vốn hư; Dễ bị bệnh do lạnh là do dương khí vốn yếu; Dễ bị bệnh do nhiệt là do âm khí vốn suy; Dễ bị tổn thương do ăn uống là do tỳ vị vốn kém; Dễ bị tổn thương do lao lực là do trung khí vốn suy. Cần biết rằng ngày bệnh phát chính là lúc chính khí đã suy.”
Do đó, trong cùng môi trường sống, người thể chất khỏe mạnh khi gặp tác nhân gây bệnh có thể không bị bệnh, còn người thể chất yếu thì không chống nổi, dễ mắc bệnh.
Thể chất con người do sự khác biệt bẩm sinh, cùng với ảnh hưởng của dinh dưỡng và thói quen sinh hoạt, có thể hình thành các loại thể chất khác nhau. Ví dụ: Có người bẩm dương thịnh, thường bị táo bón, tay chân nóng; Có người bẩm âm thịnh, thường tiêu lỏng, sợ lạnh, tay chân lạnh.
Cũng là bẩm sinh yếu, kết hôn sớm, sinh nở nhiều, phòng sự không điều độ gây tổn thương thận khí, nhưng hậu quả lại khác nhau: Có người chủ yếu tổn thương mệnh môn chân hỏa, biểu hiện chứng thận dương hư như tiêu chảy khi hành kinh, đới hạ, phù nề tử cung, vô sinh… Có người chủ yếu hao tổn âm tinh chân thủy, biểu hiện chứng thận âm hư như băng lậu, bế kinh, kinh nguyệt rối loạn, thai động bất an…
Lại ví dụ: cùng nhiễm thấp tà, nhưng tùy theo thể chất âm dương thịnh suy mà biểu hiện khác nhau:
Có người thấp tà hóa nhiệt (dương thịnh), biểu hiện chứng thấp nhiệt như đới hạ do thấp nhiệt, ngứa âm hộ… Có người thấp tà hóa hàn (âm thịnh), biểu hiện chứng hàn thấp như thống kinh do hàn thấp ngưng trệ, bế kinh…
Ngoài ra, người thể chất khỏe mạnh thì bệnh nhẹ, dễ chữa; người thể chất yếu thì bệnh nặng, khó khỏi.
Tóm lại, yếu tố thể chất đóng vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển, chuyển biến và tiên lượng của bệnh.
Phần 2: Cơ chế bệnh lý
Cơ chế bệnh lý trong các bệnh phụ khoa có thể tóm lược thành ba phương diện lớn:– Chức năng tạng phủ rối loạn ảnh hưởng đến Xung – Nhâm mà sinh bệnh;– Khí huyết rối loạn ảnh hưởng đến Xung – Nhâm mà sinh bệnh;
– Tử cung bị tổn thương trực tiếp, ảnh hưởng đến Xung – Nhâm mà sinh bệnh.
Điểm khác biệt giữa cơ chế bệnh của phụ khoa so với nội khoa, ngoại khoa và các chuyên khoa khác chính là: trong phụ khoa, mọi bệnh lý đều có liên quan đến sự tổn thương của Xung – Nhâm (hoặc Đốc, Đới). Về sinh lý, tử cung thông qua Xung – Nhâm (Đốc – Đới) mà kết nối với toàn bộ hệ thống kinh mạch; về bệnh lý, nếu chức năng tạng phủ rối loạn, khí huyết mất điều hòa mà làm tổn thương đến chức năng Xung – Nhâm (Đốc – Đới), thì mới sinh ra các bệnh lý về kinh, đới, thai, sản và tạp bệnh.
Các y gia đời trước phần lớn đều lấy điều này làm nguyên tắc luận bệnh.
