MỞ ĐƯỜNG CHO TỲ – PHẾ – THẬN
Dẫn nhập
Ba ngày đầu tiên của hành trình trừ thấp không phải là giai đoạn dùng phương pháp mạnh. Đây là giai đoạn mở đường, giúp cơ thể nhẹ nhàng khởi động lại hệ thống vận hành thủy dịch.
Nếu ví cơ thể như một cánh đồng, thì ba ngày đầu giống như xới đất, mở mương, khơi dòng nước đọng. Nếu mương rãnh còn tắc, đất còn úng, nước còn đọng, thì dù có gieo hạt tốt đến đâu, cây cũng khó sinh trưởng. Cơ thể cũng vậy. Nếu khí cơ không thông, Tỳ không vận hóa, Phế không tuyên giáng, Thận không khí hóa, thì việc trừ thấp về sau sẽ kém hiệu quả.
Trong Trung y, có thể hiểu ba ngày đầu này là:
Sơ thông thủy đạo.
Điều khí cơ thăng giáng.
Kiện Tỳ để vận hóa thấp.
Tuyên Phế để thấp có đường thoát.
Ôn Thận để thủy dịch được khí hóa.
Ba ngày này nên làm nhẹ nhàng, không ép cơ thể, không kiêng khem cực đoan, không dùng thuốc mạnh. Mục tiêu không phải là “tống thấp” ra ngoài thật nhanh, mà là giúp cơ thể bắt đầu vận hành đúng trở lại.
Ngày 1 chú trọng Tỳ.
Ngày 2 chú trọng Phế.
Ngày 3 chú trọng Thận.
Ba ngày này cũng là bước chuẩn bị cho những chương sau, khi chúng ta đi sâu hơn vào ăn uống, vận động, dược thiện và các phương pháp trừ thấp theo từng thể trạng.
NGÀY 1
ĐÁNH THỨC TỲ
Tỳ vận hóa, thấp mới có đường tiêu
Trong Trung y, Tỳ chủ vận hóa. Tỳ vận hóa thức ăn để sinh khí huyết, vận hóa thủy dịch để nước đi đúng đường. Khi Tỳ khỏe, thức ăn dễ tiêu, bụng nhẹ, đại tiện điều hòa, cơ thể có sức. Khi Tỳ yếu, thức ăn đình trệ, nước không hóa được, thấp dễ sinh ra.
Lý Đông Viên đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Tỳ Vị. Ông cho rằng Tỳ Vị là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết. Nếu Tỳ Vị tổn thương, nhiều bệnh có thể từ đó phát sinh.
Có thể ví Tỳ như một chiếc máy sấy trong cơ thể. Máy sấy khỏe thì hơi ẩm được làm khô, nước không đọng. Máy sấy yếu thì ẩm khí lưu lại, lâu ngày thành thấp.
Ngày đầu tiên không cần làm gì phức tạp. Chỉ cần giúp Tỳ bớt gánh nặng, ăn ấm hơn, ăn chậm hơn, bụng được xoa nhẹ, khí cơ trung tiêu được thông, thì cơ thể đã bắt đầu có nền tảng để hóa thấp.
Mục tiêu của ngày 1 là:
Giúp bụng nhẹ hơn.
Giảm đầy trướng sau ăn.
Hỗ trợ tiêu hóa.
Giảm cảm giác nặng nề do thấp trệ.
Tập thói quen ăn uống có lợi cho Tỳ.
Cháo Ý dĩ – Xích tiểu đậu (Nên dùng Ý rĩ sao vàng là sử dụng lâu dài, và đây chính là vị thuốc tuyệt vời có tác dụng kiện tỳ lợi thấp)
Đây là món ăn dưỡng sinh đơn giản, thường được dùng để hỗ trợ kiện Tỳ, lợi thấp, giúp cơ thể nhẹ hơn. Món này không nên xem là bài thuốc trị bệnh, mà chỉ là một món ăn hỗ trợ trong sinh hoạt hằng ngày.
Nguyên liệu gợi ý:
Ý dĩ 20–30g. (Kiện tỳ thì sao vàng)
Xích tiểu đậu 20g.
Gạo tẻ một nắm nhỏ.
Nước vừa đủ.
Cách nấu:
Rửa sạch Ý dĩ và Xích tiểu đậu.
Có thể ngâm trước vài giờ cho dễ mềm.
Cho vào nồi cùng gạo tẻ, nấu thành cháo loãng.
Ăn lúc còn ấm.
Công dụng theo Trung y:
Ý dĩ giúp kiện Tỳ, thẩm thấp, lợi thủy nhẹ. (Kiện tỳ thì phải sao vàng vị Ý rĩ)
Xích tiểu đậu giúp lợi thủy, tiêu thũng, hỗ trợ thanh thấp.
Gạo tẻ giúp hòa Vị, bảo vệ trung tiêu, tránh món ăn quá thiên về lợi thấp mà làm yếu Tỳ Vị.
Người phù nhẹ, người nặng nề, đại tiện dính, rêu lưỡi dày, ăn uống trì trệ có thể dùng món này tùy mức độ phù hợp.
Chú ý:
Người bụng lạnh, đại tiện lỏng nhiều, sợ lạnh rõ, chân tay lạnh nên dùng thận trọng, có thể nấu loãng hơn, ăn lượng nhỏ, hoặc thêm vài lát gừng mỏng nếu phù hợp. Phụ nữ có thai, người bệnh thận, người đang điều trị bệnh mạn tính nên hỏi ý kiến chuyên môn trước khi dùng thường xuyên.
