Tiết 1
Tiểu luận về bệnh thai nghén
Trong thời kỳ thai nghén, những bệnh phát sinh có liên quan đến thai kỳ gọi là bệnh thai nghén, cũng gọi là bệnh trước sinh hoặc thai tiền bệnh.
Bệnh thai nghén không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của thai phụ, mà còn có thể trở ngại sự phát triển bình thường của thai nhi, thậm chí gây đọa thai, tiểu sản. Vì vậy, trong thai kỳ cần chú ý phòng ngừa trong sinh hoạt hằng ngày; khi đã phát bệnh, cần điều trị và điều dưỡng đúng cách.
Những bệnh thai nghén thường gặp trên lâm sàng gồm nôn nghén nặng, đau bụng trong thai kỳ, thai ngoài tử cung, thai lậu, thai động bất an, sảy thai liên tiếp, thai chết không xuống, thai teo không lớn, quỷ thai, thai thủy thũng mãn, phù thũng trong thai kỳ, tâm phiền trong thai kỳ, chóng mặt trong thai kỳ, chứng giản trong thai kỳ, tiểu tiện lâm thống trong thai kỳ, v.v.
Nguyên nhân phát sinh bệnh thai nghén không ngoài ngoại cảm lục dâm, nội thương tình chí, lao nhàn quá độ, phòng sự không điều độ, té ngã, va chạm, trật vặn. Tuy nhiên, do thai kỳ có đặc điểm sinh lý riêng, nên bệnh cơ cũng có những điểm đặc thù.
Có thể khái quát bệnh cơ của bệnh thai nghén thành bốn phương diện chính.
Một là sau khi có thai, Âm huyết hạ chú Xung Nhâm để nuôi thai. Vì vậy trong cơ thể xuất hiện trạng thái Âm huyết tụ ở dưới, Dương khí dễ nổi ở trên. Nếu nặng hơn, khí cơ nghịch loạn, Dương khí thiên cang, dễ dẫn đến nôn nghén nặng, tâm phiền trong thai kỳ, chóng mặt trong thai kỳ, chứng giản trong thai kỳ.
Hai là thai thể dần lớn, làm khí cơ thăng giáng bị trở ngại. Do khí cơ không thông, dễ hình thành khí trệ, thấp uất, đàm thấp nội đình, có thể gây tâm phiền trong thai kỳ, phù thũng trong thai kỳ, thai thủy thũng mãn.
Ba là Bào mạch hệ thuộc ở Thận. Thận chủ tàng tinh, liên quan mật thiết với sinh sản. Nếu Thận khí hao tổn, thai nguyên không vững, dễ dẫn đến thai động bất an, sảy thai liên tiếp.
Bốn là Tỳ Vị là nguồn sinh hóa khí huyết, mà thai lại nhờ huyết để nuôi dưỡng. Nếu Tỳ hư, huyết ít, thai mất sự nuôi dưỡng, có thể dẫn đến thai lậu, thai động bất an, thai teo không lớn.
Nguyên tắc điều trị bệnh thai nghén
Nguyên tắc điều trị bệnh thai nghén là trị bệnh và an thai cùng tiến hành.
Nếu do bệnh mà khiến thai bất an, cần trọng ở trị bệnh; bệnh lui thì thai tự an. Nếu do thai bất an mà gây bệnh, cần trọng ở an thai; thai an thì bệnh tự khỏi.
Cụ thể, đại pháp điều trị gồm ba phương diện.
Một là bổ Thận. Mục đích là củng cố gốc của thai. Dùng thuốc lấy bổ Thận ích Âm làm chủ. Vì Thận là gốc tiên thiên, Bào mạch hệ thuộc Thận, thai nguyên có vững hay không thường liên quan mật thiết với Thận khí và Thận tinh.
Hai là kiện Tỳ. Mục đích là bồi bổ nguồn của huyết. Dùng thuốc lấy kiện Tỳ dưỡng huyết làm chủ. Tỳ Vị vận hóa tốt thì khí huyết có nguồn sinh hóa, thai được nuôi dưỡng đầy đủ.
Ba là sơ Can. Mục đích là thông điều khí cơ. Dùng thuốc lấy lý khí thanh nhiệt làm chủ. Trong thai kỳ, khí cơ dễ bị trở ngại, Can khí dễ uất, uất lâu có thể hóa nhiệt. Sơ Can điều khí giúp khí huyết điều đạt, thai được yên.
Nếu thai nguyên bất thường, thai đã mất khó giữ, hoặc thai chết không xuống, thì an thai không còn ích lợi, nên nhanh chóng xử lý để hạ thai, nhằm bảo toàn người mẹ.
Trong thời kỳ thai nghén, các loại thuốc tuấn hạ, hoạt lợi, khứ ứ, phá huyết, hao khí, tán khí và tất cả thuốc có độc đều phải thận trọng hoặc cấm dùng. Nhưng khi bệnh tình thật sự cần thiết, vẫn có thể tùy chứng mà dùng thuốc thích hợp. Ví dụ, trong nôn nghén nặng, có thể cân nhắc dùng thuốc giáng khí để ngừng nôn.
Đây là ý nghĩa của câu “có nguyên nhân chính đáng thì dùng không làm tổn thai”. Tuy vậy, khi dùng thuốc trong thai kỳ phải nắm nghiêm liều lượng, và khi bệnh đã giảm quá nửa thì nên dừng hoặc điều chỉnh, để tránh động thai hoặc làm tổn thương thai.
Nói tóm lại
Bệnh thai nghén có đặc điểm vừa liên quan đến bệnh của người mẹ, vừa liên quan đến sự an nguy của thai. Vì vậy, điều trị không thể chỉ nhìn một phía. Khi bệnh làm thai bất an thì cần trị bệnh để an thai. Khi thai bất an làm phát sinh triệu chứng thì cần an thai để bệnh tự yên.
Cốt lõi của điều trị là xét rõ Thận, Tỳ, Can, Xung Nhâm và thai nguyên. Thận vững thì thai có gốc; Tỳ kiện thì huyết có nguồn; Can sơ đạt thì khí cơ thông. Khi khí huyết điều hòa, Xung Nhâm được nuôi dưỡng và thai nguyên ổn định, bệnh thai nghén mới có cơ sở để thuyên giảm.
Tiết 2
Nôn nghén nặng
Trong giai đoạn đầu thai kỳ, nếu xuất hiện buồn nôn, nôn mửa nghiêm trọng, đầu choáng, chán ăn, nặng thì ăn vào liền nôn, gọi là nôn nghén nặng. Bệnh này còn gọi là nôn mửa trong thai kỳ, tử bệnh, bệnh nhi, trở bệnh.
Bệnh này tương đương với chứng nôn nghén nặng trong y học hiện đại. Nôn nghén nặng là một trong những bệnh chứng thường gặp ở giai đoạn đầu thai kỳ. Nếu điều trị kịp thời, chăm sóc đúng cách, đa số người bệnh có thể nhanh chóng hồi phục, tiên lượng phần nhiều tốt.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của bệnh này là Xung khí thượng nghịch, Vị mất hòa giáng. Các thể thường gặp gồm Vị hư, Can nhiệt và đàm trệ.
Sau khi có thai, kinh huyết ngừng hành, huyết tụ ở Xung Nhâm để nuôi thai, Xung mạch khí thịnh. Xung mạch lệ thuộc Dương minh. Nếu Vị khí vốn hư, Vị mất chức năng hòa giáng, Xung khí kèm Vị khí thượng nghịch, từ đó gây buồn nôn, nôn mửa.
Người vốn tính nóng nảy, hay giận, Can uất hóa nhiệt. Sau khi có thai, huyết tụ để nuôi thai, Can huyết càng hư, Can hỏa càng vượng. Lại thêm Xung mạch khí thịnh, Xung mạch phụ thuộc ở Can. Can mạch kèm Vị, xuyên qua cơ hoành. Xung khí kèm Can hỏa thượng nghịch phạm Vị, Vị mất hòa giáng, vì vậy phát sinh buồn nôn, nôn mửa.
Tỳ Dương vốn hư, đàm ẩm đình lại bên trong. Sau khi có thai, kinh huyết ủng bế, Xung mạch khí thịnh. Xung khí kèm đàm ẩm thượng nghịch, từ đó gây buồn nôn, nôn mửa.
Biện chứng luận trị
Biện chứng cần chú trọng tìm hiểu tính chất của chất nôn, gồm màu sắc, chất thể và mùi; đồng thời kết hợp chứng trạng toàn thân, lưỡi và mạch để phân biệt hàn, nhiệt, hư, thực.
Đại pháp điều trị là điều khí hòa trung, giáng nghịch chỉ nôn. Đồng thời cần chú ý điều chỉnh ăn uống và tình chí. Khi dùng thuốc nên tránh các vị quá thăng tán, để khỏi làm khí nghịch thêm hoặc ảnh hưởng đến thai.
Chứng trạng chủ yếu
Giai đoạn đầu thai kỳ xuất hiện buồn nôn, nôn mửa, nôn ra thức ăn, nặng thì ăn vào liền nôn. Vị quản và bụng đầy tức, không muốn ăn, đầu choáng, thân thể mệt mỏi, uể oải, hay buồn ngủ. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch hoãn hoạt vô lực.
Phân tích chứng trạng
Sau khi có thai, huyết tụ ở dưới để nuôi thai nguyên, Xung khí thiên thịnh mà thượng nghịch. Vị khí vốn hư, mất chức năng hòa giáng, Xung khí kèm Vị khí thượng nghịch, nên nôn mửa, không ăn được, hoặc ăn vào liền nôn.
Tỳ Vị hư yếu, vận hóa thất chức, nên Vị quản và bụng đầy tức, không muốn ăn. Trung Dương không phấn chấn, thanh Dương không thăng, nên đầu choáng, thân thể mệt mỏi, uể oải, hay buồn ngủ. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hoãn hoạt vô lực là dấu hiệu của Tỳ Vị hư yếu.
Pháp trị
Kiện Vị hòa trung, giáng nghịch chỉ nôn.
Phương thang
Hương sa Lục quân tử thang, trích từ Danh Y Phương Luận.
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Bán hạ, Trần bì, Mộc hương, Sa nhân, Sinh khương, Đại táo.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Đại táo kiện Tỳ dưỡng Vị, ích khí hòa trung. Sinh khương, Bán hạ giáng nghịch chỉ nôn. Sa nhân, Mộc hương, Trần bì lý khí hòa trung. Toàn phương vừa bổ Tỳ Vị, vừa giáng nghịch khí, khiến Vị khí hòa giáng thì nôn mửa tự dừng.
Gia giảm
Nếu Tỳ Vị hư hàn, tùy chứng thêm Đinh hương, Bạch đậu khấu để tăng sức ôn trung giáng nghịch.
Nếu nôn nhiều làm tổn thương Âm, biểu hiện miệng khô, đại tiện bí, nên bỏ Mộc hương, Sa nhân, Phục linh và các vị ôn táo hoặc đạm thấm; tùy chứng thêm Ngọc trúc, Mạch môn, Thạch hộc, Hồ ma nhân để dưỡng Âm hòa Vị.
Nếu thai phụ tiết nước bọt quá nhiều, thường xuyên chảy dãi, cổ nhân gọi là Tỳ lạnh chảy dãi, có thể dùng phương trên gia Ích trí nhân, Bạch đậu khấu để ôn Tỳ hóa ẩm, nhiếp dãi chỉ thóa.
Chứng trạng chủ yếu
Giai đoạn đầu thai kỳ nôn ra nước chua hoặc nước đắng. Ngực sườn đầy tức, ợ hơi, hay thở dài. Đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô, khát thích uống lạnh, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng khô. Mạch huyền hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Sau khi có thai, Xung khí kèm Can hỏa thượng nghịch phạm Vị, nên nôn ra nước chua hoặc nước đắng. Can uất khí trệ, khí cơ không lợi, nên ngực sườn đầy tức, ợ hơi, hay thở dài. Can hỏa thượng nghịch, nên đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô. Nhiệt thịnh làm tổn thương tân dịch, nên khát thích uống lạnh, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch huyền hoạt sác là dấu hiệu của Can nhiệt nội thịnh.
Pháp trị
Thanh Can hòa Vị, giáng nghịch chỉ nôn.
Phương thang
Gia vị Ôn đởm thang, trích từ Y Tông Kim Giám.
Trần bì, Chế bán hạ, Phục linh, Cam thảo, Chỉ thực, Trúc nhự, Hoàng cầm, Hoàng liên, Mạch môn, Lô căn, Sinh khương.
Trong phương, Hoàng cầm, Hoàng liên, Trúc nhự thanh Can nhiệt, trừ phiền, chỉ nôn. Chỉ thực, Trần bì khoan hung hòa Vị, điều khí giáng nghịch. Bán hạ, Phục linh, Sinh khương trừ thấp hóa đàm, giáng nghịch chỉ nôn. Mạch môn, Lô căn dưỡng Âm thanh nhiệt, trừ phiền chỉ nôn. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng thanh Can hòa Vị, giáng nghịch chỉ nôn.
Gia giảm
Nếu nôn nhiều làm tổn thương tân dịch, có ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ, miệng khô, tùy chứng thêm Thạch hộc, Ngọc trúc, Mạch môn để dưỡng Âm thanh nhiệt.
Nếu đại tiện bí, tùy chứng thêm Hồ ma nhân để nhuận tràng thông tiện.
Chứng trạng chủ yếu
Giai đoạn đầu thai kỳ nôn ra đàm dãi. Ngực cách đầy tức, không muốn ăn, trong miệng nhạt và nhớt, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, hơi ngắn. Lưỡi nhạt, to bệu, rêu trắng nhờn. Mạch hoạt.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn đàm thấp, hoặc Tỳ hư đình ẩm. Sau khi có thai, huyết ủng, khí thịnh, Xung khí thượng nghịch kèm đàm ẩm bốc lên, nên nôn ra đàm dãi. Cách gian có đàm ẩm, trung Dương không vận, nên ngực cách đầy tức, không muốn ăn. Đàm ẩm ngăn trở trung tiêu, thanh Dương không thăng, nên đầu choáng, mắt hoa. Ẩm tà lấn lên Tâm Phế, nên hồi hộp, hơi ngắn. Lưỡi nhạt, to bệu, rêu trắng nhờn, mạch hoạt cũng là dấu hiệu của đàm ẩm đình lại bên trong.
Pháp trị
Hóa đàm trừ thấp, giáng nghịch chỉ nôn.
Phương thang
Thanh trúc nhự thang, trích từ Tế Âm Cương Mục.
Tiên trúc nhự, Quất bì, Bạch phục linh, Bán hạ, Sinh khương.
Trong phương, Bán hạ, Trần bì táo thấp hóa đàm, giáng nghịch chỉ nôn. Trúc nhự trừ phiền chỉ nôn. Phục linh, Sinh khương kiện Tỳ ôn Vị, thấm thấp chỉ nôn. Các vị dùng chung có tác dụng trừ thấp hóa đàm, giáng nghịch chỉ nôn.
Gia giảm
Nếu Tỳ Vị hư yếu, đàm thấp nội thịnh, tùy chứng thêm Thương truật, Bạch truật để kiện Tỳ táo thấp.
Nếu kiêm hàn, biểu hiện nôn ra nước trong, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng nhợt, nên thêm Đinh hương, Bạch đậu khấu để ôn trung hóa đàm, giáng nghịch chỉ nôn.
Nếu kiêm nhiệt, biểu hiện nôn ra nước vàng, đầu choáng, tâm phiền, thích ăn chua lạnh, tùy chứng thêm Hoàng cầm, Tri mẫu, Tiền hồ; hoặc dùng Lô căn thang để trừ đàm trọc, thanh tà nhiệt.
Lô căn thang
Lô căn, Trúc nhự, Quất bì, Mạch môn, Tiền hồ.
Chứng nặng và xử lý phối hợp
Ba thể trên đều có thể do nôn mửa không ngừng, không ăn uống được, mà dẫn đến Âm dịch hao tổn, tinh khí tiêu tán. Khi đó có thể xuất hiện tinh thần suy kiệt, thân thể gầy sút, hốc mắt lõm xuống, hai mắt không có thần, tứ chi vô lực. Trường hợp nặng có thể nôn ra chất lẫn máu, phát sốt, miệng khát, tiểu ít, đại tiện bí, môi lưỡi khô ráo, lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng hoặc bong tróc, mạch tế hoạt sác vô lực. Đây là chứng nghiêm trọng thuộc khí Âm lưỡng hư. Khi xét nghiệm nước tiểu, thể ceton thường có phản ứng dương tính mạnh.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Âm, hòa Vị chỉ nôn.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Tăng dịch thang, gia Ô mai, Trúc nhự, Lô căn.
Tăng dịch thang, trích từ Ôn Bệnh Điều Biện, gồm Huyền sâm, Mạch môn, Sinh địa.
Phương ý là ích khí sinh tân, dưỡng Âm tăng dịch, hòa Vị giáng nghịch. Khi khí được phục hồi, Âm dịch được sinh, Vị khí được hòa giáng, nôn mửa sẽ giảm và tân dịch có thể dần phục hồi.
Nếu nôn ra chất lẫn máu, tùy chứng thêm Ngẫu tiết, Ô tặc cốt, Ô mai thán để dưỡng Âm thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết.
Khi cần thiết, nên phối hợp điều trị Đông Tây y, truyền dịch, điều chỉnh toan trung độc và rối loạn điện giải. Nếu sau điều trị không cải thiện, hoặc thân nhiệt tăng đến trên 38 độ, nhịp tim vượt quá 120 lần mỗi phút, hoặc xuất hiện hoàng đản, cần cân nhắc chấm dứt thai kỳ để bảo toàn người mẹ.
Nói tóm lại
Nôn nghén nặng lấy buồn nôn, nôn mửa nghiêm trọng trong giai đoạn đầu thai kỳ làm đặc điểm chính. Bệnh cơ trọng yếu là Xung khí thượng nghịch, Vị mất hòa giáng. Vị hư thì Vị không đủ sức giáng; Can nhiệt thì Can hỏa theo Xung khí phạm Vị; đàm trệ thì đàm ẩm theo Xung khí thượng nghịch.
Điều trị lấy điều khí hòa trung, giáng nghịch chỉ nôn làm chủ. Vị hư thì kiện Vị hòa trung; Can nhiệt thì thanh Can hòa Vị; đàm trệ thì hóa đàm trừ thấp. Nếu nôn lâu, không ăn uống được, làm khí Âm hao tổn, cần kịp thời ích khí dưỡng Âm, phối hợp xử lý hiện đại khi cần thiết. Thai kỳ dùng thuốc phải thận trọng, nhưng khi bệnh nặng thì không thể chỉ vì sợ động thai mà bỏ qua điều trị cần thiết.
Tiết 3
Đau bụng trong thai kỳ
Trong thời kỳ thai nghén, xuất hiện bệnh chứng lấy đau bụng dưới làm chủ, gọi là đau bụng trong thai kỳ, cũng gọi là Bào trở.
Đau bụng trong thai kỳ là bệnh thường gặp trong thai kỳ. Nếu không kèm ra huyết âm đạo, tiên lượng nói chung tương đối tốt. Nhưng nếu đau kéo dài không dứt, bệnh thế ngày càng tiến triển, cũng có thể làm tổn thương thai nguyên, nặng hơn có thể phát triển thành đọa thai hoặc tiểu sản.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là Bào mạch bị trở ngại, khí huyết vận hành không thông. Không thông thì đau là thực chứng; không được nuôi dưỡng mà đau là hư chứng.
Các thể thường gặp gồm huyết hư, hư hàn và khí uất.
Thai phụ vốn huyết hư, hoặc mất huyết quá nhiều, hoặc Tỳ hư khiến nguồn sinh hóa không đủ mà thành huyết hư. Huyết hư thì Bào mạch mất sự nuôi dưỡng, từ đó phát sinh đau bụng.
Trong thai kỳ, huyết vốn tụ lại để nuôi thai. Nếu thai phụ vốn huyết hư, sau khi có thai huyết càng phải dồn xuống Xung Nhâm để dưỡng thai, phần huyết có thể dùng để nuôi dưỡng Bào mạch càng thiếu. Bào mạch không được nhu dưỡng đầy đủ, vì vậy bụng dưới đau âm ỉ, kéo dài, không dữ dội.