Trong sách 《Chư bệnh nguyên hậu luận》, khi bàn về bệnh phụ nữ, từ các mục luận chứng như: rối loạn kinh nguyệt (5 luận), bệnh đới hạ (9 luận), băng lậu (7 luận), băng trung (5 luận), tất cả đều dựa trên tổn thương Xung – Nhâm để lập luận. Trong 《Hiệu chú phụ nhân lương phương》, có nói: “Bệnh phụ nữ có 36 loại, đều do lao tổn Xung – Nhâm mà thành. Bởi Xung – Nhâm là hội hải của 12 kinh mạch.” Trong 《Y học nguyên lưu luận》 viết: “Phàm trị bệnh phụ nữ, tất phải hiểu rõ mạch Xung – Nhâm… Mạch Xung – Nhâm đều khởi từ tử cung, đi dọc theo lưng, là biển của các kinh mạch, là nơi sinh ra huyết, là chỗ kết nối của thai. Hiểu rõ Xung – Nhâm thì gốc bệnh sáng tỏ, từ triệu chứng phát ra mà có thể biết gốc gác của bệnh.”Danh y Lý Thời Trân còn nói rõ: “Người thầy thuốc không hiểu điều này thì không thể nắm bắt được cơ chế bệnh lý.”Điều đó cho thấy cần phải nhấn mạnh vai trò trung tâm của “tổn thương Xung – Nhâm” trong cơ chế bệnh lý phụ khoa. Dưới đây là các cơ chế bệnh lý chủ yếu:
Can uất hóa hỏa → nhiệt thương Xung – Nhâm → huyết đi loạn → đới hạ, ngứa âm hộ. Can khí phạm vị (xung vị khí) → trong thai kỳ Xung khí vượng, dẫn vị khí đi ngược → gây nôn nghén. Can huyết không đủ → sau khi mang thai, huyết tụ ở Xung – Nhâm nuôi thai → gan huyết càng hư → can dương vượng → gây chóng mặt khi mang thai; nặng thì phong nội động → thành chứng sản giật.
Tỳ khí hư → Xung – Nhâm không vững, hệ nâng đỡ yếu → sa tử cung. Tỳ hư huyết ít, nguồn hóa sinh không đủ → Xung – Nhâm huyết hư → huyết hải không đầy đủ đúng kỳ → kinh muộn, kinh ít, bế kinh; thai mất nuôi dưỡng → động thai, sẩy thai, sinh non. Tỳ dương không vượng → thấp trọc đình trệ bên trong → giáng xuống Xung – Nhâm → đới mạch mất chức năng, Nhâm mạch không giữ được → bệnh đới hạ.Thấp trọc đình trệ → thai kỳ khí Xung vượng → dẫn đàm ẩm đi ngược lên → gây nôn nghén.
Khí huyết mất điều hòa là một cơ chế bệnh lý thường gặp trong các bệnh lý phụ khoa và sản khoa. Do kinh nguyệt, thai nghén, sinh nở, cho con bú đều liên quan đến huyết, lại rất dễ hao tổn huyết, nên cơ thể phụ nữ thường ở trong trạng thái huyết hư, khí tương đối thịnh.
Trong 《Linh khu·Ngũ âm ngũ vị》 có nói: “Phụ nhân chi sinh, hữu dư vu khí, bất túc vu huyết, dĩ kỳ sác thoát huyết dã” :Phụ nữ có thừa về khí, thiếu về huyết, là vì thường xuyên mất huyết. Khí và huyết vốn tương sinh, tương dưỡng lẫn nhau, tổn thương về huyết tất sẽ ảnh hưởng đến khí, tổn thương về khí cũng sẽ ảnh hưởng đến huyết. Do đó, khi lâm sàng cần phân tích kỹ xem bệnh do khí làm chủ hay huyết làm chủ. Thông thường, tình chí biến động dễ gây tổn thương phần khí. Như 《Tố vấn·Cử thống luận》 viết: “Trăm bệnh đều do khí mà sinh. Giận thì khí bốc lên, vui thì khí chậm lại, buồn thì khí tiêu tan, sợ thì khí hạ, kinh hãi thì khí loạn, lao lực thì khí hao tổn, nghĩ ngợi thì khí kết.” Còn các tà khí như hàn, nhiệt, thấp thường gây tổn thương phần huyết. Như trong 《Tố vấn·Điều kinh luận》 viết: “Hàn thấp nhập người, da không co lại, cơ cứng chắc, dinh huyết ứ trệ khó thông.” 《Tố vấn·Âm dương ứng tượng đại luận》 lại nói: “Nhiệt thịnh thì sưng thũng.” Những điều này đều chỉ ra rằng hàn, nhiệt, thấp tà chủ yếu gây tổn thương vinh huyết. Hiểu rõ các điểm then chốt của cơ chế bệnh lý khí huyết sẽ giúp ích cho việc biện chứng luận trị chính xác. Sau đây là phân tích cụ thể:
Khí hư hạ hãm, Xung Nhâm không ổn định, huyết mất khả năng thống nhiếp, gây kinh sớm, kinh nhiều, băng lậu, sản hậu huyết hạ không dứt. Xung Nhâm không giữ được thai, thai động bất an. Mạch tử cung mất sức nâng đỡ, sa tử cung. Khí kết, khí trệ, huyết cũng ứ trệ, Xung Nhâm không thông, huyết hành trì trệ, gây kinh muộn, thống kinh, bế kinh; nặng thì huyết kết thành khối, sinh ra khối tích trong bụng.