Xoa bụng 200 vòng
Xoa bụng là một cách đơn giản để giúp trung tiêu thông hơn, hỗ trợ nhu động ruột, giảm đầy bụng, giúp khí cơ vùng Tỳ Vị được điều hòa.
Cách làm:
Nằm hoặc ngồi thoải mái.
Hai bàn tay xoa nóng vào nhau.
Đặt lòng bàn tay lên vùng quanh rốn.
Xoa nhẹ nhàng theo chiều kim đồng hồ.
Mỗi lần 100 vòng.
Có thể làm buổi sáng sau khi thức dậy và buổi tối trước khi ngủ.
Tổng cộng khoảng 200 vòng trong ngày.
Tác dụng hỗ trợ:
Làm ấm vùng bụng.
Giúp khí cơ trung tiêu lưu thông.
Giảm đầy bụng, chậm tiêu.
Hỗ trợ đại tiện dễ hơn.
Giúp người có thấp trệ cảm thấy bụng nhẹ hơn.
Chú ý:
Không xoa quá mạnh.
Không xoa ngay sau khi ăn no.
Người đau bụng cấp, viêm ruột cấp, phụ nữ có thai, người mới phẫu thuật vùng bụng không nên tự thực hiện mạnh.
Không uống nước đá.
Không ăn trái cây lạnh lấy trực tiếp từ tủ lạnh.
Không ăn quá no.
Không ăn tối quá muộn.
Không vừa ăn xong đã nằm.
Lạnh làm Tỳ Vị khó vận hóa. Ăn quá no làm Tỳ phải gánh nặng. Người có thấp vốn đã vận hóa kém, nếu lại thêm lạnh và đầy, thấp càng dễ sinh.
Ăn chậm, nhai kỹ, dừng trước khi no.
Đây là một phương pháp kiện Tỳ rất đơn giản nhưng rất quan trọng. Nhiều người tìm thuốc bổ Tỳ, nhưng lại ăn quá nhanh, quá nhiều, quá muộn. Nếu không sửa cách ăn, Tỳ rất khó khỏe lại.
Ngày đầu tiên, chỉ cần làm được ba điều:
Ăn ấm.
Ăn chậm.
Ăn vừa đủ.
Đó đã là bước đầu tiên để Tỳ bắt đầu hồi phục.
NGÀY 2
MỞ PHẾ
Phế tuyên phát, thấp có đường thoát
Nếu Tỳ là nơi vận hóa thủy dịch, thì Phế là nơi phân bố và điều hòa thủy dịch. Trung y nói Phế chủ khí, chủ bì mao, thông điều thủy đạo. Phế có chức năng tuyên phát và túc giáng.
Tuyên phát là đưa khí và tân dịch ra ngoài, lên trên, ra da lông.
Túc giáng là đưa khí và thủy dịch đi xuống, giúp nước có đường về Thận và Bàng quang.
Có thể ví Phế như chiếc nắp ấm. Khi nắp mở vừa phải, hơi nước bốc lên, lan tỏa và thoát ra điều hòa. Khi nắp bị đóng chặt, hơi nước không thoát, bên trong dễ đọng lại. Trong cơ thể, khi Phế khí không thông, người có thể thấy ngực nặng, đờm nhiều, mũi xoang tắc, đầu nặng, da bí, mồ hôi không thông.
Ngày 2 tập trung vào việc giúp Phế thông hơn, hơi thở sâu hơn, vùng ngực mở hơn, bì mao thông thoáng hơn.
Mục tiêu của ngày 2 là:
Giảm cảm giác nặng ngực.
Hỗ trợ giảm đờm.
Giúp đầu bớt nặng.
Giúp hơi thở khoan khoái hơn.
Giúp cơ thể thông thoáng, bớt bí trệ.
Trà Gừng – Trần bì
Trà Gừng – Trần bì phù hợp hơn với người thiên hàn thấp, đàm thấp, bụng lạnh, đầy bụng, đờm trắng, sợ lạnh. Đây là món uống ấm, giúp hành khí, hóa thấp nhẹ, làm ấm trung tiêu và hỗ trợ Phế khí thông hơn.
Nguyên liệu gợi ý:
Gừng tươi 2–3 lát mỏng.
Trần bì một nhúm nhỏ.
Nước nóng vừa đủ.
Cách làm:
Cho gừng và Trần bì vào ly.
Hãm với nước nóng 10–15 phút.
Uống ấm, từng ngụm nhỏ.
Không uống quá đặc.
Công dụng theo Trung y:
Gừng giúp ôn trung, tán hàn, ấm Tỳ Vị.
Trần bì giúp lý khí, hóa đàm, táo thấp nhẹ.
Hai vị phối hợp giúp người đầy bụng, đờm trắng, ngực nặng, tiêu hóa trì trệ cảm thấy dễ chịu hơn.
Chú ý:
Người miệng đắng, mụn viêm nhiều, tiểu vàng, đại tiện hôi dính, rêu lưỡi vàng nhớt, người đang có thấp nhiệt rõ không nên dùng nhiều gừng. Người đau dạ dày nóng rát, âm hư nội nhiệt, đang sốt, đang viêm cấp cũng nên thận trọng.
Nếu không hợp với gừng, có thể chỉ uống nước ấm, hoặc dùng món thanh nhẹ hơn tùy thể trạng.