Thai phụ vốn Dương hư, Âm hàn sinh bên trong, không thể sinh huyết và hành huyết. Bào mạch mất sự ôn ấm, khí huyết vận hành không thông, Bào mạch bị trở ngại, vì vậy phát sinh đau bụng.
Thể này tuy thuộc hư, nhưng trong hư có hàn trệ. Hàn làm co rút, làm huyết đi chậm, nên đau thường có tính lạnh, thích ấm, thích ấn. Nếu không được ôn dưỡng đúng mức, khí huyết ở Bào mạch càng khó lưu thông, đau có thể kéo dài.
Thai phụ vốn tính tình uất ức, hoặc do tình chí bị tổn thương, khiến khí cơ uất trệ. Khí uất thì huyết vận hành không thông, Bào mạch bị trở, không thông thì đau, vì vậy phát sinh đau bụng.
Trong thai kỳ, thai thể dần lớn, khí cơ thăng giáng vốn đã dễ bị trở ngại. Nếu thêm Can khí không thư, khí cơ uất kết, thì Bào mạch mất điều đạt, bụng dưới có thể trướng đau, kèm ngực sườn đầy tức, tâm trạng uất ức hoặc dễ phiền giận.
Biện chứng luận trị
Biện chứng chủ yếu căn cứ vào tính chất và mức độ đau bụng, kết hợp chứng trạng đi kèm, lưỡi và mạch để phân biệt hư thực.
Đau âm ỉ, liên miên, thích xoa ấn, phần nhiều thuộc huyết hư hoặc hư hàn. Đau lạnh, thích ấm, thích ấn, kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, phần nhiều thuộc hư hàn. Đau trướng, liên quan rõ với tình chí, kèm ngực sườn đầy tức, phần nhiều thuộc khí uất.
Phép trị lấy điều lý khí huyết làm chủ. Khi khí huyết Bào mạch thông thuận, đau sẽ tự dừng. Trong thai kỳ, dùng thuốc cần chú ý vừa giảm đau, vừa an thai, không nên dùng các thuốc phá huyết, công trục quá mạnh.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ bụng dưới đau âm ỉ, liên miên. Đầu choáng, hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, sắc mặt vàng úa. Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng. Mạch tế hoạt.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn huyết hư. Sau khi có thai, huyết tụ lại để nuôi thai, huyết càng hư thêm. Huyết hư khiến Bào mạch mất sự nuôi dưỡng, nên bụng dưới đau âm ỉ, liên miên. Huyết hư không nuôi tủy hải và thanh khiếu, nên đầu choáng. Huyết không nuôi Tâm, nên hồi hộp. Tâm thần không yên, nên mất ngủ, nhiều mộng. Huyết hư không vinh nhuận lên mặt, nên sắc mặt vàng úa. Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch tế hoạt là dấu hiệu của huyết hư trong thai kỳ.
Pháp trị
Bổ huyết dưỡng huyết, chỉ thống an thai.
Phương thang
Đương quy thược dược tán, trích từ Kim Quỹ Yếu Lược, bỏ Trạch tả, gia Đảng sâm.
Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Bạch truật, Phục linh, Đảng sâm.
Trong phương, Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết, hoạt huyết, giúp huyết được nuôi mà không trệ. Bạch thược dưỡng huyết, hoãn cấp, chỉ thống. Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh kiện Tỳ ích khí, giúp nguồn sinh hóa khí huyết được đầy đủ. Toàn phương khiến khí đầy, huyết đủ, khí huyết vận hành điều hòa, nhờ đó thai an và đau dừng.
Gia giảm
Nếu huyết hư nặng, tùy chứng thêm Câu kỷ tử, Chế thủ ô, Thỏ ty tử để tư Thận dưỡng huyết, nhu dưỡng Bào mạch.
Nếu hồi hộp, mất ngủ, tùy chứng thêm Toan táo nhân, Long nhãn nhục, Ngũ vị tử để dưỡng huyết, ninh Tâm, an thần.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ bụng dưới lạnh đau, thích ấm, thích ấn. Sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt mỏi, không sức, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch tế hoạt.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn Dương hư. Sau khi có thai, Bào mạch mất sự ôn ấm, khí huyết vận hành không thông, nên bụng dưới lạnh đau, thích ấm, thích ấn. Trung Dương không phấn chấn, nên mệt mỏi, không sức. Dương khí không thông đạt ra ngoài, nên sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế hoạt là dấu hiệu của hư hàn.
Pháp trị
Làm ấm Bào cung, chỉ thống, dưỡng huyết an thai.
Phương thang
Giao ngải thang, trích từ Kim Quỹ Yếu Lược.
A giao, Ngải diệp, Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược, Can địa hoàng, Cam thảo.
Trong phương, Ngải diệp làm ấm Bào cung, chỉ thống. Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết, hành trệ. Bạch thược, Cam thảo hoãn cấp, chỉ thống. A giao, Can địa hoàng dưỡng huyết, an thai. Toàn phương có công năng làm ấm Bào cung, chỉ thống, dưỡng huyết an thai.
Gia giảm
Nếu Thận Dương hư suy, kèm đau lưng, tùy chứng thêm Đỗ trọng, Ba kích thiên, Bổ cốt chi để ôn Thận trợ Dương. Khi Dương khí được ôn, Âm hàn tiêu tán, khí huyết lưu thông, đau bụng có thể giảm.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ bụng dưới trướng đau. Tình chí uất ức, hoặc phiền táo, dễ giận, kèm ngực sườn đầy trướng. Lưỡi đỏ, rêu mỏng. Mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng trạng
Thai phụ vốn tính hay uất, Can mất điều đạt, khí cơ không thông. Sau khi có thai, Bào mạch bị trở trệ, nên bụng dưới trướng đau. Khí trệ ở Can mạch, nên ngực sườn đầy trướng. Khí uất không được tuyên đạt, khí cơ không thông, nên tình chí uất ức, hoặc phiền táo, dễ giận. Lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch huyền hoạt là dấu hiệu của Can uất khí trệ trong thai kỳ.
Pháp trị
Sơ Can giải uất, chỉ thống an thai.
Phương thang
Tiêu dao tán gia Tô ngạnh, Trần bì.
Tiêu dao tán lấy Sài hồ sơ Can giải uất; Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết nhu Can; Bạch truật, Phục linh kiện Tỳ hòa trung; Cam thảo điều hòa; Bạc hà, Sinh khương giúp điều đạt khí cơ. Gia Tô ngạnh để lý khí khoan trung, an thai; gia Trần bì để lý khí hòa Vị, giúp khí cơ được thông. Khi Can khí điều đạt, khí huyết Bào mạch thông thuận, đau bụng sẽ giảm mà thai cũng được yên.
Gia giảm
Nếu uất lâu hóa nhiệt, tùy chứng thêm Chi tử, Hoàng cầm để thanh nhiệt lương huyết, hòa Doanh chỉ thống.
Nói tóm lại
Đau bụng trong thai kỳ lấy bụng dưới đau trong thời gian mang thai làm đặc điểm chính. Bệnh cơ chủ yếu là Bào mạch bị trở ngại, khí huyết vận hành không thông, hoặc Bào mạch mất sự nuôi dưỡng. Thực thì do không thông mà đau; hư thì do không được nuôi dưỡng mà đau.
Huyết hư thì Bào mạch mất nuôi dưỡng, trị bằng bổ huyết dưỡng huyết, chỉ thống an thai. Hư hàn thì Bào mạch mất ôn ấm, trị bằng làm ấm Bào cung, dưỡng huyết an thai. Khí uất thì khí cơ không thông, Bào mạch bị trở, trị bằng sơ Can giải uất, chỉ thống an thai.
Trong điều trị, cần luôn xét đến thai nguyên. Nếu đau bụng không kèm ra huyết, đa số tiên lượng tương đối tốt. Nếu đau kéo dài, tăng dần, hoặc kèm ra huyết, lưng đau, thai động bất an, cần thăm khám và xử lý kịp thời để tránh tiến triển thành đọa thai hoặc tiểu sản.
Tiết 4
Thai ngoài tử cung
Phàm trứng đã thụ tinh làm tổ và phát triển ở ngoài buồng tử cung, gọi là thai ngoài tử cung. Trong y học hiện đại thường gọi là chửa ngoài tử cung hoặc thai lạc vị trí. Hai khái niệm này có chỗ gần nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau.
Chửa ngoài tử cung thường chỉ thai nằm ngoài tử cung, như thai ở vòi trứng, thai ở buồng trứng, thai trong ổ bụng, thai ở dây chằng rộng. Còn thai lạc vị trí có nghĩa rộng hơn, chỉ thai làm tổ ngoài vị trí làm tổ bình thường, ngoài các loại trên còn có thể bao gồm thai ở cổ tử cung, thai ở đoạn kẽ vòi trứng và thai ở sừng tử cung còn sót. Vì vậy, tên gọi thai lạc vị trí có phạm vi rộng hơn.
Trong văn hiến Trung y cổ không có tên bệnh “thai ngoài tử cung” hoặc “cung ngoại dựng”, nhưng trong các chứng như ngừng kinh đau bụng, ứ huyết ở thiếu phúc, kinh lậu, kinh bế, trưng hà, đã có những mô tả gần với biểu hiện của bệnh này.
Trong các loại thai ngoài tử cung, thai ở vòi trứng là thường gặp nhất. Sau khi thai ở vòi trứng vỡ, có thể gây xuất huyết cấp trong ổ bụng, phát bệnh nhanh, bệnh tình nặng. Nếu xử lý không đúng, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Đây là một trong những cấp cứu bụng thường gặp trong sản phụ khoa.
Các vị trí thường gặp gồm thai ở đoạn bóng vòi trứng, thai ở đoạn eo vòi trứng, thai ở đoạn kẽ vòi trứng, thai ở loa vòi trứng, thai buồng trứng, thai cổ tử cung và thai ổ bụng.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh có liên quan đến ứ trệ vốn có ở thiếu phúc, Xung Nhâm không thông, hoặc Thận khí tiên thiên bất túc. Do trứng đã thụ tinh không thể di chuyển về Bào cung mà lại phát triển trong vòi trứng, đến khi lớn dần làm trướng vỡ mạch lạc, Âm huyết tràn vào thiếu phúc, từ đó phát sinh một loạt chứng trạng như huyết ứ, huyết hư, quyết thoát.
Các thể bệnh cơ thường gặp gồm khí hư huyết ứ và khí trệ huyết ứ.
Cơ thể vốn Thận khí bất túc, hoặc kết hôn sớm, phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí; hoặc cơ thể vốn hư yếu, ăn uống, lao nhọc làm tổn thương Tỳ, trung khí bất túc. Khí hư thì vận huyết vô lực, huyết hành ứ trệ, khiến trứng đã thụ tinh không thể kịp thời vận chuyển đến Bào cung, từ đó thành thai ngoài tử cung.
Ở đây, khí hư không chỉ là sức khỏe suy yếu nói chung, mà là khí không đủ sức thúc đẩy huyết hành và vận chuyển thai nguyên. Khi khí không vận được huyết, huyết ứ ở thiếu phúc; khi đường vận hành của thai nguyên bị trở, thai dễ làm tổ sai chỗ.
Cơ thể vốn uất ức, hoặc phẫn nộ quá độ, khí trệ dẫn đến huyết ứ. Hoặc trong kỳ kinh, sau sinh, huyết dư chưa hết mà không kiêng phòng sự; hoặc nhiễm tà độc, khiến huyết ứ khí trệ, khí huyết ở Bào mạch không thông, trứng đã thụ tinh bị trở ngại, không thể vận chuyển đến Bào cung, từ đó thành thai ngoài tử cung.
Theo y học hiện đại, viêm vòi trứng mạn tính là nguyên nhân chủ yếu của thai ở vòi trứng. Viêm có thể gây dính vòi trứng, hẹp lòng ống, biến dạng vòi trứng, giảm nhu động của cơ thành vòi trứng, làm trở ngại sự di chuyển và vận chuyển bình thường của trứng đã thụ tinh. Ngoài ra, vòi trứng phát triển không tốt hoặc dị dạng, lạc nội mạc tử cung ở vòi trứng, khối u vùng chậu chèn ép hoặc kéo căng, trứng đã thụ tinh di chuyển lạc đường, hoặc vòi trứng sau thắt được nối thông trở lại, đều có thể làm sự vận hành bình thường của trứng bị trở ngại hoặc chậm trễ, khiến trứng không đến buồng tử cung đúng thời gian mà làm tổ trong vòi trứng.
Khi thai ở vòi trứng, do thành vòi trứng mỏng yếu, lòng ống hẹp, gai nhau của phôi trực tiếp xâm nhập vào lớp cơ của vòi trứng. Khi trứng thai sinh trưởng đến một mức nhất định, có thể phát sinh vỡ thai vòi trứng hoặc sảy thai vòi trứng.
Vỡ thai vòi trứng thường gặp ở thai đoạn eo vòi trứng. Sảy thai vòi trứng thường gặp ở thai đoạn bóng vòi trứng. Dù là vỡ hay sảy, do mạch máu mở ra, xuất huyết nhiều, kéo dài hoặc lặp lại, có thể hình thành máu tụ trong vòi trứng, vùng chậu hoặc ổ bụng. Trường hợp nặng có thể gây choáng, nguy hiểm đến tính mạng.
Đôi khi sau khi sảy hoặc vỡ, phôi vẫn còn sống và tiếp tục phát triển trong ổ bụng, trở thành thai ổ bụng thứ phát. Nếu sau khi thai vòi trứng tổn thương, bệnh trình kéo dài, phôi chết, cục máu được tổ chức hóa và dính với mô xung quanh, có thể hình thành thai ngoài tử cung cũ.
Khi thai ở vòi trứng, tử cung có thể to và mềm, nội mạc tử cung biến đổi giống màng rụng. Khi phôi chết, màng rụng có thể bong ra thành nguyên khối, gọi là ống màng rụng.
Biện chứng luận trị
Biện chứng thai ngoài tử cung chủ yếu là thực chứng huyết ứ ở thiếu phúc. Trong điều trị, từ đầu đến cuối lấy hoạt huyết hóa ứ làm chủ.
Trọng điểm của điều trị biện chứng là phải quan sát động thái bệnh tình theo từng giai đoạn. Việc dùng thuốc cần được thực hiện trong điều kiện có thể truyền máu, truyền dịch và chuẩn bị phẫu thuật khi cần. Không nên xem đây là bệnh có thể xử lý đơn giản chỉ bằng thuốc uống, nhất là khi đã có dấu hiệu vỡ, xuất huyết trong ổ bụng hoặc choáng.
Thời kỳ chưa vỡ là khi thai vòi trứng chưa bị vỡ hoặc chưa gây xuất huyết cấp.
Chứng trạng chủ yếu
Sau khi ngừng kinh có thể có phản ứng thai sớm, hoặc một bên bụng dưới đau âm ỉ. Khám hai tay có thể sờ thấy một bên phần phụ có khối mềm, ấn đau. Thử thai nước tiểu dương tính. Mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng trạng
Ngừng kinh là biểu hiện đã có thai, nên có thể kèm phản ứng thai sớm. Trứng thai làm tổ và phát triển trong vòi trứng, khiến khí cơ bị trở ngại, nên bên bệnh có khối, ấn đau, bụng dưới bên bệnh đau âm ỉ. Mạch huyền hoạt là dấu hiệu của ứ trở trong thai kỳ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, tiêu trưng, sát phôi.
Phương thang
Phương Thai ngoài tử cung số 2, phương của Bệnh viện trực thuộc số 1 Học viện Y khoa Sơn Tây.
Đan sâm 15g, Xích thược 15g, Đào nhân 9g, Tam lăng 3 đến 6g, Nga truật 3 đến 6g.
Trong phương, Đan sâm, Xích thược, Đào nhân hoạt huyết hóa ứ. Tam lăng, Nga truật tiêu trưng, tán kết. Toàn phương nhằm làm tan ứ, tiêu khối, giúp xử lý thai làm tổ sai vị trí khi chưa vỡ.
Vấn đề sát phôi
Khi thai vòi trứng chưa vỡ, phôi có thể vẫn còn sống. Vì vậy, làm cho phôi ngừng phát triển là điểm then chốt để điều trị không phẫu thuật thành công.
Có học giả cho rằng trong thuốc Trung y có thể thêm Ngô công, Toàn yết để hỗ trợ sát phôi, nhưng vẫn cần tiếp tục quan sát và kiểm chứng. Một số phương pháp hiện đại như dùng protein Thiên hoa phấn tiêm để sát phôi thường có hiệu quả sau năm đến bảy ngày, nhưng phải dùng đúng quy trình nghiêm ngặt để phòng phản ứng dị ứng. Hiện nay cũng có người quan sát dùng mifepristone, hoặc dùng MTX, 5-FU để sát phôi, nhưng phải nắm rất nghiêm liều lượng.
Nhờ ứng dụng siêu âm B, định lượng beta-hCG và nội soi ổ bụng, việc chẩn đoán sớm thai ngoài tử cung, theo dõi điều trị và nâng cao tỷ lệ thành công của điều trị không phẫu thuật đã tiến thêm một bước rõ rệt.
Thời kỳ đã vỡ là khi thai vòi trứng đã sảy hoặc đã vỡ. Trên lâm sàng có thể phân thành thể choáng, thể không ổn định và thể khối bao.
2.1. Thể choáng
Thể choáng là trường hợp sau khi thai vòi trứng vỡ gây xuất huyết cấp lượng lớn, trên lâm sàng có biểu hiện choáng.
Chứng trạng chủ yếu
Đột ngột đau dữ dội ở bụng dưới, sắc mặt trắng bệch, tứ chi quyết nghịch, hoặc mồ hôi lạnh đầm đìa, buồn nôn, nôn mửa, huyết áp hạ hoặc không ổn định. Có khi phiền táo, bất an. Mạch vi muốn tuyệt, hoặc tế sác vô lực. Đồng thời có các dấu hiệu bụng và dấu hiệu phụ khoa tương ứng.
Phân tích chứng trạng
Trứng thai đình trệ ngoài Bào cung, làm trướng vỡ mạch lạc, nên đột ngột đau dữ dội ở bụng dưới. Mạch lạc bị tổn thương, máu đổ vào trong, Âm huyết đột ngột mất nhiều, khí theo huyết mà thoát, nên sắc mặt trắng bệch, tứ chi quyết nghịch, mồ hôi lạnh đầm đìa. Mất huyết khiến Tâm thần không được nuôi dưỡng, nên phiền táo, bất an. Mạch vi muốn tuyệt hoặc tế sác vô lực là dấu hiệu Âm huyết đột ngột mất, Dương khí đột ngột thoát.
Pháp trị
Ích khí cố thoát, hoạt huyết khứ ứ.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Phương Thai ngoài tử cung số 1.
Sinh mạch tán, trích từ Nội Ngoại Thương Biện Hoặc Luận
Nhân sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử.
Phương Thai ngoài tử cung số 1, phương của Bệnh viện trực thuộc số 1 Học viện Y khoa Sơn Tây
Đan sâm, Xích thược, Đào nhân.
Trong phương, Nhân sâm đại bổ nguyên khí để cố thoát. Mạch môn, Ngũ vị tử dưỡng Âm liễm hãn, sinh tân. Đan sâm, Xích thược, Đào nhân hoạt huyết hóa ứ để tiêu máu tích.
Xử lý lâm sàng
Đối với người bệnh thể choáng, cần lập tức cho thở oxy, truyền dịch, khi cần thì truyền máu, phối hợp Sinh mạch tán để tích cực cấp cứu, bổ sung đủ thể tích tuần hoàn, điều chỉnh choáng. Sau khi choáng được khống chế, có thể gia dùng Phương Thai ngoài tử cung số 1 để hoạt huyết hóa ứ, đồng thời sớm phòng trị các kiêm chứng.
Nếu tứ chi quyết nghịch, tùy chứng thêm Phụ tử để hồi Dương cứu nghịch.