Hàn tà kết hợp với huyết, huyết bị hàn làm ngưng tụ, Xung Nhâm không thông, gây kinh muộn, kinh ít, thống kinh, bế kinh, khối tích trong bụng, sản hậu đau bụng…Nhiệt tà với huyết tương tranh, làm tổn thương Xung Nhâm, huyết đi loạn, gây kinh sớm, kinh nhiều, băng lậu, kinh nguyệt đứt rồi lại ra, động thai, sẩy thai, sinh non, sản hậu phát sốt, huyết hạ không dứt…Thấp tà tổn thương huyết, gặp nhiệt hóa thành thấp nhiệt, tổn thương mạch Nhâm – Đới, sinh bệnh đới hạ, ngứa âm hộ…Thấp gặp hàn hóa thành hàn thấp, xâm nhập Xung Nhâm, huyết hành không thông, gây thống kinh, bế kinh…
III. Tử cung bị tổn thương trực tiếp ảnh hưởng đến Xung – Nhâm mà gây bệnh
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh, nếu không chú ý vệ sinh, bị nhiễm tà độc, tà khí tụ lại tại tử cung, tổn thương Xung Nhâm, sinh ra rối loạn kinh nguyệt, băng lậu, bệnh đới hạ, sản hậu phát sốt…Sống lâu trong vùng ẩm thấp, hoặc bị mưa ướt, lội nước, hàn thấp tà xâm nhập tử cung, xâm phạm Xung Nhâm, huyết bị hàn thấp làm ngưng trệ, gây thống kinh, bế kinh, khối tích…Ngoại thương (bao gồm phẫu thuật trong tử cung) hoặc phòng sự không điều độ, trực tiếp tổn thương tử cung, Xung Nhâm rối loạn, dẫn đến rối loạn kinh nguyệt, băng lậu, thai động bất an, sẩy thai, sinh non…
Tổng kết: Ba cơ chế bệnh lý trên không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau: Chức năng tạng phủ rối loạn có thể dẫn đến khí huyết mất điều hòa. Khí huyết mất điều hòa cũng có thể gây rối loạn chức năng tạng phủ. Tổn thương trực tiếp tử cung cũng có thể dẫn đến rối loạn tạng phủ và khí huyết. Nói tóm lại, bất kể yếu tố gây bệnh là gì, phát bệnh từ đâu – tạng phủ, khí hay huyết – thì cơ chế bệnh lý luôn mang tính tổng thể, và điểm chung là đều tổn thương đến chức năng sinh lý của Xung – Nhâm (hoặc Đốc – Đới), từ đó mới sinh ra các bệnh phụ khoa và sản khoa.
Hiểu rõ điều này mới có thể từ những biến hóa phức tạp tìm ra mấu chốt của các bệnh về kinh nguyệt, đới hạ, thai nghén, sinh sản và các tạp bệnh, cuối cùng đưa ra chẩn đoán đúng đắn. (Trung y Thế Gia)
Lương y Trường Xuân dịch