Vỗ Phế 3 phút
Vỗ nhẹ vùng ngực là cách đơn giản giúp vùng Phế được khai mở, hỗ trợ khí cơ vùng thượng tiêu thông hơn. Cách này không phải là điều trị bệnh phổi, mà là một động tác dưỡng sinh nhẹ nhàng.
Cách làm:
Đứng hoặc ngồi thẳng lưng.
Thả lỏng vai, cổ, hàm.
Dùng lòng bàn tay vỗ nhẹ vùng ngực trước.
Vỗ từ trên xuống dưới, từ giữa ngực sang hai bên.
Lực vỗ nhẹ, không gây đau.
Mỗi lần khoảng 3 phút.
Mỗi ngày có thể làm 1–2 lần.
Kết hợp hít vào bằng mũi, thở ra chậm bằng miệng.
Tác dụng hỗ trợ:
Mở vùng ngực.
Giúp hơi thở sâu hơn.
Hỗ trợ giảm cảm giác tức ngực nhẹ.
Giúp Phế khí tuyên phát tốt hơn.
Giúp người đàm thấp, ngực nặng, đầu nặng cảm thấy thông thoáng hơn.
Chú ý:
Người bệnh tim mạch, đau ngực chưa rõ nguyên nhân, gãy xương sườn, chấn thương vùng ngực, sau phẫu thuật, ho ra máu, khó thở nặng không nên tự vỗ ngực. Nếu có triệu chứng nặng, cần đi khám.
Không ngồi điều hòa quá lâu.
Không để gió lạnh thổi thẳng vào cổ, gáy, ngực và lưng.
Không uống nước đá khi đang ở trong phòng lạnh.
Không nằm lâu một chỗ.
Hàn lạnh làm Phế khí dễ bị uất trở. Khi Phế khí không thông, chức năng tuyên phát túc giáng giảm, thủy dịch khó phân bố, đàm thấp dễ tích lại.
Nếu phải làm việc trong phòng điều hòa, nên giữ ấm cổ gáy, uống nước ấm, thỉnh thoảng đứng dậy đi lại, hít thở sâu vài phút.
Hơi thở thông thì khí cơ thông.
Khí cơ thông thì thấp dễ hóa.
Ngày thứ hai không cần làm gì quá nhiều. Chỉ cần để ngực mở hơn, hơi thở sâu hơn, cơ thể bớt lạnh hơn, mồ hôi thông nhẹ hơn, đó đã là giúp Phế thực hiện tốt vai trò của mình.
NGÀY 3
KHỞI ĐỘNG THẬN
Thận khí hóa, thủy đạo mới thông
Trong Trung y, Thận chủ thủy, Thận dương chủ khí hóa. Nếu Tỳ là nơi vận hóa, Phế là nơi tuyên giáng, thì Thận là gốc của khí hóa thủy dịch.
Có thể ví Thận dương như ngọn lửa dưới ấm nước. Lửa đủ thì nước được làm ấm, bốc hơi, vận hành và bài tiết. Lửa yếu thì nước lạnh, đọng lại, sinh phù, lạnh, mệt, tiểu đêm, đại tiện lỏng.
Ngày 3 tập trung vào việc làm ấm nhẹ phần dưới cơ thể, đặc biệt là bàn chân, bụng dưới, lưng eo. Đây là cách hỗ trợ Thận khí hóa, đồng thời giúp Tỳ được ôn ấm để vận hóa thấp tốt hơn.
Mục tiêu của ngày 3 là:
Giúp chân ấm hơn.
Hỗ trợ ngủ sâu hơn.
Giảm cảm giác lạnh bụng, lạnh chân.
Hỗ trợ thủy dịch vận hành tốt hơn.
Giúp cơ thể bớt nặng do hàn thấp.
Canh Củ cải trắng – Gừng – Táo đỏ
Món canh này nhẹ, dễ nấu, phù hợp với người đầy bụng, khí trệ, ăn uống trì trệ, người cần món ấm nhẹ để hỗ trợ tiêu hóa. Củ cải giúp hạ khí, tiêu thực; gừng làm ấm trung tiêu; táo đỏ giúp điều hòa, bổ nhẹ Tỳ Vị.
Nguyên liệu gợi ý:
Củ cải trắng 200g.
Gừng tươi 2–3 lát.
Táo đỏ 2–3 quả.
Nước vừa đủ.
Có thể thêm một ít thịt nạc nếu muốn món canh có lực bổ nhẹ hơn.
Cách nấu:
Củ cải gọt vỏ, cắt miếng.
Táo đỏ rửa sạch, bỏ hạt nếu cần.
Cho củ cải, táo đỏ, gừng vào nồi.
Nấu thành canh loãng.
Ăn lúc còn ấm.
Công dụng theo Trung y:
Củ cải trắng giúp tiêu thực, hạ khí, hóa đàm nhẹ.
Gừng giúp ôn trung, tán hàn.
Táo đỏ giúp hòa trung, dưỡng Tỳ Vị nhẹ.
Món này phù hợp với người đầy bụng, ăn chậm tiêu, hàn thấp nhẹ, bụng lạnh.
Chú ý:
Người đang thấp nhiệt rõ, miệng đắng, tiểu vàng, mụn viêm nhiều, táo bón khô, nóng trong rõ thì không nên dùng nhiều gừng. Người đường huyết cao nên dùng ít táo đỏ hoặc bỏ táo đỏ. Người đang dùng thuốc điều trị bệnh mạn tính nên xem món này như thức ăn hỗ trợ, không thay thuốc.