Nếu mồ hôi đầm đìa không dứt, tùy chứng thêm Sơn thù du để liễm hãn, sáp tinh khí.
Nếu xuất huyết trong chưa ngừng, tùy chứng thêm Tam thất để hóa ứ chỉ huyết.
2.2. Thể không ổn định
Thể không ổn định là trường hợp sau khi thai vòi trứng đã vỡ hoặc sảy chưa lâu, bệnh tình chưa ổn định, còn khả năng xuất huyết trong trở lại.
Chứng trạng chủ yếu
Đau bụng, cự án. Bụng có ấn đau và phản ứng dội, nhưng dần dần giảm nhẹ. Có thể sờ thấy khối ranh giới không rõ. Kèm ra huyết âm đạo lượng ít. Huyết áp ổn định. Mạch tế hoãn.
Phân tích chứng trạng
Mạch lạc bị vỡ, huyết tràn ra ngoài mạch, huyết không theo kinh mà thành ứ. Ứ huyết ngăn trở không thông, nên đau bụng, cự án. Ứ huyết ở trong, huyết mới không thể quy kinh, nên có ra huyết âm đạo. Khí huyết đột ngột hư, mạch đạo không đầy, nên mạch tế hoãn.
Pháp trị
Lấy hoạt huyết khứ ứ làm chủ.
Phương thang
Phương Thai ngoài tử cung số 1.
Đan sâm, Xích thược, Đào nhân.
Thông thường không cần gia giảm nhiều. Nếu kiêm khí huyết lưỡng hư, biểu hiện hồi hộp, hơi ngắn, tùy chứng thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ, Đương quy để ích khí dưỡng huyết. Khí vượng thì huyết dễ hành, nhờ đó hỗ trợ tiêu ứ.
Giai đoạn sau nếu hình thành cục máu, có thể thêm Tam lăng, Nga truật để tiêu trưng tích tụ, nhưng liều lượng nên từ ít đến nhiều, tăng dần cẩn thận.
Chú ý
Trong giai đoạn này vẫn phải theo dõi bệnh tình thật nghiêm ngặt, chú ý khả năng xuất huyết trong trở lại, đồng thời chuẩn bị điều kiện cấp cứu choáng khi cần. Không nên vì huyết áp tạm ổn mà xem nhẹ nguy cơ.
2.3. Thể khối bao
Thể khối bao là trường hợp sau khi thai vòi trứng vỡ hoặc sảy đã lâu, máu trong ổ bụng hình thành khối máu tụ.
Chứng trạng chủ yếu
Trong ổ bụng hình thành khối máu tụ. Đau bụng dần giảm, có thể có cảm giác trĩu căng ở bụng dưới hoặc mót đi đại tiện. Ra huyết âm đạo dần ngừng. Mạch tế sáp.
Phân tích chứng trạng
Mạch lạc bị tổn thương, huyết tràn vào thiếu phúc mà thành ứ. Ứ huyết tích tụ lâu ngày thành trưng, nên hình thành khối máu tụ trong ổ bụng. Khối trưng trở ngại khí cơ, nên bụng dưới trướng đau hoặc trĩu căng. Mạch tế sáp là dấu hiệu huyết ứ nội trở.
Pháp trị
Phá ứ tiêu trưng.
Phương thang
Phương Thai ngoài tử cung số 2.
Đan sâm, Xích thược, Đào nhân, Tam lăng, Nga truật.
Để thúc đẩy khối bao hấp thu, có thể phối hợp Tiêu trưng tán dùng ngoài.
Tiêu trưng tán
Thiên niên kiện 60g, Xuyên đoạn 120g, Truy địa phong 60g, Hoa tiêu 60g, Ngũ gia bì 120g, Bạch chỉ 120g, Tang ký sinh 120g, Ngải diệp 500g, Thấu cốt thảo 250g, Khương hoạt 60g, Độc hoạt 60g, Xích thược 120g, Quy vĩ 120g, Huyết kiệt 60g, Nhũ hương 60g, Một dược 60g.
Các vị trên tán thành bột. Mỗi 250g làm một phần, gói bằng vải, hấp 15 phút, nhân lúc còn nóng chườm ngoài. Mỗi ngày 1 đến 2 lần, 10 ngày là một liệu trình.
Phương dùng ngoài này có ý nghĩa ôn thông, hoạt huyết, tán kết, giúp khối ứ ở thiếu phúc dần hấp thu. Khi dùng phải chú ý nhiệt độ để tránh bỏng da, đồng thời vẫn cần theo dõi lâm sàng.
Xử lý kiêm chứng
Kiêm chứng thường gặp nhất và quan trọng nhất là chứng phủ thực, biểu hiện bụng trướng, táo bón, Vị quản khó chịu, bụng đau cự án, âm ruột giảm hoặc mất.
Nếu thuộc nhiệt thực, trong chủ phương thêm Đại hoàng, Mang tiêu để thanh nhiệt tả hạ.
Nếu thuộc hàn thực, dùng Cửu chủng tâm thống hoàn, trích từ Kim Quỹ Yếu Lược.
Cửu chủng tâm thống hoàn
Phụ tử 9g, Nhân sâm 3g, Can khương 3g, Ngô thù du 3g, Lang nha 3g, Ba đậu sương 3g.
Các vị trên tán bột, luyện mật làm hoàn to bằng hạt đậu Hà Lan. Mỗi lần dùng 3 đến 10 viên.
Nếu hàn nhiệt xen lẫn, có thể dùng Đại hoàng, Mang tiêu, phối lượng thích hợp Nhục quế.
Khi thông phủ vị tràng, có thể thêm Chỉ thực, Hậu phác, mỗi vị 3 đến 9g, để điều trị hoặc phòng ngừa Vị quản trướng đau.
Điều trị phẫu thuật
Sau khi chẩn đoán xác định thai vòi trứng, có thể cân nhắc điều trị phẫu thuật. Phẫu thuật có ưu điểm cầm máu nhanh. Nếu có các tình huống sau, có thể tiến hành phẫu thuật ngay.
Một là thời gian ngừng kinh tương đối dài, nghi thai ở đoạn kẽ vòi trứng hoặc thai ở sừng tử cung còn sót.
Hai là xuất huyết trong nhiều, choáng nặng, tuy đã cấp cứu nhưng khó khống chế.
Ba là thử thai vẫn tiếp tục dương tính, khối tiếp tục lớn lên, thuốc sát phôi không hiệu quả.
Bốn là người bệnh có nguyện vọng đồng thời thực hiện triệt sản.
Nói tóm lại
Thai ngoài tử cung là bệnh nguy hiểm trong thai kỳ, trọng điểm không chỉ là nhận ra có thai, mà phải nhận ra thai không ở đúng vị trí. Trong Trung y, bệnh cơ chủ yếu là thiếu phúc huyết ứ, Xung Nhâm không thông, hoặc khí hư, khí trệ khiến thai nguyên không vận chuyển được về Bào cung.
Điều trị biện chứng lấy hoạt huyết hóa ứ làm trục chính, nhưng phải đặt trong điều kiện theo dõi nghiêm ngặt. Thời kỳ chưa vỡ có thể hoạt huyết hóa ứ, tiêu trưng, sát phôi. Thời kỳ đã vỡ phải tùy thể mà xử lý: thể choáng cần cấp cứu, ích khí cố thoát, hoạt huyết khứ ứ; thể không ổn định cần hoạt huyết khứ ứ và theo dõi chặt để phòng xuất huyết trong trở lại; thể khối bao cần phá ứ tiêu trưng, giúp khối máu tụ hấp thu.
Đối với thai ngoài tử cung, không nên chỉ dùng thuốc mà thiếu theo dõi. Khi có xuất huyết trong, choáng, khối lớn lên, hoặc nghi vị trí nguy hiểm, cần xử lý cấp cứu và cân nhắc phẫu thuật kịp thời để bảo toàn tính mạng người mẹ.
Tiết 5
Thai lậu
Trong thời kỳ thai nghén, âm đạo ra huyết lượng ít, lúc ra lúc ngừng, hoặc rỉ rả không dứt, nhưng không có đau lưng, đau bụng, gọi là thai lậu. Bệnh này còn gọi là Bào lậu hoặc lậu thai.
Bệnh này nếu phát sinh ở giai đoạn đầu thai kỳ thì gần với chứng dọa sảy thai trong y học hiện đại. Nếu qua điều trị, huyết ra nhanh chóng dừng, các chứng kèm theo cũng hết, đa số có thể tiếp tục thai nghén. Ngược lại, nếu ra huyết âm đạo dần tăng, các chứng kèm theo nặng thêm, qua thăm khám và xét nghiệm xác định thai khó giữ, thì không nên tiếp tục cố gắng an thai, mà nên lấy việc bỏ thai để bảo toàn người mẹ làm trọng.
Nếu bệnh phát sinh vào giai đoạn giữa hoặc cuối thai kỳ, thì có thể gần với tình trạng nhau tiền đạo trong y học hiện đại. Khi chẩn đoán và điều trị cần hết sức coi trọng, không được xem nhẹ.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của thai lậu là Xung Nhâm không bền chắc, không thể nhiếp huyết để dưỡng thai. Các thể thường gặp gồm Thận hư, khí hư và huyết nhiệt.
Thai phụ tiên thiên Thận khí bất túc, hoặc phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí. Thận hư thì Xung Nhâm không vững, không thể chế ước kinh huyết, vì vậy phát sinh thai lậu ra huyết.
Thận là gốc của thai, Bào mạch hệ thuộc ở Thận. Nếu Thận khí không đầy, thai nguyên không có chỗ hệ thuộc vững chắc, Xung Nhâm mất sự cố nhiếp, huyết không được giữ lại để dưỡng thai, nên âm đạo ra huyết lượng ít, lúc ra lúc ngừng, hoặc rỉ rả không dứt.
Thai phụ vốn cơ thể hư yếu, hoặc ăn uống, lao nhọc làm tổn thương Tỳ, hoặc bệnh lâu ngày làm hao khí. Khí hư thì Xung Nhâm không vững, huyết mất sự thống nhiếp, từ đó gây thai lậu ra huyết.
Khí có công năng thống nhiếp huyết. Khi Tỳ khí hư, trung khí không đủ, khí không giữ được huyết, huyết dễ rời mạch mà ra. Trong thai kỳ, huyết vốn cần tụ ở Xung Nhâm để nuôi thai. Nếu khí hư không nhiếp được, thai huyết rỉ ra bên ngoài, thành thai lậu.
Thai phụ vốn Dương thịnh, hoặc thất tình uất kết hóa nhiệt, hoặc ngoại cảm tà nhiệt, hoặc Âm hư sinh nội nhiệt. Nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, bức huyết đi càn, vì vậy thành thai lậu.
Huyết gặp nhiệt thì dễ vọng hành. Trong thai kỳ, nếu nhiệt tà xâm nhập Xung Nhâm, hoặc hư nhiệt từ trong quấy động huyết phận, huyết không còn yên vị để dưỡng thai mà tràn ra ngoài, nên âm đạo ra huyết. Thể này thường thấy huyết sắc đỏ sẫm hoặc đỏ tươi, chất đặc, kèm các dấu hiệu nhiệt.
Biện chứng luận trị
Khi biện chứng cần căn cứ vào lượng huyết, sắc huyết, chất huyết chảy ra từ âm đạo, đồng thời kết hợp các chứng kèm theo, lưỡi và mạch để phân tích tổng hợp, từ đó xác định thể bệnh.
Đại pháp điều trị lấy chỉ huyết an thai làm chủ. Tùy từng thể mà dùng các phép bổ Thận, ích khí, thanh nhiệt. Khi lập phương dùng thuốc, không nên dùng quá nhiều vị tư nhuận, nê trệ; cũng không nên dùng quá nhiều vị ôn táo hoặc khổ hàn, vì các loại thuốc này nếu dùng không đúng có thể ảnh hưởng đến sự sinh hóa và vận hành của khí huyết, trở ngại sự phát triển của thai.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, âm đạo ra huyết lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Đầu choáng, tai ù, lưng gối đau mỏi, tiểu tiện nhiều lần. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch trầm hoạt vô lực.
Phân tích chứng trạng
Thận khí hư, Xung Nhâm không bền chắc, huyết hải không tàng chứa, nên sau khi có thai âm đạo ra huyết lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Thận hư, tủy hải bất túc, nên đầu choáng, tai ù, lưng gối đau mỏi. Thận hư, khí hóa thất thường, Bàng quang mất sự ước thúc, nên tiểu tiện nhiều lần. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm hoạt vô lực là dấu hiệu của Thận hư.
Pháp trị
Bổ Thận cố Xung, chỉ huyết an thai.
Phương thang
Thọ thai hoàn, trích từ Y Học Trung Trung Tham Tây Lục, gia Ngải diệp thán.
Thỏ ty tử, Tang ký sinh, Tục đoạn, A giao, Ngải diệp thán.
Trong phương, Thỏ ty tử bổ Thận ích tinh, an thai. Tang ký sinh, Tục đoạn cố Thận, mạnh lưng, giúp hệ thai. A giao, Ngải diệp thán dưỡng huyết, chỉ huyết, an thai. Toàn phương trọng ở bổ ích Thận khí, cố nhiếp Xung Nhâm. Khi Thận khí đầy đủ, Xung Nhâm bền chắc, thai lậu tự dừng.
Gia giảm
Nếu kiêm khí hư, bụng dưới sa trĩu rõ, tùy chứng thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ để ích khí an thai.
Nếu lưng gối đau mỏi nhiều, tùy chứng thêm Đỗ trọng, Cẩu tích để bổ Thận mạnh lưng.
Nếu huyết ra kéo dài, có thể gia thêm Ô tặc cốt, Tông lư thán tùy chứng để cố sáp chỉ huyết.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, âm đạo ra huyết lượng ít, sắc đỏ nhạt, chất loãng mỏng. Thần mệt, tay chân mỏi, hơi ngắn, lười nói, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng. Mạch hoạt vô lực.
Phân tích chứng trạng
Khí hư, Xung Nhâm không bền chắc, không đủ sức nhiếp huyết, nên âm đạo thỉnh thoảng ra huyết lượng ít. Khí hư, hỏa suy, không thể hóa huyết thành sắc đỏ tươi, nên huyết sắc đỏ nhạt, chất loãng mỏng. Khí hư, trung Dương không phấn chấn, nên thần mệt, tay chân mỏi, hơi ngắn, lười nói. Khí hư, Dương khí không phân bố đầy đủ, nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch hoạt vô lực là dấu hiệu của khí hư.
Pháp trị
Ích khí dưỡng huyết, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Cố hạ ích khí thang, trích từ Lâm Chứng Chỉ Nam Y Án.
Nhân sâm, Bạch truật, Thục địa, A giao, Bạch thược, Chích cam thảo, Sa nhân, Ngải diệp thán.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Chích cam thảo bổ trung ích khí, cố nhiếp Xung Nhâm. Thục địa, Bạch thược bổ huyết để nhu dưỡng thai nguyên. A giao, Ngải diệp thán dưỡng huyết, chỉ huyết, an thai. Sa nhân lý khí an thai, đồng thời giúp thuốc bổ không nê trệ. Toàn phương có công năng ích khí dưỡng huyết, cố Xung chỉ huyết.
Gia giảm
Nếu khí hư rõ, bụng dưới sa trĩu, có thể gia Hoàng kỳ, Thăng ma tùy chứng để ích khí thăng đề.
Nếu ra huyết kéo dài, có thể gia Ô tặc cốt, Tục đoạn, Tang ký sinh để cố Xung, chỉ huyết, an thai.
Nếu ăn kém, bụng đầy, có thể gia Trần bì, Sơn dược để kiện Tỳ hòa trung, giúp khí huyết có nguồn sinh hóa.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, âm đạo ra huyết, sắc đỏ sẫm hoặc đỏ tươi, chất đặc. Tâm phiền, ngủ ít, miệng khát thích uống lạnh, tiểu tiện vàng, đại tiện bí, mặt đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Tà nhiệt thịnh ở trong, nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, nên âm đạo ra huyết, sắc đỏ sẫm hoặc đỏ tươi, chất đặc. Nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, nên tâm phiền, ngủ ít. Nhiệt làm tổn thương tân dịch, nên miệng khát thích uống lạnh, tiểu tiện vàng, đại tiện bí. Nhiệt tà thượng nhiễu, nên mặt đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác cũng là dấu hiệu của tà nhiệt nội thịnh.
Pháp trị
Thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Gia vị A giao thang, trích từ Y Tông Kim Giám, bỏ Đương quy.
A giao, Ngải diệp, Sinh địa, Bạch thược, Đỗ trọng, Bạch truật, Hắc chi tử, Trắc bá diệp, Hoàng cầm.
Trong phương, Hắc chi tử, Trắc bá diệp, Hoàng cầm thanh nhiệt, chỉ huyết, an thai. Sinh địa, Bạch thược dưỡng huyết, lương huyết, an thai. Đỗ trọng, Bạch truật bổ Thận kiện Tỳ để cố thai. A giao, Ngải diệp dưỡng huyết, chỉ huyết, an thai. Toàn phương có công năng thanh nhiệt lương huyết, chỉ huyết an thai.
Gia giảm
Nếu nhiệt thịnh, miệng khát, tâm phiền rõ, tùy chứng thêm Mạch môn, Huyền sâm để dưỡng Âm thanh nhiệt.
Nếu ra huyết nhiều hơn, tùy chứng thêm Địa du thán, Hạn liên thảo để lương huyết chỉ huyết.
Nếu Âm hư nội nhiệt, lưỡi đỏ ít rêu, ngũ tâm phiền nhiệt, tùy chứng thêm Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Địa cốt bì để tư Âm thanh nhiệt.
Nói tóm lại
Thai lậu lấy trong thai kỳ âm đạo ra huyết lượng ít, lúc ra lúc ngừng, hoặc rỉ rả không dứt, nhưng không đau lưng, không đau bụng làm đặc điểm chính. Bệnh cơ chủ yếu là Xung Nhâm không bền chắc, không thể nhiếp huyết dưỡng thai.
Thận hư thì thai mất chỗ hệ thuộc, Xung Nhâm không cố, trị bằng bổ Thận cố Xung, chỉ huyết an thai. Khí hư thì khí không nhiếp huyết, trị bằng ích khí dưỡng huyết, cố Xung chỉ huyết. Huyết nhiệt thì nhiệt bức huyết vọng hành, trị bằng thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Khi điều trị thai lậu, cần vừa cầm huyết vừa an thai, nhưng cũng phải xét tình trạng thai. Nếu huyết ra giảm nhanh, chứng trạng nhẹ đi, thai còn có thể giữ thì tiếp tục an thai. Nếu huyết ra tăng dần, chứng trạng nặng hơn, kiểm tra cho thấy thai khó giữ, không nên cố giữ thai một cách máy móc, mà cần đặt an toàn của người mẹ lên trước.
Tiết 6
Thai động bất an
Trong thời kỳ thai nghén, xuất hiện đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu, hoặc âm đạo ra huyết lượng ít, gọi là thai động bất an. Bệnh này còn gọi là thai khí bất an.
Bệnh này gần với chứng dọa sảy thai, dọa sinh non trong y học hiện đại. Thai động bất an là một trong những bệnh thai nghén thường gặp trên lâm sàng. Sau khi điều trị an thai, nếu đau lưng, đau bụng mất đi, ra huyết nhanh chóng dừng lại, đa số có thể tiếp tục thai nghén.
Nếu do thai nguyên có khiếm khuyết mà dẫn đến thai động bất an, phôi thai không thể thành hình hoặc khó phát triển bình thường, thì không nên cố bảo thai. Nếu thai động bất an phát triển thành sảy thai, gọi là đọa thai hoặc tiểu sản. Nếu thai dưới 12 tuần, thai nhi chưa thành hình mà tự nhiên rơi mất, gọi là đọa thai. Nếu thai từ 12 đến 28 tuần, thai nhi đã thành hình mà tự nhiên rơi mất, gọi là tiểu sản.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của thai động bất an là khí huyết Xung Nhâm mất điều hòa, thai nguyên không vững. Các thể thường gặp gồm Thận hư, khí hư, huyết hư, huyết nhiệt, ngoại thương và trưng hà thương thai.