Ngâm chân 10–15 phút
Bàn chân là nơi nhiều kinh mạch đi qua, đặc biệt liên quan đến Thận, Tỳ, Can. Giữ chân ấm giúp cơ thể thư giãn, hỗ trợ giấc ngủ, giúp phần dưới cơ thể bớt lạnh và nặng.
Cách làm:
Chuẩn bị nước ấm khoảng 38–42°C, cảm giác ấm dễ chịu.
Có thể thêm 3 lát gừng nếu người thiên hàn, chân lạnh.
Ngâm chân 10–15 phút trước khi ngủ.
Mực nước nên ngập qua mắt cá chân.
Sau khi ngâm, lau khô ngay và mang vớ mỏng nếu trời lạnh.
Tác dụng hỗ trợ:
Làm ấm bàn chân.
Thư giãn cơ thể.
Hỗ trợ giấc ngủ.
Giúp khí huyết phần dưới lưu thông hơn.
Hỗ trợ người chân lạnh, phù nhẹ, hàn thấp.
Chú ý:
Không ngâm nước quá nóng.
Không ngâm đến mức vã mồ hôi nhiều.
Người tiểu đường, mất cảm giác bàn chân, giãn tĩnh mạch nặng, bệnh tim mạch nặng, huyết áp không ổn định, phụ nữ có thai, người đang sốt không nên tự ngâm chân nóng nếu chưa hỏi ý kiến chuyên môn.
Không ép mình uống quá nhiều nước trong thời gian ngắn.
Không uống nhiều nước lạnh vào buổi tối.
Không để chân lạnh khi ngủ.
Không thức khuya.
Nước cần thiết cho cơ thể, nhưng với người Tỳ hư thấp nặng, uống quá nhiều nước lạnh hoặc uống dồn dập có thể làm bụng đầy, tiểu tiện rối loạn, người nặng hơn. Cách tốt hơn là uống nước ấm từng ngụm nhỏ, theo nhu cầu thật sự của cơ thể.
Chân ấm, bụng ấm, người dễ nhẹ.
Ngày thứ ba không phải là bổ Thận mạnh, càng không phải dùng thuốc ôn dương mạnh. Chỉ cần giữ ấm đúng chỗ, ngủ sớm hơn, ngâm chân nhẹ, ăn ấm, tránh lạnh, cơ thể đã bắt đầu có điều kiện để khí hóa thủy dịch tốt hơn.
TỔNG KẾT BA NGÀY ĐẦU
Ba ngày đầu tiên là giai đoạn khởi động, mở đường và thông thủy đạo.
Ngày 1 đánh thức Tỳ, giúp vận hóa tốt hơn.
Ngày 2 mở Phế, giúp tuyên phát túc giáng thông hơn.
Ngày 3 khởi động Thận, giúp thủy dịch được khí hóa tốt hơn.
Sau ba ngày, một số người có thể cảm thấy bụng nhẹ hơn, đầu bớt nặng, tiêu hóa dễ hơn, ngủ tốt hơn, chân ấm hơn, tiểu tiện thông hơn. Tuy nhiên, mức độ thay đổi tùy vào thể trạng, tuổi tác, bệnh nền và mức độ thấp tích lâu hay mới.
Điều quan trọng nhất không phải là mong cơ thể thay đổi thật nhanh, mà là bắt đầu xây lại ba thói quen nền tảng:
Ăn ấm và vừa đủ để Tỳ bớt tổn thương.
Thở sâu và tránh lạnh để Phế được thông.
Giữ chân bụng ấm và ngủ sớm để Thận khí hóa tốt hơn.
Ba ngày này giống như mở mương trước khi tháo nước. Khi đường đi đã thông, những bước tiếp theo trong hành trình trừ thấp sẽ dễ phát huy tác dụng hơn.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Thấp không thể trừ chỉ bằng một ly trà, một món cháo hay một lần ngâm chân. Thấp sinh ra vì hệ thống vận thủy của cơ thể bị chậm, bị lạnh, bị yếu hoặc bị tắc. Vì vậy, muốn trừ thấp bền vững, phải khởi động lại Tỳ – Phế – Thận.
Tỳ vận hóa thì thấp không sinh thêm.
Phế tuyên giáng thì thấp có đường thoát.
Thận khí hóa thì nước không đình trệ.
Ba ngày đầu tiên của hành trình trừ thấp chính là bước mở đường. Làm nhẹ nhàng, đều đặn, đúng thể trạng, không cực đoan, không nóng vội. Khi cơ thể bắt đầu ấm hơn, thông hơn, nhẹ hơn, đó là dấu hiệu thủy đạo đang dần được khai mở.
Phần 1: Nguyên nhân gây bệnh
Các yếu tố dẫn đến bệnh phụ nữ gồm có: yếu tố tà khí lục dâm, yếu tố tình chí, yếu tố sinh hoạt và yếu tố thể chất. Trong các yếu tố tà khí, thường gặp nhất là hàn, nhiệt, thấp; về tình chí thì chủ yếu là giận dữ (nộ), suy nghĩ (tư), lo sợ (khủng); yếu tố sinh hoạt bao gồm: kết hôn sớm, sinh nở nhiều, phòng sự không điều độ, ăn uống không hợp lý, lao lực quá độ, té ngã tổn thương… Yếu tố thể chất (bao gồm cả yếu tố bẩm sinh) là nói đến tình trạng mạnh yếu của thể chất, tức là sự hưng suy của hoạt động tạng phủ, kinh lạc, khí huyết.