Cơ thể vốn Thận khí bất túc, hoặc sau khi có thai phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí. Thận hư thì Xung Nhâm không bền chắc, thai mất chỗ hệ thuộc, từ đó dẫn đến thai động bất an.
Thận là gốc của thai, Bào mạch hệ thuộc Thận. Nếu Thận khí không đủ, thai nguyên như cây thiếu rễ bền, Xung Nhâm không đủ sức giữ thai, nên dễ xuất hiện đau lưng, bụng đau, thai động sa xuống, hoặc ra huyết ít.
Thai phụ vốn cơ thể hư yếu, hoặc ăn uống quá độ làm tổn thương Tỳ khí, hoặc bệnh nặng làm tổn thương chính khí. Khí hư thì Xung Nhâm không bền chắc, thai mất sự nâng đỡ, từ đó phát sinh thai động bất an.
Khí có công năng nâng giữ và nhiếp huyết. Khi khí hư, thai không được nâng đỡ vững, huyết cũng không được nhiếp giữ đầy đủ, nên có thể đau lưng, đau bụng, bụng dưới trống sa, hoặc âm đạo ra huyết sắc nhạt.
Cơ thể vốn Âm huyết bất túc, hoặc bệnh lâu ngày hao huyết, thương Âm; hoặc sau khi có thai Tỳ Vị hư yếu, nôn nghén nặng, nguồn sinh hóa không đủ mà thành huyết hư. Huyết hư thì huyết ở Xung Nhâm ít, thai mất sự nuôi dưỡng, vì vậy thai động bất an.
Thai nhờ huyết để nuôi. Nếu huyết không đủ, Bào mạch không được nhu dưỡng, thai nguyên không được nuôi đầy, sẽ xuất hiện đau lưng, đau bụng, thai động, ra huyết ít, kèm đầu choáng, hồi hộp, sắc mặt vàng úa.
Thai phụ vốn Dương thịnh, hoặc Can uất hóa nhiệt, hoặc ăn quá nhiều đồ cay nóng, thuốc ôn táo trợ Dương, hoặc ngoại cảm tà nhiệt, khiến Dương thịnh huyết nhiệt. Nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, làm tổn thương thai khí, vì vậy dẫn đến thai động bất an.
Nhiệt bức huyết vọng hành nên âm đạo có thể ra huyết đỏ tươi hoặc đỏ sẫm. Nhiệt nhiễu thai nguyên nên đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu. Thể này cần thanh nhiệt mà vẫn phải an thai, không nên dùng thuốc khổ hàn quá mạnh làm tổn thương Tỳ Vị.
Sau khi có thai, nếu không cẩn thận bị té ngã, va chạm, trật vặn, leo cao mang nặng, hoặc lao lực quá độ, sẽ làm khí huyết rối loạn, Xung Nhâm mất điều hòa, không thể nâng giữ và nuôi dưỡng thai, từ đó phát sinh thai động bất an.
Thể này có nguyên nhân tương đối rõ, thường xuất hiện sau chấn thương hoặc lao lực. Khí huyết bị rối, thai nguyên mất sự nâng giữ bên trong, nên đau lưng, đau bụng, thai động sa xuống, hoặc kèm ra huyết.
Thai phụ vốn có trưng hà, ứ huyết lưu trệ ở Bào mạch. Sau khi có thai, khí huyết Xung Nhâm mất điều hòa, huyết không quy kinh, thai mất sự nhiếp dưỡng, vì vậy dẫn đến thai động bất an.
Trưng hà vốn là bệnh thuộc ứ kết. Khi có thai, thai cần khí huyết nuôi dưỡng, nhưng ứ kết cũ cản trở Bào mạch, khiến huyết mới không thuận lợi quy về để dưỡng thai, lại có thể rời kinh mà ra huyết. Vì vậy thường thấy ra huyết lắt nhắt, bụng ngực đầy tức, thiếu phúc co rút, lưỡi có điểm ứ.
Biện chứng luận trị
Bệnh này lấy đau lưng, đau bụng làm chủ, hoặc kèm âm đạo ra huyết lượng ít. Khi biện chứng cần chú ý tính chất và mức độ của đau lưng, đau bụng; lượng, sắc và chất của huyết âm đạo; các chứng kèm theo, lưỡi và mạch. Từ đó phân biệt Thận hư, khí hư, huyết hư, huyết nhiệt, ngoại thương hoặc trưng hà thương thai.
Đối với người có tiền sử ngoại thương, bệnh khác hoặc từng dùng thuốc có khả năng ảnh hưởng đến thai, cần dựa trên thăm khám tình trạng thai để quyết định nguyên tắc an thai hay bỏ thai.
Đại pháp an thai lấy bổ Thận cố Xung làm chủ, tùy từng trường hợp mà phối hợp ích khí, dưỡng huyết, thanh nhiệt. Nói chung phải biện chứng luận trị. Nếu sau điều trị, đau lưng, đau bụng nặng thêm, âm đạo ra huyết tăng, thai đã khó giữ, thì cần bỏ thai để bảo toàn người mẹ.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu, hoặc kèm âm đạo ra huyết lượng ít, sắc tối nhạt. Đầu choáng, tai ù, hai gối đau mỏi, tiểu tiện nhiều lần, hoặc từng nhiều lần sảy thai. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch trầm tế mà hoạt.
Phân tích chứng trạng
Thận hư, Xung Nhâm không bền chắc, thai mất chỗ hệ thuộc, nên đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu. Xung Nhâm không cố, huyết mất sự nhiếp giữ, nên có thể âm đạo ra huyết lượng ít, sắc tối nhạt. Thận hư, tủy hải bất túc, nên đầu choáng, tai ù. Thận chủ xương, Thận hư nên hai gối đau mỏi. Thận và Bàng quang tương biểu lý, Thận hư khiến Bàng quang mất ước thúc, nên tiểu tiện nhiều lần. Thận hư, Xung Nhâm không bền, không đủ sức hệ thai, nên có thể từng nhiều lần sảy thai. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế mà hoạt là dấu hiệu của Thận khí hư trong thai kỳ.
Pháp trị
Bổ Thận ích khí, cố Xung an thai.
Phương thang
Thọ thai hoàn gia Đảng sâm, Bạch truật.
Thỏ ty tử, Tang ký sinh, Tục đoạn, A giao, Đảng sâm, Bạch truật.
Trong phương, Thỏ ty tử bổ Thận ích tinh, an thai. Tang ký sinh, Tục đoạn bổ Thận, mạnh lưng, cố Xung, hệ thai. A giao dưỡng huyết an thai. Đảng sâm, Bạch truật ích khí kiện Tỳ, giúp thai có nguồn nuôi và có khí để nâng giữ. Toàn phương lấy bổ Thận cố Xung làm chủ, kiêm ích khí dưỡng huyết, nhờ đó thai nguyên được yên.
Gia giảm theo Thận Âm hư
Nếu Thận Âm hư, kèm lòng bàn tay bàn chân nóng, mặt đỏ, môi đỏ, miệng khô, họng khô, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế hoạt mà sác, phép trị nên tư Âm bổ Thận, cố Xung an thai. Dùng Thọ thai hoàn gia Thục địa, Sơn thù du, Địa cốt bì. Nếu âm đạo ra huyết, tùy chứng thêm Nữ trinh tử, Hạn liên thảo.
Gia giảm theo Thận Dương hư
Nếu Thận Dương hư, kèm đau lưng như gãy, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, sắc mặt tối sạm, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm tế mà trì, phép trị nên bổ Thận trợ Dương, cố Xung an thai. Dùng Bổ Thận an thai ẩm, trích từ Trung Y Phụ Khoa Trị Liệu Học.
Bổ Thận an thai ẩm
Nhân sâm, Bạch truật, Đỗ trọng, Tục đoạn, Ích trí nhân, A giao, Ngải diệp, Thỏ ty tử, Bổ cốt chi, Cẩu tích.
Trong phương, Thỏ ty tử, Bổ cốt chi bổ Thận trợ Dương mà ích tinh khí. Tục đoạn, Đỗ trọng, Cẩu tích bổ Thận, mạnh lưng, an thai chỉ thống. Ích trí nhân ôn Thận, thu nhỏ tiểu tiện. A giao, Ngải diệp dưỡng huyết, làm ấm Bào cung, chỉ huyết an thai. Nhân sâm, Bạch truật ích khí để nâng giữ thai. Toàn phương có công năng bổ Thận trợ Dương, cố Xung an thai.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, đau lưng, đau bụng, bụng dưới trống sa, hoặc âm đạo ra huyết lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Tinh thần mệt mỏi, hơi ngắn, lười nói, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch hoãn hoạt.
Phân tích chứng trạng
Khí hư, Xung Nhâm không bền chắc, thai mất sự nhiếp giữ và nâng đỡ, nên sau khi có thai đau lưng, đau bụng, âm đạo ra huyết lượng ít. Khí hư không hóa được huyết sắc đỏ tươi, nên huyết ra sắc nhạt, chất loãng. Khí hư không đủ sức nâng lên, nên bụng dưới trống sa. Khí hư, trung Dương không phấn chấn, nên tinh thần mệt mỏi, hơi ngắn, lười nói. Thanh Dương không thăng, nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn hoạt là dấu hiệu của khí hư.
Pháp trị
Ích khí cố Xung an thai.
Phương thang
Cử nguyên tiễn gia Tục đoạn, Tang ký sinh, A giao.
Cử nguyên tiễn lấy Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Chích cam thảo, Thăng ma làm ý chính, có tác dụng ích khí thăng đề, cố nhiếp Xung Nhâm. Gia Tục đoạn, Tang ký sinh để bổ Thận, mạnh lưng, an thai. Gia A giao để dưỡng huyết, chỉ huyết, an thai.
Toàn phương giúp khí đủ để nâng giữ thai, Xung Nhâm được cố nhiếp, huyết không tràn ra ngoài, thai nguyên nhờ đó được yên.
Gia giảm
Nếu âm đạo ra huyết lượng nhiều, tùy chứng thêm Ô tặc cốt, Ngải diệp thán để cố Xung chỉ huyết.
Nếu bụng dưới sa trĩu rõ, có thể gia Hoàng kỳ liều cao hơn, hoặc thêm Sài hồ lượng nhỏ để nâng thanh Dương.
Nếu Tỳ hư ăn kém, đại tiện lỏng, tùy chứng thêm Sơn dược, Sa nhân, Phục linh để kiện Tỳ hòa trung, giúp khí huyết sinh hóa.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu, âm đạo ra huyết lượng ít. Đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, mất ngủ, sắc mặt vàng úa. Lưỡi nhạt, rêu ít. Mạch tế hoạt.
Phân tích chứng trạng
Huyết hư, huyết ở Xung Nhâm ít, không đủ để nuôi thai, nên đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu, âm đạo ra huyết lượng ít. Huyết hư không thể vinh nhuận thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa. Huyết không nuôi Tâm, nên hồi hộp, mất ngủ. Huyết hư không nuôi da cơ, nên sắc mặt vàng úa. Lưỡi nhạt, rêu ít, mạch tế hoạt là dấu hiệu của huyết hư trong thai kỳ.
Pháp trị
Bổ huyết cố Xung an thai.
Phương thang
Trữ căn thang, trích từ Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương, gia Xuyên đoạn, Tang ký sinh.
Can địa hoàng, Trữ ma căn, Đương quy, Thược dược, A giao, Cam thảo, Tục đoạn, Tang ký sinh.
Trong phương, Đương quy, Bạch thược, Can địa hoàng bổ huyết, hòa huyết. Cam thảo hòa trung. A giao, Trữ ma căn dưỡng huyết, chỉ huyết, an thai. Phối Tục đoạn, Tang ký sinh để bổ Thận, cố Xung, an thai. Các vị hợp dùng có công năng bổ huyết hòa huyết, cố Xung an thai.
Gia giảm khí huyết lưỡng hư
Nếu khí huyết lưỡng hư, biểu hiện sau khi có thai đau trĩu vùng lưng bụng, âm đạo ra huyết lượng ít, sắc nhạt, chất loãng, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, hơi ngắn, sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch tế hoạt, phép trị nên bổ khí dưỡng huyết, cố Thận an thai. Dùng Thai nguyên ẩm, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư.
Thai nguyên ẩm
Nhân sâm, Đương quy, Đỗ trọng, Bạch thược, Thục địa, Bạch truật, Trần bì, Chích cam thảo.
Trong phương, dùng ý của Bát trân thang bỏ Xuyên khung, Phục linh để bổ ích khí huyết. Phối Đỗ trọng để bổ Thận an thai. Trần bì lý khí hòa trung, khiến thuốc bổ mà không trệ. Các vị hợp dùng bổ ích khí huyết, cố Thận an thai, khiến thai nguyên bên trong có sự nâng đỡ và nuôi dưỡng, tự không còn lo bất an.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu, hoặc âm đạo ra huyết lượng ít, huyết sắc đỏ sẫm hoặc đỏ tươi. Tâm phiền, ngủ ít, khát thích uống lạnh, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, làm tổn thương thai khí, vì vậy đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu, âm đạo ra huyết lượng ít. Huyết bị nhiệt nung đốt, nên sắc đỏ tím hoặc đỏ tươi. Nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, nên tâm phiền, ngủ ít. Nhiệt làm tổn thương tân dịch, nên khát thích uống lạnh, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là dấu hiệu của huyết nhiệt.
Pháp trị
Thanh nhiệt lương huyết, cố Xung an thai.
Phương thang
Bảo Âm tiễn.
Phương này lấy thanh nhiệt lương huyết, tư Âm an thai làm ý chính, thích hợp với thai động bất an do nhiệt nhiễu Xung Nhâm, bức huyết vọng hành. Khi huyết nhiệt được thanh, Xung Nhâm được yên, huyết không đi càn, thai khí có thể dần ổn định.
Gia giảm
Nếu ra huyết tương đối nhiều, tùy chứng thêm A giao, Hạn liên thảo, Địa du thán để lương huyết chỉ huyết.
Nếu đau lưng nhiều, tùy chứng thêm Thỏ ty tử, Tang ký sinh để cố Thận an thai.
Nếu Can uất hóa nhiệt rõ, phiền táo, dễ giận, miệng đắng, có thể phối Hoàng cầm, Chi tử tùy chứng để thanh Can nhiệt mà an thai.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, sau té ngã, va chạm, trật vặn hoặc lao lực quá độ, xuất hiện đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu, hoặc kèm âm đạo ra huyết. Tinh thần mệt mỏi. Mạch hoạt vô lực.
Phân tích chứng trạng
Sau khi có thai, sinh hoạt không cẩn thận, hoặc té ngã, va chạm, trật vặn, hoặc bị lao lực làm tổn thương, khiến khí huyết rối loạn. Khí loạn thì thai mất sự nâng giữ, huyết loạn thì thai mất sự nuôi dưỡng. Thai nguyên bên trong không được nhiếp dưỡng mà không vững, nên đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu. Khí huyết rối loạn, Xung Nhâm không cố, nên âm đạo ra huyết. Khí hao huyết tổn, nên tinh thần mệt mỏi, mạch hoạt vô lực.
Pháp trị
Ích khí dưỡng huyết, cố Thận an thai.
Phương thang
Gia vị Thánh dũ thang, trích từ Y Tông Kim Giám.
Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Thục địa, Nhân sâm, Hoàng kỳ, Đỗ trọng, Tục đoạn, Sa nhân.
Trong phương, Tứ vật thang bổ huyết. Nhân sâm, Hoàng kỳ bổ khí. Khí đầy huyết đủ thì thai nguyên tự vững. Đỗ trọng, Tục đoạn bổ Thận an thai. Sa nhân lý khí an thai, đồng thời giúp thuốc bổ không nê trệ. Toàn phương có công năng ích khí dưỡng huyết, cố Thận an thai.
Gia giảm
Nếu âm đạo ra huyết lượng nhiều, bỏ Đương quy, Xuyên khung là các vị cay tán, động huyết; tùy chứng thêm A giao, Ngải diệp thán để chỉ huyết an thai.
Nếu đau bụng rõ do khí trệ, có thể dùng lượng nhỏ Tô ngạnh, Trần bì để lý khí an thai, nhưng tránh dùng thuốc phá khí mạnh.
Chứng trạng chủ yếu
Sau khi có thai, âm đạo thỉnh thoảng ra huyết lượng ít, sắc đỏ hoặc đỏ tối. Ngực bụng đầy trướng, thiếu phúc co rút, nặng thì đau lưng, thai động sa trĩu. Da thô ráp, miệng khô nhưng không muốn uống. Lưỡi đỏ tối hoặc rìa, đầu lưỡi có ban ứ, rêu trắng. Mạch trầm huyền hoặc trầm sáp.
Phân tích chứng trạng
Người phụ nữ vốn có trưng hà, ứ huyết đình trệ trong thiếu phúc hoặc Bào mạch. Sau khi có thai, huyết mới không thể đi xuống quy về huyết hải để nuôi thai nguyên, ngược lại rời kinh mà đi ra, nên âm đạo thỉnh thoảng ra huyết lượng ít, sắc đỏ hoặc đỏ tối. Trưng hà làm tổn thương thai khí, nên đau lưng, thai động sa trĩu. Ứ huyết ngăn trở bên trong, khí cơ không thông, nên ngực bụng đầy trướng, thiếu phúc co rút. Ứ huyết nội trở, da cơ mất sự nuôi dưỡng, nên da thô ráp. Ứ huyết nội trở, tân dịch không thể đưa lên trên, nên miệng khô nhưng không muốn uống. Lưỡi đỏ tối hoặc có ban ứ ở rìa và đầu lưỡi, rêu trắng, mạch trầm huyền hoặc trầm sáp là dấu hiệu của trưng bệnh kèm ứ huyết nội trệ.
Pháp trị
Khứ ứ tiêu trưng, cố Xung an thai.
Phương thang
Quế chi phục linh hoàn, trích từ Kim Quỹ Yếu Lược, gia Tục đoạn, Đỗ trọng.
Quế chi, Phục linh, Xích thược, Đan bì, Đào nhân, Tục đoạn, Đỗ trọng.
Trong phương, Quế chi ôn thông huyết mạch. Phối Phục linh để thấm lợi, hành ứ, đồng thời ích Tỳ an thai, làm quân. Đan bì, Xích thược hợp Đào nhân để hoạt huyết khứ ứ, thanh nhiệt, làm thần tá. Tục đoạn, Đỗ trọng cố Thận an thai. Các vị cùng dùng có tác dụng tiêu trưng an thai.
Chú ý
Thể trưng hà thương thai đặc biệt cần cẩn trọng. Vì có thai mà lại có ứ kết, vừa cần hóa ứ để thông Bào mạch, vừa phải giữ thai. Không nên dùng thuốc phá huyết công trục quá mạnh. Nếu thai có thể giữ, dùng thuốc phải nhẹ nhàng, đúng mức, lấy tiêu trưng mà không động thai làm nguyên tắc. Nếu thai đã khó giữ hoặc bệnh biến không thuận, cần xét tình hình thực tế để xử lý.
Nói tóm lại
Thai động bất an lấy đau lưng, đau bụng, thai động sa trĩu, hoặc âm đạo ra huyết lượng ít trong thời kỳ thai nghén làm đặc điểm chính. Bệnh cơ cốt lõi là khí huyết Xung Nhâm mất điều hòa, thai nguyên không vững.
Thận hư thì thai mất chỗ hệ thuộc, trị bằng bổ Thận ích khí, cố Xung an thai. Khí hư thì thai mất sự nâng giữ, trị bằng ích khí cố Xung an thai. Huyết hư thì thai mất sự nuôi dưỡng, trị bằng bổ huyết cố Xung an thai. Huyết nhiệt thì nhiệt nhiễu Xung Nhâm, trị bằng thanh nhiệt lương huyết, cố Xung an thai. Ngoại thương thì khí huyết rối loạn, trị bằng ích khí dưỡng huyết, cố Thận an thai. Trưng hà thương thai thì ứ kết trở Bào mạch, trị bằng khứ ứ tiêu trưng, cố Xung an thai.