Yếu tố tà khí, tình chí và sinh hoạt là các điều kiện gây bệnh, nhưng sau khi tác động đến cơ thể có gây bệnh hay không, biểu hiện thế nào, mức độ ra sao, tiên lượng tốt hay xấu, lại phụ thuộc vào thể chất. Các chứng bệnh phụ khoa thường liên quan đến sự hưng suy của chức năng tạng phủ, khí huyết, bốn mạch Xung – Nhâm – Đốc – Đới và tử cung.
Trong “Tố Vấn – Bình Nhiệt Bệnh Luận” có nói: “Tà chi sở tụ, kỳ khí tất hư” (nơi tà khí tụ lại, khí tất phải suy), cho thấy ngoại nhân là điều kiện thay đổi, nội nhân (thể chất) là căn cứ biến hóa, và ngoại nhân phát huy tác dụng thông qua nội nhân. Sau đây sẽ trình bày cụ thể các yếu tố gây bệnh và đặc điểm gây bệnh trong phụ khoa.
Tà khí lục dâm gồm: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa – gọi chung là “lục tà” hay “lục khí”. Khi chúng phát triển quá mức, không đầy đủ, hoặc xuất hiện không đúng thời, thì được gọi là “lục dâm”, là nguyên nhân gây bệnh.
Lục dâm đều có thể gây ra các bệnh phụ khoa, nhưng do phụ nữ “lấy huyết làm gốc”, nên hàn, nhiệt và thấp dễ tác động đến huyết mà gây nên các chứng bệnh phụ khoa, vì vậy sẽ được trình bày kỹ hơn. Ngoài ra, hàn, nhiệt, thấp ở nội tạng là do rối loạn chức năng tạng phủ mà sinh ra.
Xét theo vị trí có thể chia thành: Ngoại hàn và nội hàn; theo tính chất có thể chia thành: thực hàn và hư hàn – bốn loại này thường tồn tại đồng thời, nhưng lấy hư – thực làm nguyên tắc phân biệt.
Nguyên nhân cụ thể hàn tà gây bệnh như sau: nếu bị nhiễm hàn tà, dầm mưa, lội nước, hoặc ăn quá nhiều đồ sống lạnh, sẽ khiến huyết bị hàn làm ngưng trệ, huyết hành không thông, mạch tử cung bị cản trở, có thể dẫn đến kinh nguyệt đến muộn, thống kinh (đau bụng kinh), khối tích trong bụng… Nếu dương khí của cơ thể không đủ, hàn sinh từ bên trong, chức năng tạng phủ rối loạn, ảnh hưởng đến chức năng Xung – Nhâm – tử cung, sẽ gây nên thống kinh, bệnh đới hạ, đau bụng khi mang thai, tử cung lạnh gây vô sinh…
Nhiệt tà cũng chia thành: ngoại nhiệt, nội nhiệt, hư nhiệt, thực nhiệt – ở đây vẫn lấy hư – thực làm nguyên tắc để phân loại:
Bị nhiễm nhiệt tà, tình chí thái quá sinh hỏa, ăn nhiều đồ cay nóng, kích thích dương khí, đều có thể dẫn đến dương nhiệt vượng thịnh bên trong.
Hoặc cơ địa vốn dĩ âm hư, dương khí thiên thắng, âm hư sinh nội nhiệt.
Nhiệt độc là một loại thực nhiệt nghiêm trọng, được gọi là “nhiệt cực sinh độc”, là chứng trọng của thực nhiệt.
Dù là thực nhiệt hay hư nhiệt đều có thể tổn thương Xung – Nhâm, thúc đẩy huyết đi sai đường, gây ra kinh nguyệt đến sớm, băng lậu, hành kinh nôn ra máu cam, thai động bất an, thai lậu, sản hậu phát sốt, huyết hạ không dứt…
Nếu tỳ dương vốn hư, chức năng vận hóa suy yếu, thấp đục bên trong thịnh; hoặc thận dương hư, khí hóa rối loạn, thủy khí đình trệ, đều dẫn đến thấp nước tụ lại bên trong – gọi là nội thấp.
Thấp là tà khí hữu hình thuộc âm, nên không phân hư – thực, nhưng lại dễ theo tình trạng âm dương thịnh suy và thời gian thấp khí tồn lưu mà biến hóa: từ dương hóa thành thấp nhiệt, từ âm hóa thành hàn thấp.
Về thấp độc, có hai nguyên nhân chính: một là thấp tích tụ lâu ngày sinh độc, hai là nhiễm khuẩn từ đường sinh dục gây ra.
Tổng kết lại, thấp tà nặng trọc, có xu hướng đi xuống, hạ nhập vào Xung – Nhâm, làm Đới mạch mất chức năng, có thể gây ra bệnh đới hạ, ngứa âm hộ, vô sinh… Nếu xảy ra trong thai kỳ, do ảnh hưởng thai khí, có thể gây ra chứng nôn nghén khi mang thai, phù khi mang thai…
Yếu tố tình chí là chỉ bảy loại tình cảm gồm: hỷ (vui), nộ (giận), ưu (lo), tư (nghĩ), bi (buồn), khủng (sợ), kinh (kinh hãi). Phụ nữ nếu bị kích động tinh thần quá mức, tình chí thay đổi sẽ chủ yếu làm tổn thương phần khí, sau đó ảnh hưởng đến phần huyết, gây nên khí huyết không điều hòa, khiến âm dương mất cân bằng, chức năng tạng phủ rối loạn mà sinh bệnh. Trong bảy tình chí gây tổn thương nội thương, các tình chí ảnh hưởng lớn đến bệnh phụ khoa là nộ, tư, khủng, nên được phân tích như sau:
Ứ ức, phẫn nộ dễ gây khí trệ, khí nghịch, tiếp đó dẫn đến tổn thương phần huyết, có thể gây ra: kinh nguyệt đến muộn, thống kinh (đau bụng kinh), bế kinh, hành kinh nôn ra máu cam, thiếu sữa, khối tích trong bụng…
Suy nghĩ không giải tỏa được thường khiến khí kết, khí huyết ứ trệ, có thể dẫn đến bế kinh, rối loạn kinh nguyệt, khối tích…
Khiếp sợ quá độ thường làm khí hạ, khí loạn, mất khả năng điều hòa và thống nhiếp huyết, có thể gây ra: rong kinh, băng lậu, thai động bất an, sẩy thai, sinh non…
III. Yếu tố sinh hoạt
Yếu tố sinh hoạt là điều kiện phát bệnh, cũng là điều kiện ảnh hưởng đến thể chất, ở một mức độ nào đó còn là nguyên nhân quan trọng làm tổn thương thể chất.
Phụ nữ nếu bẩm sinh không đủ, hoặc kết hôn sớm, phòng sự không điều độ, sinh nở nhiều, cho con bú nhiều, đều có thể làm tổn thương thận khí, hao tổn khí huyết. Khi thận khí không đủ, khí huyết mất điều hòa, sẽ gây ra: bệnh kinh nguyệt, bệnh đới hạ, thai động bất an, sẩy thai, sinh non…
Nếu ăn uống thất thường, ăn quá nhiều hoặc thiên lệch, thích món béo ngọt, cay nóng, hoặc ăn uống lạnh nóng không hợp lý, đều có thể tổn thương tỳ vị, dẫn đến nhiều bệnh.
Ăn nhiều đồ cay nóng dễ trợ dương sinh hỏa, gây kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt quá nhiều, hành kinh kèm nôn ra máu cam, thai động bất an…
Ăn nhiều đồ lạnh sống có thể gây thống kinh, bế kinh, bệnh đới hạ…
Phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và sau sinh cần lao động vừa phải.
Nếu lao động quá sức trong kỳ kinh nguyệt, có thể gây kéo dài kỳ kinh hoặc lượng kinh quá nhiều.
Nếu lao động nặng nhọc trong thai kỳ, dễ dẫn đến thai động bất an, sẩy thai, sinh non.
Ngược lại, nếu nghỉ ngơi quá mức, khí huyết ứ trệ, dễ dẫn đến đẻ khó.
Sau sinh nếu mang vác nặng, làm việc sớm quá mức dễ dẫn đến sa tử cung.
Phụ nữ trong kỳ kinh hoặc thai kỳ nếu leo trèo, mang vác nặng, hoặc bị té ngã, va đập dễ dẫn đến băng huyết, thai động bất an…
Thể chất của con người thể hiện rõ ràng khả năng kháng bệnh mạnh hay yếu. Nó không những quyết định các yếu tố gây bệnh có thể tổn hại đến cơ thể hay không, mà còn ảnh hưởng đến loại bệnh phát ra, mức độ nặng nhẹ, tiến triển và tiên lượng.
Trong “Linh Khu – Bách Bệnh Thủy Sinh” có nói: “Bỗng gặp gió dữ mưa lớn mà không bị bệnh, vì không hư, nên tà không thể gây hại” – cho thấy tầm quan trọng của thể chất.
Đồng thời, những loại thể chất khác nhau có thể ảnh hưởng đến khả năng cảm thụ với các yếu tố gây bệnh khác nhau.
Trong “Y Lý Tập Yếu” của Ngô Đức Hán có viết: “Người dễ bị bệnh do phong là vì khí ngoài biểu vốn hư; Dễ bị bệnh do lạnh là do dương khí vốn yếu; Dễ bị bệnh do nhiệt là do âm khí vốn suy; Dễ bị tổn thương do ăn uống là do tỳ vị vốn kém; Dễ bị tổn thương do lao lực là do trung khí vốn suy. Cần biết rằng ngày bệnh phát chính là lúc chính khí đã suy.”
Do đó, trong cùng môi trường sống, người thể chất khỏe mạnh khi gặp tác nhân gây bệnh có thể không bị bệnh, còn người thể chất yếu thì không chống nổi, dễ mắc bệnh.
Thể chất con người do sự khác biệt bẩm sinh, cùng với ảnh hưởng của dinh dưỡng và thói quen sinh hoạt, có thể hình thành các loại thể chất khác nhau. Ví dụ: Có người bẩm dương thịnh, thường bị táo bón, tay chân nóng; Có người bẩm âm thịnh, thường tiêu lỏng, sợ lạnh, tay chân lạnh.