Khi điều trị, cần luôn xét thai còn có thể giữ hay không. Nếu thai nguyên còn có thể an, thì lấy an thai làm trọng. Nếu đau lưng, đau bụng tăng, ra huyết nhiều hơn, thai đã khó giữ, không nên cố giữ thai một cách máy móc, mà cần bỏ thai để bảo toàn người mẹ.
Tiết 7
Sảy thai liên tiếp
Phàm đọa thai hoặc tiểu sản xảy ra liên tiếp từ ba lần trở lên, gọi là sảy thai liên tiếp, cũng gọi là số đọa thai.
Bệnh này gần với sảy thai theo thói quen trong y học hiện đại. Tuy nhiên, cần chú ý rằng trong một số y thư cổ, chữ “hoạt thai” có khi chỉ phương pháp thúc sinh khi gần sinh, không phải bệnh chứng sảy thai liên tiếp được bàn trong tiết này.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của bệnh này là Xung Nhâm bị tổn thương, thai nguyên không vững, hoặc bản thân phôi thai có khiếm khuyết, không thể thành hình, vì vậy cứ có thai lại sảy, lặp đi lặp lại nhiều lần.
Các thể thường gặp gồm Thận khí hao tổn và khí huyết lưỡng hư.
Tiên thiên bẩm phú bất túc, Thận khí chưa đầy; hoặc sau khi có thai phòng sự không điều độ, phóng túng làm tổn thương Thận khí. Thận khí hư thì Xung Nhâm không bền chắc, thai mất chỗ hệ thuộc, vì vậy cứ có thai lại sảy, lâu dần thành sảy thai liên tiếp.
Thận là gốc của thai, Bào mạch hệ thuộc ở Thận. Nếu Thận khí không đủ, thai nguyên không có chỗ nương vững chắc, giống cây thiếu rễ sâu, mới lớn lên đã dễ lung lay. Vì vậy, người thuộc thể này thường có tiền sử nhiều lần sảy thai, có khi đến một tháng thai nhất định lại sảy.
Cơ thể vốn hư yếu, khí huyết bất túc; hoặc ăn uống, lao nhọc làm tổn thương Tỳ, khiến nguồn sinh hóa khí huyết không đủ; hoặc sau bệnh nặng, bệnh lâu ngày, khí huyết đều hao. Khí huyết lưỡng hư thì Xung Nhâm bất túc, không thể nâng giữ và nuôi dưỡng thai, vì vậy cứ có thai lại sảy, hình thành sảy thai liên tiếp.
Thai nhờ khí nâng giữ, nhờ huyết nuôi dưỡng. Khí hư thì không đủ sức nâng đỡ thai; huyết hư thì thai mất nguồn nuôi. Nếu cả khí và huyết đều hư, thai nguyên vừa thiếu chỗ nâng, vừa thiếu sự nuôi dưỡng, nên càng dễ không bền.
Biện chứng luận trị
Bệnh này chủ yếu căn cứ vào tiền sử sảy thai liên tiếp, cùng các chứng trạng kèm theo, lưỡi và mạch để biện chứng. Đối với một số trường hợp biểu hiện lâm sàng không điển hình, có thể nhờ thăm khám phụ khoa và các xét nghiệm liên quan để tìm nguyên nhân, từ đó có phương hướng điều trị thích hợp.
Nguyên tắc điều trị chính của sảy thai liên tiếp là “hư thì bổ”. Đồng thời cần nắm nguyên tắc “lấy phòng ngừa làm chủ, phòng và trị kết hợp”.
Khi chưa có thai, nên lấy bổ Thận kiện Tỳ, ích khí dưỡng huyết, điều cố Xung Nhâm làm chủ. Sau khi đã có thai, hoặc nghi ngờ đã có thai, cần bắt đầu điều trị bảo thai sớm, không nên chờ đến khi có dấu hiệu dọa sảy thai mới an thai.
Thời gian dùng thuốc nên vượt qua tháng thai mà những lần trước thường bị sảy. Khi đã qua giai đoạn nguy cơ cũ, lại không có dấu hiệu thai lậu, thai động bất an, mới có thể ngừng thuốc để theo dõi.
Chứng trạng chủ yếu
Nhiều lần có thai rồi sảy, thậm chí cứ đến cùng một thời điểm thai kỳ thì lại sảy. Đầu choáng, tai ù, lưng đau, gối mềm, tinh thần suy nhược, tiểu đêm nhiều, hốc mắt thâm đen, hoặc sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch trầm nhược.
Phân tích chứng trạng
Thận hư, Xung Nhâm không bền chắc, thai mất sự hệ thuộc và nâng giữ, nên nhiều lần có thai rồi sảy, thậm chí cứ đến cùng tháng thai cũ lại sảy. Thận hư, tủy hải bất túc, thanh khiếu mất sự nuôi dưỡng, nên đầu choáng, tai ù. Thận hư, Mệnh hỏa bất túc, Dương khí không phân bố đầy đủ, nên tinh thần suy nhược, hốc mắt thâm đen hoặc sắc mặt tối sạm. Thận hư, Bàng quang mất sự ước thúc, nên tiểu tiện nhiều lần, ban đêm càng nhiều. Lưng là phủ của Thận, Thận chủ cốt, Thận hư thì lưng đau, gối mềm. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược là dấu hiệu của Thận hư.
Pháp trị
Bổ Thận cố Xung an thai.
Phương thang
Bổ Thận cố Xung hoàn, trích từ Trung Y Học Tân Biên.
Thỏ ty tử, Tục đoạn, Ba kích thiên, Đỗ trọng, Đương quy, Thục địa, Lộc giác sương, Câu kỷ tử, A giao, Đảng sâm, Bạch truật, Đại táo, Sa nhân.
Trong phương, Thỏ ty tử, Tục đoạn, Ba kích thiên, Đỗ trọng, Lộc giác sương bổ Thận, ích tinh tủy, cố Xung an thai. Đương quy, Thục địa, Câu kỷ tử, A giao tư Thận, điền tinh, dưỡng huyết để an thai. Đảng sâm, Bạch truật, Đại táo kiện Tỳ ích khí, giúp nguồn sinh hóa khí huyết đầy đủ. Sa nhân lý khí an thai, khiến thuốc bổ mà không trệ. Toàn phương hợp dùng khiến Thận khí kiện vượng, thai có chỗ hệ thuộc, sự nâng giữ và nuôi dưỡng trở lại bình thường, thì không còn lo sảy thai.
Gia giảm
Nếu Thận Dương hư rõ, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưng lạnh đau, tiểu đêm nhiều, có thể tùy chứng thêm Bổ cốt chi, Ích trí nhân để ôn Thận trợ Dương.
Nếu Thận Âm hư, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô, lưỡi đỏ ít rêu, có thể giảm bớt vị quá ôn, thêm Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Địa cốt bì để tư Âm thanh nhiệt, cố Xung an thai.
Nếu đã có thai, dùng thuốc cần điều chỉnh nhẹ nhàng hơn, lấy bổ Thận, cố Xung, an thai làm chủ, tránh dùng vị quá công phá.
Chứng trạng chủ yếu
Nhiều lần có thai rồi sảy. Đầu choáng, mắt hoa, thần mệt, không sức, hồi hộp, hơi ngắn, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Khí huyết lưỡng hư, Xung Nhâm bất túc, không thể nuôi thai và nâng giữ thai, nên nhiều lần có thai rồi sảy. Khí huyết hư, không thể vinh nhuận thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa. Khí hư không đủ sức thúc đẩy và nâng đỡ, nên thần mệt, không sức, hơi ngắn. Huyết hư không nuôi Tâm, nên hồi hộp. Khí huyết không vinh nhuận lên mặt, nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược là dấu hiệu của khí huyết lưỡng hư.
Pháp trị
Ích khí dưỡng huyết an thai.
Phương thang
Thái sơn bàn thạch tán, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư.
Nhân sâm, Hoàng kỳ, Đương quy, Tục đoạn, Hoàng cầm, Xuyên khung, Bạch thược, Thục địa, Bạch truật, Chích cam thảo, Sa nhân, Nhu mễ.
Trong phương, Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Cam thảo bổ trung ích khí để nâng giữ thai. Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Thục địa bổ huyết để nuôi thai. Sa nhân, Nhu mễ điều dưỡng Tỳ Vị để an thai. Tục đoạn bổ Thận, mạnh lưng, cố thai. Bạch truật phối Hoàng cầm là cặp thuốc an thai quan trọng, vừa kiện Tỳ, vừa thanh nhiệt mà an thai. Toàn phương hợp dùng có công năng song bổ khí huyết, cố Xung an thai.
Gia giảm
Nếu khí hư rõ, bụng dưới sa trĩu, mệt nhiều, hơi ngắn, có thể tùy chứng tăng Hoàng kỳ, Đảng sâm để ích khí nâng thai.
Nếu huyết hư rõ, đầu choáng, hồi hộp, mất ngủ, có thể thêm A giao, Long nhãn nhục, Toan táo nhân để dưỡng huyết an thần.
Nếu Tỳ hư ăn kém, bụng đầy, có thể thêm Trần bì, Sơn dược, Phục linh để kiện Tỳ hòa trung, giúp khí huyết có nguồn sinh hóa.
Điều trị trước khi có thai và sau khi có thai
Với sảy thai liên tiếp, điều trị trước khi có thai rất quan trọng. Trước khi mang thai, cần bồi bổ Thận khí, kiện Tỳ Vị, dưỡng khí huyết, điều hòa Xung Nhâm, làm cho thân thể có nền tảng vững rồi mới thụ thai. Đây là giai đoạn “phòng” trong phòng trị kết hợp.
Sau khi đã có thai, không nên đợi đến khi đau lưng, đau bụng hoặc ra huyết mới bắt đầu an thai. Người từng nhiều lần sảy thai cần được điều dưỡng sớm, nhất là trước và trong khoảng tháng thai mà những lần trước thường bị sảy. Khi đã vượt qua mốc này, thai ổn định, không có dấu hiệu thai lậu hoặc thai động bất an, mới có thể giảm thuốc và theo dõi.
Nếu qua thăm khám phát hiện phôi thai có khiếm khuyết nghiêm trọng, hoặc thai không phát triển, thì không nên cố gắng bảo thai. Khi thai khó giữ, cần xử lý theo nguyên tắc bảo toàn người mẹ.
Nói tóm lại
Sảy thai liên tiếp là chứng nhiều lần đọa thai hoặc tiểu sản lặp lại, từ ba lần trở lên. Bệnh cơ chủ yếu là Xung Nhâm bị tổn thương, thai nguyên không vững; hoặc bản thân phôi thai có khiếm khuyết, không thể phát triển thành hình.
Thận khí hao tổn thì thai mất chỗ hệ thuộc, trị bằng bổ Thận cố Xung an thai. Khí huyết lưỡng hư thì thai mất sự nâng giữ và nuôi dưỡng, trị bằng ích khí dưỡng huyết an thai.
Điều trị bệnh này không chỉ đợi lúc đã có thai mới an thai. Khi chưa có thai, cần bổ Thận kiện Tỳ, ích khí dưỡng huyết, điều cố Xung Nhâm để phòng trước. Khi đã có thai, cần an thai sớm, dùng thuốc vượt qua tháng thai từng bị sảy trước đây. Đó là ý nghĩa của phòng làm chủ, phòng và trị kết hợp.
Mình tiếp tục Tiết 8 “Thai chết không xuống”. Phần này cần giữ rõ: sau khi xác định thai đã chết trong tử cung thì đại pháp là hạ thai, nhưng phải xét hư thực và sức khỏe người mẹ, không nên công phá quá mạnh một cách máy móc.
Tiết 8
Thai chết không xuống
Thai chết trong Bào cung, lưu lại quá lâu mà không tự ra ngoài, gọi là thai chết không xuống, cũng gọi là thai chết không thể ra.
Bệnh này tương đương với lưu sản quá hạn và thai chết trong tử cung ở giai đoạn giữa, cuối thai kỳ trong y học hiện đại. Thai chết không xuống là một bệnh thường gặp trên lâm sàng. Sau khi đã chẩn đoán xác định, cần xử lý kịp thời. Nếu thai chết lưu lại trong buồng tử cung quá lâu, dễ phát sinh rối loạn cơ chế đông máu, dẫn đến đông máu nội mạch lan tỏa, có thể nguy hiểm đến tính mạng của thai phụ.
Nguyên nhân bệnh cơ
Bệnh cơ của thai chết không xuống không ngoài hai phương diện hư và thực. Hư là khí huyết hư yếu, không đủ sức vận chuyển thai chết ra ngoài. Thực là ứ huyết hoặc thấp trọc ngăn trở, làm thai chết không thể tống xuất thuận lợi.
Các thể thường gặp gồm khí huyết hư yếu, ứ huyết trở trệ và thấp trở khí cơ.
Thai phụ vốn cơ thể hư yếu, khí huyết bất túc, Xung Nhâm trống rỗng. Thai mất sự nâng giữ của khí và nuôi dưỡng của huyết nên chết trong Bào cung. Sau khi thai đã chết, vì khí hư không đủ sức vận chuyển, huyết hư không đủ sức nhuận hoạt sản đạo, nên thai chết khó tự ra ngoài, thành thai chết không xuống.
Thể này lấy hư làm gốc. Người mẹ vốn khí huyết không đủ, thai đã chết lại càng làm khí huyết hao tổn thêm. Khi điều trị, tuy cần hạ thai, nhưng không thể chỉ công hạ, mà phải ích khí dưỡng huyết để có sức đẩy thai ra.
Trong thai kỳ bị té ngã, va chạm, hoặc hàn ngưng huyết trệ, ứ huyết ngăn trở Xung Nhâm, làm tổn thương thai nguyên, khiến thai chết trong Bào cung. Sau đó, ứ huyết tiếp tục ngăn trở bên trong, sản đạo không lợi, cản trở thai chết được tống xuất, nên thành thai chết không xuống.
Thể này lấy ứ làm chủ. Ứ huyết vừa là nguyên nhân làm thai bị tổn thương, vừa là yếu tố khiến thai chết khó ra. Điều trị cần hành khí hoạt huyết, khứ ứ hạ thai, nhưng vẫn cần xét thể lực của người mẹ để dùng thuốc nặng nhẹ thích đáng.
Thai phụ vốn Tỳ hư, nguồn sinh hóa không đủ, sau khi có thai thai mất sự nuôi dưỡng, dẫn đến thai chết trong Bào cung. Tỳ hư vận hóa thất chức, thấp trọc đình lại bên trong, ủng tắc Bào mạch, khí cơ bị trở ngại, khiến thai chết trệ lại không xuống.
Thể này tuy có hư ở Tỳ, nhưng biểu hiện nổi bật là thấp trọc trở khí. Thấp làm nặng nề, dính trệ, khiến khí cơ không thông, thai chết khó được tống xuất. Vì vậy phải kiện Tỳ trừ thấp, hành khí hạ thai.
Biện chứng luận trị
Khi biện chứng cần căn cứ vào tháng thai, thời gian thai chết, chứng trạng toàn thân, lưỡi mạch, thăm khám phụ khoa và kết quả kiểm tra hỗ trợ để phân tích tổng hợp, từ đó đưa ra phán đoán và hướng điều trị.
Đại pháp điều trị lấy hạ thai làm chủ. Tuy nhiên, phải căn cứ vào thể trạng mạnh yếu của người mẹ và hư thực của chứng mà dùng thuốc thích đáng. Không nên một mực dùng thuốc tuấn công mãnh phạt, vì có thể dẫn đến hậu quả bất lợi. Nếu thai chết đã lâu, dễ phát sinh rối loạn cơ chế đông máu và khuynh hướng xuất huyết, cần đặc biệt chú ý.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ thai chết trong Bào cung mà không xuống. Bụng dưới đau âm ỉ, hoặc có cảm giác lạnh. Hoặc âm đạo chảy ra nước huyết màu đỏ nhạt. Đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, hơi ngắn, tinh thần mệt mỏi, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Do khí huyết hư yếu, khí hư vận chuyển vô lực, huyết hư khiến sản đạo mất sự nhuận hoạt, nên thai chết trong bụng lâu mà không ra. Thai chết ngăn trở bên trong, khí huyết vận hành không thông, Bào mạch mất sự ôn dưỡng, nên bụng dưới đau âm ỉ, hoặc có cảm giác lạnh. Khí huyết hư yếu, Xung Nhâm không bền, thai chết lưu lại đã lâu, nên âm đạo có thể chảy nước huyết màu đỏ nhạt.
Khí huyết bất túc, bên ngoài không vinh nhuận da cơ, bên trên không nuôi dưỡng thanh khiếu, nên sắc mặt trắng nhợt, đầu choáng, mắt hoa. Bên trong không nuôi dưỡng tạng phủ, nên tinh thần mệt mỏi, hồi hộp, hơi ngắn. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược cũng là dấu hiệu của khí huyết hư yếu.
Pháp trị
Ích khí dưỡng huyết, hoạt huyết hạ thai.
Phương thang
Cứu mẫu đan, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Nhân sâm, Đương quy, Xuyên khung, Ích mẫu thảo, Xích thạch chi, Kinh giới tuệ sao đen.
Trong phương, Nhân sâm đại bổ nguyên khí để tăng sức vận thai. Đương quy, Xuyên khung, Ích mẫu thảo dưỡng huyết, hoạt huyết, nhuận sản đạo, giúp thai chết dễ ra. Kinh giới tuệ sao đen, Xích thạch chi dẫn huyết quy kinh để cầm huyết, khiến thai xuống mà không gây ra huyết quá nhiều. Toàn phương có công năng bổ khí huyết và hạ thai chết.
Gia giảm
Nếu khí huyết hư rất nặng, tùy chứng thêm Hoàng kỳ, Đan sâm để bổ ích khí huyết, đồng thời trợ hoạt huyết.
Nếu bụng dưới lạnh đau, tùy chứng thêm Ngô thù du, Ô dược, Ngải diệp để ôn ấm hạ nguyên, hành khí hạ thai.
Nếu ra huyết kéo dài, sắc nhạt, người mệt, có thể gia A giao, Ngải diệp thán tùy chứng để dưỡng huyết chỉ huyết, nhưng vẫn phải bảo đảm mục tiêu hạ thai chết.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ thai chết trong Bào cung không xuống. Bụng dưới đau, hoặc âm đạo ra huyết, sắc tím tối, có huyết khối. Sắc mặt xanh tối. Lưỡi tím tối. Mạch trầm sáp.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết ngăn trở Xung Nhâm, làm tổn thương thai khí, nên thai chết trong Bào cung. Ứ huyết tiếp tục cản trở, khiến thai chết không thể xuống. Ứ huyết trở ở Xung Nhâm, không thông thì đau, nên bụng dưới đau. Huyết ứ nội trở, huyết không quy kinh mà tràn ra ngoài, nên âm đạo ra huyết, sắc tím tối, có huyết khối. Sắc mặt xanh tối, lưỡi tím tối, mạch trầm sáp đều là dấu hiệu của thai chết kèm huyết ứ.
Pháp trị
Hành khí hoạt huyết, khứ ứ hạ thai.
Phương thang
Thoát hoa tiễn gia Mang tiêu.
Thoát hoa tiễn có ý nghĩa hành huyết, khứ ứ, thúc thai xuống. Gia Mang tiêu để nhuyễn kiên, tán kết, trợ sức hạ thai. Pháp này thích hợp với trường hợp ứ huyết ngăn trở rõ, thể lực người mẹ còn chịu được phép công.
Gia giảm
Nếu bụng dưới đau nhiều, cự án, huyết khối nhiều, tùy chứng thêm Diên hồ sách, Ngũ linh chi để hoạt huyết chỉ thống.
Nếu hàn ngưng huyết ứ, bụng dưới lạnh đau, sắc mặt trắng xanh, tay chân lạnh, có thể phối Quế chi, Ngải diệp, Tiểu hồi hương để ôn kinh tán hàn, giúp huyết hành và thai xuống.
Nếu ra huyết nhiều, cần vừa khứ ứ vừa chỉ huyết, có thể dùng Tam thất, Bồ hoàng thán tùy chứng, đồng thời theo dõi sát tình trạng xuất huyết.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ thai chết trong Bào cung không xuống. Bụng dưới lạnh đau, trong âm đạo chảy ra chất dịch vàng, dính nhớt. Ngực bụng đầy tức, miệng có mùi hôi, thần mệt, thích ngủ. Rêu lưỡi trắng dày nhờn. Mạch nhu hoãn.