Cũng là bẩm sinh yếu, kết hôn sớm, sinh nở nhiều, phòng sự không điều độ gây tổn thương thận khí, nhưng hậu quả lại khác nhau: Có người chủ yếu tổn thương mệnh môn chân hỏa, biểu hiện chứng thận dương hư như tiêu chảy khi hành kinh, đới hạ, phù nề tử cung, vô sinh… Có người chủ yếu hao tổn âm tinh chân thủy, biểu hiện chứng thận âm hư như băng lậu, bế kinh, kinh nguyệt rối loạn, thai động bất an…
Lại ví dụ: cùng nhiễm thấp tà, nhưng tùy theo thể chất âm dương thịnh suy mà biểu hiện khác nhau:
Có người thấp tà hóa nhiệt (dương thịnh), biểu hiện chứng thấp nhiệt như đới hạ do thấp nhiệt, ngứa âm hộ… Có người thấp tà hóa hàn (âm thịnh), biểu hiện chứng hàn thấp như thống kinh do hàn thấp ngưng trệ, bế kinh…
Ngoài ra, người thể chất khỏe mạnh thì bệnh nhẹ, dễ chữa; người thể chất yếu thì bệnh nặng, khó khỏi.
Tóm lại, yếu tố thể chất đóng vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển, chuyển biến và tiên lượng của bệnh.
Phần 2: Cơ chế bệnh lý
Cơ chế bệnh lý trong các bệnh phụ khoa có thể tóm lược thành ba phương diện lớn:– Chức năng tạng phủ rối loạn ảnh hưởng đến Xung – Nhâm mà sinh bệnh;– Khí huyết rối loạn ảnh hưởng đến Xung – Nhâm mà sinh bệnh;
– Tử cung bị tổn thương trực tiếp, ảnh hưởng đến Xung – Nhâm mà sinh bệnh.
Điểm khác biệt giữa cơ chế bệnh của phụ khoa so với nội khoa, ngoại khoa và các chuyên khoa khác chính là: trong phụ khoa, mọi bệnh lý đều có liên quan đến sự tổn thương của Xung – Nhâm (hoặc Đốc, Đới). Về sinh lý, tử cung thông qua Xung – Nhâm (Đốc – Đới) mà kết nối với toàn bộ hệ thống kinh mạch; về bệnh lý, nếu chức năng tạng phủ rối loạn, khí huyết mất điều hòa mà làm tổn thương đến chức năng Xung – Nhâm (Đốc – Đới), thì mới sinh ra các bệnh lý về kinh, đới, thai, sản và tạp bệnh.
Các y gia đời trước phần lớn đều lấy điều này làm nguyên tắc luận bệnh.
Trong sách 《Chư bệnh nguyên hậu luận》, khi bàn về bệnh phụ nữ, từ các mục luận chứng như: rối loạn kinh nguyệt (5 luận), bệnh đới hạ (9 luận), băng lậu (7 luận), băng trung (5 luận), tất cả đều dựa trên tổn thương Xung – Nhâm để lập luận. Trong 《Hiệu chú phụ nhân lương phương》, có nói: “Bệnh phụ nữ có 36 loại, đều do lao tổn Xung – Nhâm mà thành. Bởi Xung – Nhâm là hội hải của 12 kinh mạch.” Trong 《Y học nguyên lưu luận》 viết: “Phàm trị bệnh phụ nữ, tất phải hiểu rõ mạch Xung – Nhâm… Mạch Xung – Nhâm đều khởi từ tử cung, đi dọc theo lưng, là biển của các kinh mạch, là nơi sinh ra huyết, là chỗ kết nối của thai. Hiểu rõ Xung – Nhâm thì gốc bệnh sáng tỏ, từ triệu chứng phát ra mà có thể biết gốc gác của bệnh.”Danh y Lý Thời Trân còn nói rõ: “Người thầy thuốc không hiểu điều này thì không thể nắm bắt được cơ chế bệnh lý.”Điều đó cho thấy cần phải nhấn mạnh vai trò trung tâm của “tổn thương Xung – Nhâm” trong cơ chế bệnh lý phụ khoa. Dưới đây là các cơ chế bệnh lý chủ yếu:
Can uất hóa hỏa → nhiệt thương Xung – Nhâm → huyết đi loạn → đới hạ, ngứa âm hộ. Can khí phạm vị (xung vị khí) → trong thai kỳ Xung khí vượng, dẫn vị khí đi ngược → gây nôn nghén. Can huyết không đủ → sau khi mang thai, huyết tụ ở Xung – Nhâm nuôi thai → gan huyết càng hư → can dương vượng → gây chóng mặt khi mang thai; nặng thì phong nội động → thành chứng sản giật.
Tỳ khí hư → Xung – Nhâm không vững, hệ nâng đỡ yếu → sa tử cung. Tỳ hư huyết ít, nguồn hóa sinh không đủ → Xung – Nhâm huyết hư → huyết hải không đầy đủ đúng kỳ → kinh muộn, kinh ít, bế kinh; thai mất nuôi dưỡng → động thai, sẩy thai, sinh non. Tỳ dương không vượng → thấp trọc đình trệ bên trong → giáng xuống Xung – Nhâm → đới mạch mất chức năng, Nhâm mạch không giữ được → bệnh đới hạ.Thấp trọc đình trệ → thai kỳ khí Xung vượng → dẫn đàm ẩm đi ngược lên → gây nôn nghén.
Khí huyết mất điều hòa là một cơ chế bệnh lý thường gặp trong các bệnh lý phụ khoa và sản khoa. Do kinh nguyệt, thai nghén, sinh nở, cho con bú đều liên quan đến huyết, lại rất dễ hao tổn huyết, nên cơ thể phụ nữ thường ở trong trạng thái huyết hư, khí tương đối thịnh.