Phân tích chứng trạng
Tỳ hư thấp trở, thấp trọc ủng tắc Bào mạch, vận thai vô lực, nên thai chết trong Bào cung không xuống. Thấp trọc nội sinh, uế dịch chảy xuống, nên trong âm đạo chảy ra chất dịch vàng, dính nhớt. Thấp khốn trung châu, khí cơ không lợi, nên ngực bụng đầy tức. Thai chết đã lâu, khí hôi thối bốc ngược lên, nên miệng có mùi hôi. Tỳ hư thấp khốn, Dương khí không phấn chấn, nên thần mệt, thích ngủ. Rêu trắng dày nhờn, mạch nhu hoãn là biểu hiện của thấp khốn trung châu, khí cơ không lợi.
Pháp trị
Kiện Tỳ trừ thấp, hành khí hạ thai.
Phương thang
Bình vị tán, trích từ Hòa Tễ Cục Phương, gia Mang tiêu, Chỉ thực.
Thương truật, Hậu phác, Trần bì, Cam thảo, Mang tiêu, Chỉ thực.
Trong phương, Thương truật kiện Tỳ táo thấp. Hậu phác, Chỉ thực hành khí, tiêu trướng mãn. Trần bì lý khí, hóa đàm thấp. Cam thảo hòa trung. Gia Mang tiêu để nhuyễn kiên, hoạt lợi, hạ thai. Các vị hợp dùng có công năng kiện Tỳ trừ thấp, hành khí hạ thai.
Gia giảm
Nếu thấp trọc nặng, ngực bụng đầy tức rõ, có thể gia Hoắc hương, Bán hạ để hóa thấp, hòa trung.
Nếu bụng lạnh đau rõ, có thể gia Ngô thù du, Can khương lượng thích hợp để ôn trung tán hàn.
Nếu miệng có mùi hôi, dịch âm đạo uế trọc, cần chú ý khả năng thai chết lưu lâu ngày, phải phối hợp kiểm tra hiện đại và xử lý kịp thời.
Xử lý khi thuốc không hiệu quả
Nếu điều trị bằng thuốc không hiệu quả, có thể cần điều trị thủ thuật hoặc phẫu thuật. Nếu tử cung nhỏ hơn thai ba tháng, có thể trực tiếp tiến hành nạo gắp. Nếu tử cung lớn hơn thai ba tháng, có thể tiến hành gây chuyển dạ nhân tạo. Trước khi thực hiện thủ thuật đều cần chuẩn bị máu.
Thai chết lưu quá lâu dễ gây rối loạn cơ chế đông máu. Vì vậy, nếu thai chết trên ba tuần, cần làm xét nghiệm chức năng đông máu. Nếu chức năng đông máu bất thường, phải điều chỉnh trước rồi mới xử lý thủ thuật.
Chú ý lâm sàng
Thai chết không xuống khác với thai động bất an hoặc thai lậu. Khi thai còn sống và có thể giữ, mục tiêu là an thai. Nhưng khi thai đã chết trong Bào cung, mục tiêu điều trị là hạ thai để bảo toàn người mẹ. Nếu đã xác định thai chết mà vẫn cố an thai, không những không có lợi, mà còn có thể làm chậm trễ xử lý, gây nguy hiểm.
Khi thai chết lâu ngày, cần đặc biệt chú ý các dấu hiệu như ra huyết bất thường, sốt, dịch âm đạo hôi, đau bụng tăng, mệt nhiều, mạch yếu, hoặc các dấu hiệu rối loạn đông máu. Những trường hợp này cần phối hợp xử lý hiện đại, không nên chỉ dựa vào thuốc uống.
Nói tóm lại
Thai chết không xuống là tình trạng thai đã chết trong Bào cung, lưu lại quá lâu mà không tự ra ngoài. Bệnh cơ có hư và thực. Hư là khí huyết hư yếu, không đủ sức vận thai; thực là ứ huyết, thấp trọc ngăn trở, khiến thai chết bị giữ lại.
Khí huyết hư yếu thì ích khí dưỡng huyết, hoạt huyết hạ thai. Ứ huyết trở trệ thì hành khí hoạt huyết, khứ ứ hạ thai. Thấp trở khí cơ thì kiện Tỳ trừ thấp, hành khí hạ thai.
Điều trị lấy hạ thai làm chủ, nhưng phải xét sức khỏe người mẹ và hư thực của chứng. Không nên công phá quá mạnh một cách máy móc, cũng không nên an thai khi thai đã chết. Khi cần, phải phối hợp thủ thuật, truyền máu, kiểm tra đông máu và xử lý cấp cứu để bảo toàn tính mạng của thai phụ.
Tiết 9
Thai teo không lớn
Trong thời kỳ thai nghén, bụng thai nhỏ hơn so với tháng thai tương ứng, thai nhi vẫn còn sống nhưng sinh trưởng chậm, gọi là thai teo không lớn. Bệnh này còn gọi là thai không lớn, hoặc thai nghén thai teo táo.
Bệnh này tương đương với tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung trong y học hiện đại.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của bệnh này là cha mẹ bẩm phú hư yếu, hoặc sau khi có thai dưỡng thai không thích đáng, khiến Bào tạng hư tổn, thai không được nuôi dưỡng đầy đủ, vì vậy sinh trưởng chậm.
Các thể thường gặp gồm Thận khí hao tổn, khí huyết hư yếu và Âm hư huyết nhiệt.
Cơ thể vốn Thận hư, hoặc sau khi có thai phòng sự không điều độ, làm tổn thương Thận khí. Thai khí bên trong hệ thuộc ở Thận. Nếu Thận tinh bất túc, thai mất sự nuôi dưỡng, sinh trưởng chậm, từ đó phát thành thai teo không lớn.
Thận là gốc của tiên thiên, lại chủ tàng tinh. Thai được hình thành và phát triển cần có tinh huyết làm nền. Nếu Thận khí suy, Thận tinh thiếu, thai nguyên không có đủ nguồn nuôi từ gốc, thì dù thai còn sống, sự phát triển cũng chậm hơn tháng thai.
Cơ thể vốn khí huyết bất túc; hoặc sau khi có thai nôn nghén nặng, ăn uống kém, nguồn sinh hóa khí huyết không đủ; hoặc thai lậu ra huyết lâu ngày làm hao tổn khí huyết. Khí huyết Xung Nhâm bất túc, thai mất sự nuôi dưỡng, vì vậy thai teo không lớn.
Thai nhờ huyết để nuôi, nhờ khí để vận hóa và thúc đẩy sinh trưởng. Nếu Tỳ Vị yếu, khí huyết không sinh; hoặc ra huyết lâu ngày làm khí huyết hao tổn, thai nguyên không đủ nguồn dưỡng, bụng thai sẽ nhỏ hơn tháng thai, thai nhi phát triển chậm.
Thai phụ vốn Âm hư, hoặc bệnh lâu, mất huyết làm tổn thương Âm; hoặc sau khi có thai dùng quá nhiều thức ăn cay nóng, hoặc dùng nhiều thuốc ôn nhiệt, noãn cung, khiến tà nhiệt đốt thương Âm huyết. Thai vừa bị tà nhiệt làm tổn thương, vừa mất sự nhu dưỡng của Âm huyết, vì vậy phát sinh thai teo không lớn.
Thể này có hai mặt: một là Âm huyết không đủ để nuôi thai, hai là huyết nhiệt làm rối loạn môi trường nuôi thai. Vì vậy thai tuy còn sống nhưng không được nhu dưỡng yên ổn, sinh trưởng chậm, kèm các dấu hiệu hư nhiệt.
Biện chứng luận trị
Biện chứng chủ yếu căn cứ vào các chứng trạng toàn thân đi kèm, lưỡi và mạch để xác định thể bệnh, từ đó hướng dẫn điều trị.
Điều trị trọng ở bổ Tỳ Vị, bồi nguồn sinh hóa, nuôi tinh huyết, ích thai nguyên. Trong quá trình điều trị, nếu phát hiện thai dị dạng hoặc thai chết, thì cần hạ thai để bảo toàn người mẹ, không nên chỉ cố dưỡng thai một cách máy móc.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ, bụng thai nhỏ hơn tháng thai, thai nhi còn sống. Đầu choáng, tai ù, lưng gối đau mỏi, hoặc sợ lạnh, tay chân không ấm, mệt mỏi, không sức. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng
Tiên thiên bẩm phú bất túc, hoặc sau khi có thai dưỡng thai không thích đáng, Thận khí suy yếu, tinh huyết thiếu nguồn, Bào mạch mất sự nuôi dưỡng, nên thai không lớn. Thận hư, tủy hải bất túc, thanh khiếu mất sự nuôi dưỡng, nên đầu choáng, tai ù. Thận hư, ngoại phủ mất nuôi dưỡng, nên lưng gối đau mỏi, mệt mỏi, không sức. Thận hư, Dương khí bất túc, nên có thể sợ lạnh, tay chân không ấm. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế là dấu hiệu của Thận khí bất túc.
Pháp trị
Bổ Thận ích khí, điền tinh dưỡng thai.
Phương thang
Thọ thai hoàn gia Đảng sâm, Phúc bồn tử, Tang thầm tử.
Thỏ ty tử, Tang ký sinh, Tục đoạn, A giao, Đảng sâm, Phúc bồn tử, Tang thầm tử.
Trong phương, Thỏ ty tử bổ Thận ích tinh, an thai. Tang ký sinh, Tục đoạn bổ Thận, mạnh lưng, cố Xung, hệ thai. A giao dưỡng huyết để nuôi thai. Đảng sâm ích khí kiện Tỳ, giúp nguồn sinh hóa đầy đủ. Phúc bồn tử bổ Thận, cố tinh. Tang thầm tử tư dưỡng Can Thận, bổ tinh huyết. Các vị hợp dùng có công năng bổ Thận ích khí, điền tinh dưỡng thai.
Gia giảm
Nếu Thận Dương hư rõ, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, tùy chứng thêm Bổ cốt chi, Ích trí nhân, Ba kích thiên để ôn Thận trợ Dương.
Nếu Thận Âm hư, miệng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi đỏ ít rêu, có thể gia Nữ trinh tử, Câu kỷ tử, Hạn liên thảo để tư bổ Can Thận.
Nếu lưng gối đau mỏi nhiều, tùy chứng thêm Đỗ trọng, Cẩu tích để bổ Thận, mạnh gân xương, an thai.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ, bụng thai nhỏ hơn tháng thai, thai nhi còn sống. Thân thể gầy yếu, đầu choáng, hồi hộp, ít khí, lười nói, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu ít. Mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Thai khí vốn lấy khí huyết làm gốc. Sau khi có thai, nếu huyết hư khí yếu, thai nguyên bên trong mất sự nhu dưỡng của khí huyết, sinh trưởng chậm, nên bụng của người mẹ nhỏ hơn tháng thai. Khí huyết hư, cơ thể mất sự sung dưỡng, nên thân thể gầy yếu. Huyết hư, Tâm não mất nuôi dưỡng, nên đầu choáng, hồi hộp. Khí hư, Dương khí không phân bố đầy đủ, nên ít khí, lười nói. Huyết hư khí yếu, da cơ mất vinh nhuận, nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu ít, mạch tế nhược là dấu hiệu của khí huyết bất túc.
Pháp trị
Bổ khí dưỡng huyết, dưỡng dục thai nguyên.
Phương thang
Thai nguyên ẩm gia Tục đoạn, Câu kỷ tử.
Nhân sâm, Đương quy, Đỗ trọng, Bạch thược, Thục địa, Bạch truật, Trần bì, Chích cam thảo, Tục đoạn, Câu kỷ tử.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Chích cam thảo bổ khí kiện Tỳ, giúp nguồn sinh hóa được đầy. Đương quy, Bạch thược, Thục địa dưỡng huyết, bổ huyết, nuôi thai. Đỗ trọng, Tục đoạn bổ Thận, cố thai, mạnh lưng. Câu kỷ tử tư bổ Can Thận, ích tinh huyết. Trần bì lý khí hòa trung, khiến thuốc bổ mà không nê trệ. Toàn phương có công năng bổ khí dưỡng huyết, cố Thận dưỡng thai.
Gia giảm
Nếu Tỳ Vị yếu, ăn kém, bụng đầy, tùy chứng thêm Sơn dược, Sa nhân, Phục linh để kiện Tỳ hòa Vị.
Nếu nôn nghén chưa dứt, ăn vào dễ nôn, có thể gia Trúc nhự, Bán hạ chế, Sinh khương lượng nhỏ để hòa Vị giáng nghịch, nhưng phải dùng thận trọng trong thai kỳ.
Nếu huyết hư rõ, hồi hộp, mất ngủ, có thể thêm A giao, Long nhãn nhục, Toan táo nhân để dưỡng huyết an thần.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ, bụng thai nhỏ hơn tháng thai, thai nhi còn sống. Gò má đỏ, môi đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng, phiền táo bất an, miệng khô thích uống. Lưỡi đỏ mà khô. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Âm hư huyết nhiệt, nhiệt tà làm tổn thương thai, thai lại mất sự nhu dưỡng của Âm huyết, nên thai teo không lớn, bụng thai nhỏ hơn tháng thai. Hư nhiệt nổi lên trên, nên gò má đỏ, môi đỏ. Âm hư nội nhiệt, nên lòng bàn tay bàn chân nóng. Nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, nên phiền táo bất an. Âm hư huyết nhiệt, tân dịch bất túc, nên miệng khô thích uống. Lưỡi đỏ khô, mạch tế sác là dấu hiệu của Âm hư huyết nhiệt.
Pháp trị
Tư Âm thanh nhiệt, dưỡng huyết dưỡng thai.
Phương thang
Bảo Âm tiễn gia Câu kỷ tử, Tang thầm tử.
Bảo Âm tiễn lấy tư Âm thanh nhiệt, lương huyết an thai làm chủ. Gia Câu kỷ tử, Tang thầm tử để bổ Can Thận, ích tinh huyết, giúp thai được nhu dưỡng. Khi Âm huyết được nuôi, hư nhiệt được thanh, thai nguyên có nguồn dưỡng và không còn bị nhiệt quấy nhiễu, sự phát triển của thai có thể dần ổn định.
Gia giảm
Nếu miệng khô nhiều, lưỡi đỏ ít rêu, có thể gia Mạch môn, Thạch hộc để dưỡng Âm sinh tân.
Nếu phiền táo, ngủ không yên, có thể gia Liên tử tâm lượng nhỏ, Trúc diệp, Toan táo nhân để thanh Tâm trừ phiền, dưỡng Tâm an thần.
Nếu có ra huyết ít, sắc đỏ tươi, có thể gia A giao, Hạn liên thảo, Địa du thán để lương huyết chỉ huyết, an thai.
Chú ý trong điều trị
Điều trị thai teo không lớn cần phối hợp theo dõi sự phát triển của thai. Nếu nghi có bệnh lý nhiễm sắc thể, nhiễm virus, tổn thương do tia xạ hoặc các yếu tố gây dị dạng thai, nên từ sau tuần thai thứ mười sáu tiến hành chẩn đoán trước sinh khi cần thiết, nhằm phòng ngừa sinh ra thai dị dạng.
Nếu trong quá trình điều trị phát hiện thai không còn sống, hoặc dị dạng nặng, hoặc thai không thể tiếp tục phát triển bình thường, thì không nên cố giữ thai một cách máy móc. Khi thai khó giữ, cần xử lý theo nguyên tắc bảo toàn người mẹ.
Điều dưỡng
Thai teo không lớn phần nhiều có quan hệ với nguồn sinh hóa khí huyết và tinh huyết của mẹ. Vì vậy, trong điều dưỡng cần chú ý ăn uống điều độ, dễ tiêu, đủ dinh dưỡng, tránh quá đói, quá no, tránh thức ăn cay nóng quá mức. Người Tỳ Vị hư cần dưỡng Tỳ Vị, ăn chậm, chia nhỏ bữa nếu cần. Người Thận hư cần tránh lao lực, tránh phòng sự không điều độ, giữ tinh thần ổn định.
Thai phụ cũng cần nghỉ ngơi thích hợp, tránh lo nghĩ quá độ. Khí huyết muốn đầy thì Tỳ Vị phải yên; thai muốn lớn thì Xung Nhâm phải được nuôi. Vì vậy, điều trị bằng thuốc và điều dưỡng sinh hoạt cần đi cùng nhau.
Nói tóm lại
Thai teo không lớn là tình trạng trong thai kỳ bụng thai nhỏ hơn tháng thai, thai nhi còn sống nhưng sinh trưởng chậm. Bệnh cơ chủ yếu là Bào tạng hư tổn, thai không được nuôi dưỡng đầy đủ.
Thận khí hao tổn thì tinh huyết thiếu nguồn, thai mất sự nuôi từ gốc, trị bằng bổ Thận ích khí, điền tinh dưỡng thai. Khí huyết hư yếu thì thai mất sự nuôi dưỡng của khí huyết, trị bằng bổ khí dưỡng huyết, dưỡng dục thai nguyên. Âm hư huyết nhiệt thì thai vừa bị nhiệt quấy nhiễu, vừa thiếu Âm huyết nhu dưỡng, trị bằng tư Âm thanh nhiệt, dưỡng huyết dưỡng thai.
Điều trị bệnh này không chỉ là làm cho bụng thai lớn lên, mà là bồi lại nguồn sinh hóa khí huyết, tinh huyết và sự yên ổn của Xung Nhâm. Đồng thời phải theo dõi sự phát triển của thai, phát hiện sớm thai chết, thai dị dạng hoặc thai khó tiếp tục phát triển, để xử lý đúng lúc.
Tiết 10
Quỷ thai
Trong thai kỳ đã được vài tháng, bụng to lên bất thường, âm ỉ đau, âm đạo ra huyết lặp đi lặp lại, hoặc ra những bọc nước như trứng ếch, gọi là quỷ thai, cũng gọi là ngụy thai.
Bệnh này tương đương với thai trứng và thai trứng xâm lấn trong y học hiện đại. Người bệnh thai trứng phần nhiều có ra huyết âm đạo không theo quy luật. Khi ra huyết nhiều có thể dẫn đến choáng. Thai trứng và thai trứng xâm lấn có khả năng ác biến, vì vậy sau khi xử lý thai trứng, cần theo dõi định kỳ và tránh thai trong hai năm.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của quỷ thai là cơ thể vốn hư yếu, thất tình uất kết, thấp trọc ngưng trệ không tan. Tinh huyết tuy ngưng kết nhưng cuối cùng không thành thai hình bình thường, từ đó phát thành quỷ thai.
Các thể thường gặp gồm khí huyết hư yếu, khí trệ huyết ứ, hàn thấp uất kết và đàm trọc ngưng trệ.
Cơ thể vốn hư yếu, khí huyết bất túc. Sau khi có thai, ưu tư không giải, huyết theo khí mà kết lại không tan, Xung Nhâm trệ nghịch, trong Bào cung ủng ứ, bụng dần to bất thường. Thai mất sự nuôi dưỡng thì thai chết; ứ huyết làm tổn thương Bào mạch thì âm đạo ra huyết, từ đó phát thành quỷ thai.
Thể này lấy hư làm gốc, ứ làm biểu hiện. Khí huyết vốn không đủ để nuôi thai, lại thêm tình chí uất kết, khí huyết càng khó vận hành. Tinh huyết ngưng ở Bào cung mà không hóa thành thai bình thường, nên bụng to khác thường, không có thai động, thai tâm.
Người vốn hay uất ức, sau khi có thai tình chí không thuận, Can uất khí trệ. Khí trệ thì huyết kết, Xung Nhâm không thông, ứ huyết kết tụ trong Bào cung, làm bụng to bất thường. Ứ huyết làm tổn thương thai thì thai hỏng; ứ làm tổn thương Bào mạch thì ra huyết, phát thành quỷ thai.
Thể này lấy khí trệ huyết ứ làm chủ. Khí không thông thì huyết không hành; huyết không hành thì kết tụ thành khối, làm Bào cung bị ủng trệ. Do đó thường thấy bụng trướng đau, cự án, huyết ra sắc tím tối, có cục.
Thai phụ ở lâu nơi ẩm thấp, hoặc tham lạnh, uống ăn đồ lạnh, khiến hàn thấp khách ở Xung Nhâm. Hàn thấp làm khí huyết ngưng trệ trong Bào cung, bụng to bất thường. Hàn thấp sinh trọc, làm tổn thương thai; ứ huyết làm tổn thương Bào mạch thì ra huyết, từ đó phát thành quỷ thai.
Thể này có đặc điểm là hàn thấp ngưng kết. Hàn làm huyết ngưng, thấp làm khí cơ nặng nề, dính trệ. Hàn thấp cùng kết ở Bào cung, khiến thai không thành hình, lại có huyết ứ và trọc khí ở trong, nên bụng to mà không có thai động, thai tâm.
Thai phụ vốn thân thể béo, hoặc ăn nhiều đồ béo ngọt, nồng hậu, hoặc Tỳ hư không vận hóa, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc đình lại bên trong, Xung Nhâm không thông, đàm trọc cùng khí huyết kết tụ trong Bào cung, bụng to bất thường. Đàm trọc ngưng trệ làm tổn thương thai; ứ làm tổn thương Bào mạch thì ra huyết, phát thành quỷ thai.
Thể này lấy đàm trọc làm trọng. Đàm thấp vốn dính trệ, dễ ngăn trở khí huyết. Khi đàm trọc kết với huyết ở Bào cung, tinh huyết không thể thành thai bình thường, bụng tuy to nhưng không có thai sống.
Biện chứng luận trị
Biện chứng lấy âm đạo ra huyết trong thai kỳ và bụng to bất thường làm chủ, đồng thời kết hợp chứng trạng toàn thân, lưỡi và mạch để phân tích tổng hợp.
Điều trị lấy hạ thai, khứ ứ làm chủ, đồng thời tá thêm điều bổ khí huyết để giúp cơ thể hồi phục sau khi xử lý bệnh. Vì bệnh này tương ứng với thai trứng hoặc thai trứng xâm lấn, khi lâm sàng cần phối hợp thăm khám, siêu âm, xét nghiệm và theo dõi sau điều trị. Không nên chỉ xem là thai thường hoặc chỉ cố an thai.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ âm đạo ra huyết không theo quy luật, lượng nhiều, sắc nhạt, chất loãng. Bụng to bất thường, thỉnh thoảng đau âm ỉ. Không có thai động, không có thai tâm. Thần mệt, không sức, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, mất ngủ, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt mềm. Mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn khí huyết hư yếu, Xung Nhâm trệ nghịch, trong Bào cung ủng ứ, nên bụng to bất thường. Ứ làm tổn thương Bào mạch, lại thêm khí huyết bất túc, hoặc quỷ thai lưu lại lâu ngày, nên âm đạo ra huyết lượng nhiều, sắc nhạt, chất loãng, bụng đau âm ỉ. Thai mất sự nuôi dưỡng nên không có thai động, thai tâm. Huyết hư không vinh nhuận, khí hư không phân bố, nên đầu choáng, mắt hoa, sắc mặt trắng nhợt. Trung khí bất túc nên thần mệt, không sức. Huyết hư, Tâm thần mất nuôi dưỡng, nên hồi hộp, mất ngủ. Lưỡi nhạt mềm, mạch tế nhược là dấu hiệu của khí huyết lưỡng hư.
Pháp trị
Ích khí dưỡng huyết, hoạt huyết hạ thai.
Phương thang
Cứu mẫu đan gia Chỉ xác, Ngưu tất.
Cứu mẫu đan vốn có ý nghĩa ích khí dưỡng huyết, hoạt huyết hạ thai. Gia Chỉ xác để lý khí, khoan trung, giúp khí hành thì huyết hành. Gia Ngưu tất để hoạt huyết, dẫn huyết đi xuống, trợ lực hạ thai. Toàn phương vừa bổ khí huyết để nâng chính khí, vừa hoạt huyết hạ thai để trừ quỷ thai, phù hợp với chứng hư mà có ứ.
Gia giảm
Nếu khí hư rõ, ra huyết nhiều, người mệt, hơi ngắn, có thể tăng các vị ích khí như Đảng sâm, Hoàng kỳ tùy chứng.
Nếu huyết hư rõ, đầu choáng, hồi hộp, mất ngủ, có thể phối A giao, Long nhãn nhục, Toan táo nhân sau khi huyết ra đã ổn định, để dưỡng huyết an thần.
Nếu ra huyết nhiều, cần thận trọng vừa hoạt huyết vừa chỉ huyết, không nên công phá quá mạnh khi chính khí suy.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ âm đạo ra huyết không theo quy luật, lượng ít không thông suốt, hoặc lượng nhiều, huyết sắc tím tối, có cục. Bụng to bất thường, thỉnh thoảng bụng trướng đau, cự án. Không có thai động, không có thai tâm. Ngực sườn đầy trướng, phiền táo, dễ giận. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ. Mạch sáp hoặc trầm huyền.
Phân tích chứng trạng
Người vốn hay uất ức, uất thì khí trệ, huyết theo khí mà kết, Xung Nhâm không thông, ứ huyết kết tụ trong Bào cung, nên bụng to bất thường. Ứ làm tổn thương Bào mạch, nên âm đạo ra huyết không theo quy luật, bụng trướng đau và cự án. Huyết rời kinh khi ứ khi chảy, nên lượng ít không thông suốt, hoặc lượng nhiều, sắc tím tối, có cục. Ứ kết làm tổn thương thai nên không có thai động, thai tâm. Tình chí uất ức, khí trệ không thông, kinh mạch bất lợi, nên ngực sườn đầy trướng, phiền táo, dễ giận. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch sáp hoặc trầm huyền là dấu hiệu của khí huyết ứ trệ.
Pháp trị
Lý khí hoạt huyết, khứ ứ hạ thai.
Phương thang
Đãng quỷ thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Nhân sâm, Đương quy, Đại hoàng, Xuyên ngưu tất, Lôi hoàn, Hồng hoa, Đan bì, Chỉ xác, Hậu phác, Đào nhân.
Trong phương, Chỉ xác, Hậu phác lý khí hành trệ. Đào nhân, Hồng hoa, Đan bì, Xuyên ngưu tất hoạt huyết hóa ứ để hạ thai. Đại hoàng, Lôi hoàn hành ứ huyết, tẩy tích trệ để hạ thai. Nhân sâm, Đương quy bổ khí dưỡng huyết, khiến công tích mà không làm tổn chính khí quá mức. Toàn phương có công năng hành khí hoạt huyết, khứ ứ hạ thai.
Gia giảm
Nếu bụng trướng đau rõ, có thể phối Diên hồ sách, Hương phụ tùy chứng để hành khí chỉ thống.
Nếu ra huyết nhiều, người mệt, cần cân nhắc giảm bớt vị công phá mạnh, đồng thời phối vị ích khí chỉ huyết.
Nếu nghi thai trứng xâm lấn hoặc có nguy cơ ác biến, cần phối hợp kiểm tra và xử lý hiện đại, không nên chỉ kéo dài điều trị bằng thuốc.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ âm đạo ra huyết không theo quy luật, lượng ít, sắc tím tối, có cục. Bụng to bất thường, bụng dưới lạnh đau. Không có thai động, không có thai tâm. Sợ lạnh, tay chân lạnh. Rêu lưỡi trắng nhờn. Mạch trầm khẩn.
Phân tích chứng trạng
Hàn thấp xâm nhập bên trong, khách ở Xung Nhâm, ngưng tụ trong Bào cung, nên bụng to bất thường. Ứ làm tổn thương Bào mạch, nên âm đạo ra huyết, sắc tím tối, có cục. Ứ trọc làm tổn thương thai nên không có thai động, thai tâm. Huyết bị hàn làm ngưng, vận hành không thông, nên thường có bụng dưới lạnh đau. Hàn thấp ngưng trệ, Dương khí không thông đạt ra ngoài, nên sợ lạnh, tay chân lạnh. Rêu trắng nhờn, mạch trầm khẩn là dấu hiệu của hàn thấp ngưng trệ.
Pháp trị
Tán hàn trừ thấp, trục thủy hạ thai.
Phương thang
Nguyên hoa tán, trích từ Phụ Khoa Ngọc Xích.
Nguyên hoa, Ngô thù du, Tần giao, Bạch cương tàm, Sài hồ, Xuyên ô, Ba kích.
Trong phương, Nguyên hoa tả thủy, trục ẩm, hạ thai, làm quân. Sài hồ, Ngô thù du sơ Can, hạ khí, làm thần. Xuyên ô, Ba kích, Tần giao, Bạch cương tàm ôn ấm hạ nguyên, trừ hàn thấp, tán phong chỉ thống. Toàn phương có tác dụng tán hàn trừ thấp, trục thủy hạ thai.
Chú ý
Phương này có sức công trục và ôn tán khá mạnh. Khi dùng cần xét kỹ thể lực người bệnh, lượng huyết ra, mức độ hàn thấp và tình trạng thai bệnh. Nếu chính khí suy, ra huyết nhiều, hoặc có dấu hiệu nguy cấp, cần xử lý theo hướng phối hợp hiện đại, không nên chỉ dùng phép công trục.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ âm đạo ra huyết không theo quy luật, lượng ít, sắc tối. Bụng to bất thường. Không có thai động, không có thai tâm. Thân thể béo, ngực sườn đầy tức, buồn nôn, nhiều đàm. Lưỡi nhạt, rêu nhờn. Mạch hoạt.
Phân tích chứng trạng
Đàm trọc đình lại bên trong, cùng huyết kết tụ trong Bào cung, nên bụng to bất thường. Ứ làm tổn thương Bào mạch, nên âm đạo ra huyết, lượng ít, sắc tối. Đàm trọc đình lại, khí cơ không thông, nên ngực sườn đầy tức, buồn nôn, nhiều đàm. Thân thể béo, lưỡi nhạt, rêu nhờn, mạch hoạt là dấu hiệu của đàm thấp.
Pháp trị
Hóa đàm trừ thấp, hành khí hạ thai.
Phương thang
Bình vị tán gia Mang tiêu, Chỉ xác.
Thương truật, Hậu phác, Trần bì, Cam thảo, Mang tiêu, Chỉ xác.
Trong phương, Thương truật táo thấp kiện Tỳ. Hậu phác, Chỉ xác hành khí, tiêu đầy trướng. Trần bì lý khí, hóa đàm thấp. Cam thảo hòa trung. Mang tiêu nhuyễn kiên, tán kết, hỗ trợ hạ thai. Toàn phương có công năng hóa đàm trừ thấp, hành khí hạ thai.
Gia giảm
Nếu đàm nhiều, buồn nôn rõ, có thể gia Bán hạ, Phục linh để hóa đàm, hòa trung.
Nếu bụng đầy tức nhiều, có thể gia Sa nhân, Mộc hương lượng thích hợp để hành khí, hòa Vị.
Nếu ra huyết kéo dài hoặc người bệnh suy yếu, cần phối hợp ích khí dưỡng huyết sau khi đã xử lý ổn quỷ thai, để giúp chính khí phục hồi.
Xử lý phối hợp và theo dõi sau điều trị
Nếu điều trị bằng thuốc không thuận lợi hoặc bệnh tình không thích hợp dùng thuốc đơn thuần, có thể phối hợp nạo hút buồng tử cung, dự phòng hóa trị và các phương pháp điều trị hiện đại khác.
Vì thai trứng và thai trứng xâm lấn có nguy cơ ác biến, sau khi xử lý cần theo dõi định kỳ. Việc theo dõi thường bao gồm kiểm tra lâm sàng, siêu âm và xét nghiệm liên quan theo chỉ định của chuyên khoa. Trong thời gian theo dõi cần tránh thai, không nên có thai lại quá sớm, để khỏi che lấp diễn biến bệnh và gây khó khăn cho việc đánh giá hồi phục.
Chú ý lâm sàng
Quỷ thai không phải thai bình thường. Khi đã có dấu hiệu bụng to bất thường, âm đạo ra huyết lặp đi lặp lại, không có thai động, thai tâm, hoặc ra bọc nước như trứng ếch, cần thăm khám sớm. Nếu xác định là thai trứng hoặc thai trứng xâm lấn, mục tiêu điều trị không phải an thai, mà là hạ thai, khứ ứ, bảo toàn người mẹ và theo dõi phòng biến chứng.
Trong Trung y, tuy có thể phân thể khí huyết hư yếu, khí trệ huyết ứ, hàn thấp uất kết, đàm trọc ngưng trệ để luận trị, nhưng đây là bệnh cần đặc biệt coi trọng kiểm tra hiện đại. Không nên vì thấy có thai mà dùng phép an thai; cũng không nên để ra huyết kéo dài mà chỉ dùng thuốc cầm huyết.
Nói tóm lại
Quỷ thai là chứng trong thai kỳ bụng to bất thường, âm đạo ra huyết lặp đi lặp lại, hoặc ra bọc nước như trứng ếch, không có thai động, thai tâm. Bệnh cơ chủ yếu là cơ thể hư yếu, thất tình uất kết, thấp trọc ngưng trệ, tinh huyết tuy ngưng nhưng không thành thai bình thường.
Khí huyết hư yếu thì ích khí dưỡng huyết, hoạt huyết hạ thai. Khí trệ huyết ứ thì lý khí hoạt huyết, khứ ứ hạ thai. Hàn thấp uất kết thì tán hàn trừ thấp, trục thủy hạ thai. Đàm trọc ngưng trệ thì hóa đàm trừ thấp, hành khí hạ thai.
Điều trị lấy hạ thai, khứ ứ làm chủ, sau đó điều bổ khí huyết để phục hồi chính khí. Vì bệnh này tương ứng với thai trứng và thai trứng xâm lấn, cần đặc biệt chú ý nguy cơ xuất huyết, choáng và ác biến; sau xử lý phải theo dõi định kỳ và tránh thai theo hướng dẫn chuyên khoa.
Tiết 11
Thai thủy thũng mãn
Trong thời kỳ thai nghén, thai thủy quá nhiều, bụng to bất thường, ngực cách đầy trướng, nặng hơn thì thở gấp, không nằm được, gọi là thai thủy thũng mãn, cũng gọi là tử mãn.
Bệnh này tương đương với đa ối trong y học hiện đại. Nếu có thai nhi dị dạng, cần xem xét chấm dứt thai kỳ, phần này không bàn sâu.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của thai thủy thũng mãn là Tỳ mất kiện vận, thủy thấp thấm vào trong Bào cung. Các thể thường gặp gồm Tỳ khí hư yếu và khí trệ thấp uất.
Cơ thể vốn Tỳ hư, sau khi có thai lại tham ăn đồ sống lạnh. Huyết khí hạ tụ ở Xung Nhâm để nuôi thai, Tỳ khí càng hư thêm. Tỳ hư thì không vận hóa được thủy thấp, thủy thấp không được chế ước, thấm vào trong Bào cung, phát thành thai thủy thũng mãn.
Tỳ chủ vận hóa thủy thấp. Trong thai kỳ, thai nhờ khí huyết nuôi dưỡng, mà Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết. Nếu Tỳ khí yếu, vừa không đủ sức sinh hóa khí huyết, vừa không đủ sức vận thủy, thủy thấp dễ lưu lại, thấm vào Bào trung. Vì vậy bụng thai to bất thường, da bụng căng sáng, có thể kèm phù ở chi dưới và vùng âm.
Người vốn nhiều uất ức. Sau khi có thai, thai nhi dần lớn, làm khí cơ bị trở ngại. Khí cơ không thông, khí trệ thì thủy thấp không hóa, thấp uất lại càng nặng, tích chứa trong Bào cung, từ đó phát sinh thai thủy thũng mãn.
Trong thể này, trọng điểm không chỉ là Tỳ hư, mà là khí cơ bị bế trở. Thai thể lớn lên, khí cơ thăng giáng đã dễ bị chèn ép; nếu thêm tình chí uất kết, Can khí không thư, thì thủy thấp bị giữ lại, không có đường vận hành. Khi thấp trọc tích ở Bào trung và bốc lên ngực cách, có thể xuất hiện ngực cách đầy trướng, thậm chí thở gấp, không nằm được.
Biện chứng luận trị
Trong biện chứng cần chú ý đặc điểm sưng phù ở tứ chi và da bụng. Nếu da bụng mỏng, căng sáng, ấn vào lõm xuống, phần nhiều thuộc Tỳ hư. Nếu màu da không đổi, ấn vào không thấy vết lõm rõ, phần nhiều thuộc khí trệ. Đồng thời cần kết hợp chứng trạng toàn thân, lưỡi và mạch để chẩn đoán chính xác.
Đại pháp điều trị lấy lợi thủy trừ thấp làm chủ, phụ thêm ích khí hành khí. Trong thai kỳ, khi dùng phép lợi thủy cần chú ý không làm tổn thương thai nguyên. Nếu thai còn có thể giữ và không có dị dạng, nên vừa hành thủy, vừa an thai. Nếu phát hiện thai nhi dị dạng hoặc thai khó giữ, cần xử lý theo hướng bảo toàn người mẹ.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ thai thủy quá nhiều, bụng to bất thường, da bụng căng gấp mà sáng bóng. Chi dưới và vùng âm phù thũng, nặng thì toàn thân phù. Ăn ít, bụng trướng, thần mệt, tay chân mềm yếu, sắc mặt vàng nhạt. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch trầm hoạt vô lực.
Phân tích chứng trạng
Tỳ hư mất vận hóa, thủy thấp lưu tụ, thấm vào trong Bào cung, phát thành thai thủy quá nhiều, bụng to bất thường, da bụng căng gấp mà sáng bóng. Thủy thấp tràn ra da cơ, nên chi dưới và vùng âm phù thũng; nặng hơn thì toàn thân phù. Tỳ hư, trung Dương không phấn chấn, nên ăn ít, bụng trướng, thần mệt, tay chân mềm yếu. Sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm hoạt vô lực đều là dấu hiệu của Tỳ hư thấp khốn.
Pháp trị
Kiện Tỳ thấm thấp, dưỡng huyết an thai.
Phương thang
Lý ngư thang, trích từ Thiên Kim Yếu Phương.
Cá chép, Bạch truật, Bạch thược, Đương quy, Phục linh, Sinh khương.
Trong phương, cá chép giỏi hành thủy trong Bào trung mà tiêu phù. Bạch truật, Phục linh, Sinh khương kiện Tỳ, lý khí, thấm thấp để hành thủy. Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết an thai, khiến thủy được hành mà không làm tổn thương thai. Toàn phương vừa kiện Tỳ hành thủy, vừa dưỡng huyết an thai, phù hợp với thai thủy thũng mãn do Tỳ hư thấp tụ.
Gia giảm
Nếu Dương hư kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, tùy chứng thêm Hoàng kỳ, Quế chi để ôn Dương hóa khí, hành thủy.
Nếu đau lưng nhiều, tùy chứng thêm Đỗ trọng, Tục đoạn, Thỏ ty tử để cố Thận an thai.
Nếu phù toàn thân rõ, tiểu tiện ít, có thể tùy chứng gia Xa tiền tử, Trạch tả lượng thích hợp để lợi thủy, nhưng cần dùng thận trọng trong thai kỳ.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ thai thủy quá nhiều, bụng to bất thường. Ngực cách đầy trướng, nặng thì thở gấp, không nằm được. Tứ chi phù trướng, màu da không đổi, ấn vào không thấy vết lõm rõ. Rêu lưỡi mỏng nhờn. Mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng trạng
Khí cơ uất trệ, thủy thấp đình tụ, tích chứa trong Bào cung, nên thai thủy quá nhiều, bụng to bất thường. Thấp trọc bức lên Tâm Phế, nên ngực cách đầy trướng; nặng hơn thì thở gấp, không thể nằm. Khí trệ thấp uất, thấp tràn ra da cơ, nên tứ chi phù trướng, nhưng màu da không đổi, ấn vào không thấy vết lõm rõ. Rêu lưỡi mỏng nhờn, mạch huyền hoạt là dấu hiệu của khí trệ thấp uất.