Trong 《Linh khu·Ngũ âm ngũ vị》 có nói: “Phụ nhân chi sinh, hữu dư vu khí, bất túc vu huyết, dĩ kỳ sác thoát huyết dã” :Phụ nữ có thừa về khí, thiếu về huyết, là vì thường xuyên mất huyết. Khí và huyết vốn tương sinh, tương dưỡng lẫn nhau, tổn thương về huyết tất sẽ ảnh hưởng đến khí, tổn thương về khí cũng sẽ ảnh hưởng đến huyết. Do đó, khi lâm sàng cần phân tích kỹ xem bệnh do khí làm chủ hay huyết làm chủ. Thông thường, tình chí biến động dễ gây tổn thương phần khí. Như 《Tố vấn·Cử thống luận》 viết: “Trăm bệnh đều do khí mà sinh. Giận thì khí bốc lên, vui thì khí chậm lại, buồn thì khí tiêu tan, sợ thì khí hạ, kinh hãi thì khí loạn, lao lực thì khí hao tổn, nghĩ ngợi thì khí kết.” Còn các tà khí như hàn, nhiệt, thấp thường gây tổn thương phần huyết. Như trong 《Tố vấn·Điều kinh luận》 viết: “Hàn thấp nhập người, da không co lại, cơ cứng chắc, dinh huyết ứ trệ khó thông.” 《Tố vấn·Âm dương ứng tượng đại luận》 lại nói: “Nhiệt thịnh thì sưng thũng.” Những điều này đều chỉ ra rằng hàn, nhiệt, thấp tà chủ yếu gây tổn thương vinh huyết. Hiểu rõ các điểm then chốt của cơ chế bệnh lý khí huyết sẽ giúp ích cho việc biện chứng luận trị chính xác. Sau đây là phân tích cụ thể:
Khí hư hạ hãm, Xung Nhâm không ổn định, huyết mất khả năng thống nhiếp, gây kinh sớm, kinh nhiều, băng lậu, sản hậu huyết hạ không dứt. Xung Nhâm không giữ được thai, thai động bất an. Mạch tử cung mất sức nâng đỡ, sa tử cung. Khí kết, khí trệ, huyết cũng ứ trệ, Xung Nhâm không thông, huyết hành trì trệ, gây kinh muộn, thống kinh, bế kinh; nặng thì huyết kết thành khối, sinh ra khối tích trong bụng.
Hàn tà kết hợp với huyết, huyết bị hàn làm ngưng tụ, Xung Nhâm không thông, gây kinh muộn, kinh ít, thống kinh, bế kinh, khối tích trong bụng, sản hậu đau bụng…Nhiệt tà với huyết tương tranh, làm tổn thương Xung Nhâm, huyết đi loạn, gây kinh sớm, kinh nhiều, băng lậu, kinh nguyệt đứt rồi lại ra, động thai, sẩy thai, sinh non, sản hậu phát sốt, huyết hạ không dứt…Thấp tà tổn thương huyết, gặp nhiệt hóa thành thấp nhiệt, tổn thương mạch Nhâm – Đới, sinh bệnh đới hạ, ngứa âm hộ…Thấp gặp hàn hóa thành hàn thấp, xâm nhập Xung Nhâm, huyết hành không thông, gây thống kinh, bế kinh…
III. Tử cung bị tổn thương trực tiếp ảnh hưởng đến Xung – Nhâm mà gây bệnh
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh, nếu không chú ý vệ sinh, bị nhiễm tà độc, tà khí tụ lại tại tử cung, tổn thương Xung Nhâm, sinh ra rối loạn kinh nguyệt, băng lậu, bệnh đới hạ, sản hậu phát sốt…Sống lâu trong vùng ẩm thấp, hoặc bị mưa ướt, lội nước, hàn thấp tà xâm nhập tử cung, xâm phạm Xung Nhâm, huyết bị hàn thấp làm ngưng trệ, gây thống kinh, bế kinh, khối tích…Ngoại thương (bao gồm phẫu thuật trong tử cung) hoặc phòng sự không điều độ, trực tiếp tổn thương tử cung, Xung Nhâm rối loạn, dẫn đến rối loạn kinh nguyệt, băng lậu, thai động bất an, sẩy thai, sinh non…
Tổng kết: Ba cơ chế bệnh lý trên không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau: Chức năng tạng phủ rối loạn có thể dẫn đến khí huyết mất điều hòa. Khí huyết mất điều hòa cũng có thể gây rối loạn chức năng tạng phủ. Tổn thương trực tiếp tử cung cũng có thể dẫn đến rối loạn tạng phủ và khí huyết. Nói tóm lại, bất kể yếu tố gây bệnh là gì, phát bệnh từ đâu – tạng phủ, khí hay huyết – thì cơ chế bệnh lý luôn mang tính tổng thể, và điểm chung là đều tổn thương đến chức năng sinh lý của Xung – Nhâm (hoặc Đốc – Đới), từ đó mới sinh ra các bệnh phụ khoa và sản khoa.
Hiểu rõ điều này mới có thể từ những biến hóa phức tạp tìm ra mấu chốt của các bệnh về kinh nguyệt, đới hạ, thai nghén, sinh sản và các tạp bệnh, cuối cùng đưa ra chẩn đoán đúng đắn. (Trung y Thế Gia)
Lương y Trường Xuân dịch