Pháp trị
Lý khí hành trệ, lợi thủy trừ thấp.
Phương thang
Phục linh đạo thủy thang, trích từ Y Tông Kim Giám, bỏ Tân lang.
Phục linh, Trư linh, Sa nhân, Mộc hương, Trần bì, Trạch tả, Bạch truật, Mộc qua, Đại phúc bì, Tang bạch bì, Tô diệp.
Trong phương, Phục linh, Trư linh, Bạch truật, Trạch tả kiện Tỳ hành thủy. Mộc hương, Sa nhân, Tô diệp tỉnh Tỳ lý khí. Đại phúc bì, Tang bạch bì, Trần bì tiêu trướng hành thủy. Mộc qua hành khí trừ thấp. Toàn phương có công năng lý khí hành trệ, lợi thủy trừ thấp, giúp khí hành thì thủy hành, thấp đi thì bụng trướng tự giảm.
Gia giảm
Nếu bụng trướng nhiều, tùy chứng thêm Chỉ xác để lý khí tiêu trướng mãn.
Nếu thở gấp nhiều, không nằm được, tùy chứng thêm Đình lịch tử để tả Phế hành thủy, hạ khí định suyễn.
Nếu chi dưới phù nhiều, tùy chứng thêm Phòng kỷ để trừ thấp tiêu phù.
Chú ý lâm sàng
Thai thủy thũng mãn cần được theo dõi cẩn thận. Nếu bụng to nhanh, ngực cách đầy trướng, khó thở, không nằm được, hoặc thai máy bất thường, cần thăm khám kịp thời. Vì bệnh này tương ứng với đa ối trong y học hiện đại, cần chú ý siêu âm và kiểm tra thai nhi để đánh giá lượng ối, tình trạng thai, đồng thời loại trừ dị dạng thai khi cần.
Trong Trung y, tuy có thể biện chứng thành Tỳ khí hư yếu hoặc khí trệ thấp uất, nhưng điều trị không nên chỉ nhằm tiêu phù. Nếu thai còn tốt, phải vừa lợi thủy, vừa an thai; nếu thai có dị dạng nặng hoặc thai khó giữ, cần xử lý theo hướng bảo toàn người mẹ.
Nói tóm lại
Thai thủy thũng mãn là chứng trong thai kỳ thai thủy quá nhiều, bụng to bất thường, ngực cách đầy trướng, nặng thì thở gấp, không nằm được. Bệnh cơ chủ yếu là Tỳ mất kiện vận, thủy thấp thấm vào Bào cung; hoặc khí cơ uất trệ, thấp uất tích chứa trong Bào trung.
Tỳ khí hư yếu thì kiện Tỳ thấm thấp, dưỡng huyết an thai. Khí trệ thấp uất thì lý khí hành trệ, lợi thủy trừ thấp. Khi trị cần chú ý thai kỳ đặc thù: lợi thủy nhưng không làm tổn thai; hành khí nhưng không phá khí quá mạnh; tiêu trướng nhưng vẫn phải giữ thai nguyên nếu thai còn có thể giữ.
Nếu có thai nhi dị dạng, đa ối nặng, khó thở, hoặc có dấu hiệu nguy hiểm cho mẹ và thai, cần phối hợp kiểm tra và xử lý hiện đại, không nên chỉ dùng thuốc điều trị kéo dài.
Mình tiếp tục Tiết 12 “Phù thũng trong thai kỳ”. Phần này gồm ba thể chính: Tỳ hư, Thận hư và khí trệ.
Tiết 12
Phù thũng trong thai kỳ
Trong thời kỳ thai nghén, sau vài tháng mang thai, mặt, mắt, tay chân hoặc toàn thân phù thũng, gọi là phù thũng trong thai kỳ. Bệnh này cũng gọi là tử thũng.
Phù nhẹ ở bàn chân vào cuối thai kỳ, sau khi nghỉ ngơi có thể giảm, không kèm triệu chứng toàn thân rõ rệt, có thể thuộc hiện tượng thường gặp trong thai kỳ. Nhưng nếu phù ngày càng tăng, từ chân lan lên đùi, mặt, tay, bụng, hoặc kèm tiểu ít, đau đầu, chóng mặt, hồi hộp, khó thở, huyết áp bất thường, thì cần hết sức coi trọng và thăm khám kịp thời.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của phù thũng trong thai kỳ là Tỳ Thận hư yếu, khí hóa bất lợi, thủy thấp đình lại; hoặc khí cơ uất trệ, thủy thấp không hóa, tràn ra da cơ mà thành phù.
Sau khi có thai, huyết khí hạ tụ Xung Nhâm để nuôi thai, thai thể dần lớn, khí cơ thăng giáng dễ bị ảnh hưởng. Nếu Tỳ mất kiện vận, Thận mất khí hóa, hoặc Can khí uất trệ, thì thủy thấp không được vận hành theo đường thường, dần dần tràn ra tứ chi, mặt mắt, cơ phu, vì vậy phát sinh phù thũng.
Các thể thường gặp gồm Tỳ hư, Thận hư và khí trệ.
Thai phụ vốn Tỳ khí hư yếu, hoặc ăn uống không điều độ, lao nhọc làm tổn thương Tỳ. Sau khi có thai, khí huyết hạ tụ Xung Nhâm để dưỡng thai, Tỳ khí càng hư. Tỳ chủ vận hóa thủy thấp, Tỳ hư thì thủy thấp không hóa, thấp trọc đình lại bên trong, tràn ra cơ phu, vì vậy sinh phù.
Thể này thường bắt đầu từ chi dưới, da phù mềm, ấn vào lõm xuống, kèm ăn ít, bụng đầy, thần mệt, đại tiện lỏng. Gốc bệnh ở Tỳ, biểu hiện là thấp.
Thai phụ vốn Thận khí bất túc, hoặc phòng lao, sinh đẻ nhiều, bệnh lâu làm tổn thương Thận. Sau khi có thai, Thận khí càng phải hệ thai, nếu Thận khí không đủ, khí hóa thất thường, thủy thấp đình lại. Thận Dương hư thì thủy đạo không được ôn hóa, nước không được đưa ra ngoài, tràn ra da cơ mà thành phù.
Thể này thường phù mặt và chi, chi dưới nặng hơn, ấn vào lõm sâu, kèm lưng đau, đầu choáng, tai ù, tiểu tiện không lợi, tay chân lạnh hoặc chân lạnh. Bệnh thuộc Thận Dương không đủ, khí hóa bất lợi.
Thai phụ vốn tính uất ức, hoặc sau khi có thai thai thể dần lớn làm khí cơ bị trở ngại. Khí cơ không thông, thủy thấp không hành, dần dần uất lại ở cơ phu. Khí trệ khiến thủy trệ; thủy trệ lại làm khí cơ càng khó thông, vì vậy phù thũng ngày càng rõ.
Thể này thường bắt đầu phù từ hai bàn chân rồi dần lan lên chân. Màu da không đổi, ấn vào vết lõm không rõ. Kèm đầu choáng, đầu trướng đau, ngực sườn đầy trướng, ăn uống giảm. Bệnh thuộc khí cơ uất trệ, thấp theo khí mà đình lại.
Biện chứng luận trị
Biện chứng phù thũng trong thai kỳ cần xem vị trí phù, mức độ phù, tính chất khi ấn, sắc da, tiểu tiện, cùng các chứng toàn thân và lưỡi mạch.
Nếu da mỏng, căng sáng, ấn vào lõm xuống rõ, phần nhiều thuộc Tỳ hư hoặc Thận hư. Nếu phù từ chân, da sắc không đổi, ấn vào không lõm rõ, kèm ngực sườn đầy trướng, phần nhiều thuộc khí trệ. Nếu kèm lưng đau, tiểu ít, chân lạnh, sắc mặt tối sạm, phần nhiều nghiêng về Thận hư. Nếu kèm ăn ít, bụng đầy, đại tiện lỏng, thần mệt, phần nhiều nghiêng về Tỳ hư.
Điều trị lấy hành thủy tiêu phù làm chủ, nhưng trong thai kỳ không được chỉ lo lợi thủy mạnh. Cần xét hư thực mà dùng phép kiện Tỳ, ôn Thận, lý khí, hóa thấp, đồng thời chú ý an thai. Nếu phù nặng, kèm đau đầu, hoa mắt, tức ngực, khó thở, huyết áp tăng hoặc tiểu ít rõ, cần phối hợp thăm khám hiện đại để tránh bỏ sót bệnh nặng trong thai kỳ.
Chứng trạng chủ yếu
Thai nghén vài tháng, mặt mắt, tứ chi phù thũng, hoặc toàn thân phù, ấn vào lõm xuống. Da phù mềm, sắc mặt vàng nhạt hoặc trắng nhợt. Thần mệt, không sức, ăn ít, bụng đầy, đại tiện lỏng, tiểu tiện ít. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn. Mạch hoãn hoạt hoặc nhu hoãn.
Phân tích chứng trạng
Tỳ khí hư yếu, vận hóa thất chức, thủy thấp đình lại bên trong, tràn ra cơ phu, nên mặt mắt, tứ chi hoặc toàn thân phù thũng, ấn vào lõm xuống. Tỳ hư, thanh Dương không thăng, khí huyết không vinh nhuận, nên sắc mặt vàng nhạt hoặc trắng nhợt. Tỳ chủ tứ chi, Tỳ khí hư thì thần mệt, không sức. Tỳ mất vận hóa, nên ăn ít, bụng đầy, đại tiện lỏng. Thủy thấp không hóa, tiểu tiện không lợi, nên tiểu tiện ít. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn, mạch hoãn hoạt hoặc nhu hoãn là dấu hiệu của Tỳ hư thấp thịnh.
Pháp trị
Kiện Tỳ hành thủy, an thai tiêu phù.
Phương thang
Bạch truật tán hoặc Ngũ bì ẩm gia giảm.
Bạch truật, Phục linh bì, Đại phúc bì, Trần bì, Sinh khương bì.
Trong phương, Bạch truật kiện Tỳ táo thấp, giúp Tỳ phục hồi vận hóa. Phục linh bì thấm thấp lợi thủy. Đại phúc bì hành khí, lợi thủy, tiêu trướng. Trần bì lý khí hòa trung, giúp Tỳ vận hóa. Sinh khương bì ôn trung, hành thủy. Các vị hợp dùng có công năng kiện Tỳ hành thủy, tiêu phù mà tương đối hòa hoãn, thích hợp với phù thũng trong thai kỳ do Tỳ hư thấp thịnh.
Gia giảm
Nếu Tỳ hư rõ, thần mệt, ăn ít, có thể thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ để ích khí kiện Tỳ.
Nếu đại tiện lỏng, bụng đầy, có thể thêm Sơn dược, Sa nhân, Ý dĩ nhân để kiện Tỳ, trừ thấp.
Nếu phù rõ, tiểu tiện ít, có thể thêm Xa tiền tử, Trạch tả lượng thích hợp để lợi thủy, nhưng cần dùng thận trọng trong thai kỳ.
Nếu có thai động bất an, lưng đau, có thể thêm Tục đoạn, Tang ký sinh để cố Thận an thai.
Chứng trạng chủ yếu
Thai nghén vài tháng, mặt phù, chi phù, chi dưới nặng hơn, ấn vào lõm sâu. Đầu choáng, tai ù, lưng đau, không sức, chân dưới lạnh ngược, hồi hộp, hơi ngắn, tiểu tiện không lợi, sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn. Mạch trầm trì.
Phân tích chứng trạng
Thận khí bất túc, khí hóa thất thường, thủy thấp đình lại bên trong, tràn ra da cơ, nên mặt phù, chi phù, ấn vào lõm sâu. Thấp có tính đi xuống, nên chi dưới phù nặng hơn. Thận hư, tủy hải bất túc, ngoại phủ mất nuôi dưỡng, nên đầu choáng, tai ù, lưng đau, không sức. Thận Dương bất túc, thủy đạo không được chế ước, khí hóa không đưa nước ra ngoài được, nên tiểu tiện không lợi. Thủy khí lấn lên Tâm Phế, nên hồi hộp, hơi ngắn. Mệnh hỏa hư suy, không ôn ấm hạ nguyên, nên chân dưới lạnh ngược. Sắc mặt tối sạm, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm trì là dấu hiệu của Thận Dương bất túc.
Pháp trị
Bổ Thận ôn Dương, hóa khí hành thủy.
Phương thang
Ngũ linh tán, trích từ Thương Hàn Luận, gia Sơn dược, Thỏ ty tử.
Quế chi, Bạch truật, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Sơn dược, Thỏ ty tử.
Trong phương, Trư linh, Phục linh, Trạch tả lợi thủy thấm thấp. Bạch truật kiện Tỳ vận hóa thủy thấp. Quế chi ôn Dương hóa khí, giúp Bàng quang khí hóa, khiến thủy thấp theo tiểu tiện mà ra. Sơn dược, Thỏ ty tử bổ ích Thận khí, cố Xung an thai. Toàn phương có công năng ôn Dương hóa khí, hành thủy tiêu phù, đồng thời có ý cố thai.
Gia giảm
Nếu đau lưng nhiều, tùy chứng thêm Đỗ trọng, Tục đoạn, Tang ký sinh để cố Thận, mạnh lưng, an thai.
Nếu sợ lạnh, tay chân lạnh rõ, có thể gia Ích trí nhân, Bổ cốt chi lượng thích hợp để ôn Thận trợ Dương.
Nếu hồi hộp, hơi ngắn rõ, cần chú ý thủy khí lấn Tâm Phế, nên theo dõi chặt, phối hợp xử lý hiện đại khi cần.
Chứng trạng chủ yếu
Thai nghén vài tháng, tứ chi phù trướng, bắt đầu từ hai bàn chân, dần dần lan lên cẳng chân. Màu da không đổi, ấn vào vết lõm không rõ. Đầu choáng, trướng đau, ngực sườn đầy trướng, ăn uống giảm. Rêu lưỡi mỏng nhờn. Mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng trạng
Khí cơ uất trệ, thăng giáng mất điều hòa, thanh Dương không thăng, trọc Âm đình lại ở dưới, nên bắt đầu phù từ hai bàn chân, dần lan lên chân. Do khí trệ mà thấp khí đình ở trong, không phải đơn thuần thủy thấp tràn ra, nên màu da không đổi, ấn vào vết lõm không rõ. Thanh Dương không thăng, trọc Âm quấy lên trên, nên đầu choáng, trướng đau. Khí trệ không tuyên, ngang phạm trung thổ, nên ngực sườn đầy trướng, ăn uống giảm. Rêu lưỡi mỏng nhờn, mạch huyền hoạt là dấu hiệu của khí trệ trong thai kỳ kèm thấp.
Pháp trị
Lý khí hành trệ, hóa thấp tiêu phù.
Phương thang
Thiên tiên đằng tán, trích từ Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương.
Thiên tiên đằng, Hương phụ, Trần bì, Cam thảo, Ô dược, Sinh khương, Mộc qua, Tử tô diệp.
Trong phương, Thiên tiên đằng, Hương phụ lý khí hành trệ. Trần bì, Sinh khương ôn trung hành khí. Tô diệp tuyên thông khí trệ ở thượng tiêu. Ô dược khai uất trệ ở hạ tiêu. Mộc qua hành khí trừ thấp, thư cân hoạt lạc. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng lý khí hành trệ, hóa thấp tiêu phù.
Gia giảm
Nếu kiêm Tỳ hư thấp trở, biểu hiện đầu choáng, đầu nặng, ngực bức, bụng trướng, ăn ít, buồn nôn, đại tiện lỏng, tiểu tiện ít, rêu trắng nhờn, mạch huyền hoạt, phép trị nên giải uất hành khí, kiện Tỳ lợi thủy. Có thể dùng Phục linh đạo thủy thang bỏ Tân lang.
Nếu ngực sườn đầy trướng rõ, có thể thêm Tô ngạnh, Chỉ xác lượng nhỏ để lý khí khoan trung.
Nếu ăn uống giảm nhiều, bụng đầy, có thể thêm Sa nhân, Bạch truật để tỉnh Tỳ, hòa trung, giúp khí cơ lưu thông mà không ảnh hưởng đến thai.
Chú ý lâm sàng
Phù thũng trong thai kỳ cần phân biệt phù sinh lý nhẹ và phù bệnh lý. Nếu chỉ phù nhẹ ở bàn chân cuối thai kỳ, nghỉ ngơi thì giảm, không kèm chứng khác, có thể chú trọng nghỉ ngơi và theo dõi. Nếu phù tăng nhanh, phù mặt, tay, bụng, hoặc kèm đau đầu, hoa mắt, tức ngực, khó thở, tiểu ít, huyết áp tăng, protein niệu hoặc thai máy bất thường, cần thăm khám ngay.
Trong Trung y, phù thũng có thể do Tỳ hư, Thận hư, khí trệ, nhưng trong lâm sàng hiện đại cần đặc biệt chú ý các bệnh lý tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, bệnh thận, bệnh tim và các tình trạng nguy hiểm khác. Không nên chỉ xem là “thủy thấp” thông thường mà trì hoãn kiểm tra.
Điều dưỡng
Thai phụ bị phù nên nghỉ ngơi thích hợp, tránh đứng lâu, đi lại quá sức, tránh ăn quá mặn. Người Tỳ hư nên ăn uống điều độ, dễ tiêu, tránh sống lạnh, béo ngọt quá mức. Người Thận hư cần giữ ấm, tránh lạnh ẩm, không lao lực. Người khí trệ nên giữ tinh thần thư thái, tránh uất giận, đồng thời vận động nhẹ nhàng theo khả năng để khí cơ lưu thông.
Nói tóm lại
Phù thũng trong thai kỳ lấy mặt, mắt, tứ chi hoặc toàn thân phù thũng trong thời kỳ mang thai làm đặc điểm chính. Bệnh cơ chủ yếu là Tỳ Thận hư yếu, thủy thấp không hóa; hoặc khí cơ uất trệ, thủy thấp không hành.
Tỳ hư thì kiện Tỳ hành thủy, an thai tiêu phù. Thận hư thì bổ Thận ôn Dương, hóa khí hành thủy. Khí trệ thì lý khí hành trệ, hóa thấp tiêu phù.
Khi điều trị, cần chú ý đặc điểm thai kỳ: lợi thủy nhưng không quá công phạt, lý khí nhưng không phá khí mạnh, ôn Dương nhưng không quá táo nhiệt. Đồng thời phải theo dõi các dấu hiệu nguy hiểm như phù tăng nhanh, đau đầu, hoa mắt, khó thở, tiểu ít, huyết áp tăng để xử lý kịp thời.
Tiết 13
Tâm phiền trong thai kỳ
Trong thời kỳ thai nghén, xuất hiện phiền muộn không yên, uất ức không vui, hoặc phiền táo, dễ giận, gọi là tâm phiền trong thai kỳ, cũng gọi là tử phiền.
Tâm phiền trong thai kỳ không chỉ là một trạng thái khó chịu nhất thời. Trong Trung y, “phiền” thường liên quan đến nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, khiến người bệnh trong lòng bứt rứt, ngồi nằm không yên, tinh thần khó thư thái. Do thai kỳ có đặc điểm Âm huyết hạ tụ để nuôi thai, khí cơ dễ bị trở ngại, đàm thấp dễ đình lại, nên tâm phiền trong thai kỳ thường có liên quan với Âm hư sinh nhiệt, đàm hỏa quấy nhiễu hoặc Can uất hóa hỏa.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của tâm phiền trong thai kỳ là hỏa nhiệt thừa Tâm, làm Tâm thần không yên. Hỏa nhiệt này có sự khác nhau giữa Âm hư hỏa vượng, đàm hỏa nội uẩn và Can kinh uất hỏa.
Cơ thể vốn Âm hư. Sau khi có thai, huyết tụ lại để nuôi thai, Âm huyết càng cảm thấy bất túc, Tâm hỏa thiên cang, nhiệt quấy nhiễu Tâm hung, vì vậy sinh tâm phiền.
Trong thai kỳ, Âm huyết vốn phải hạ chú Xung Nhâm để dưỡng thai. Nếu người mẹ vốn Âm hư, phần Âm huyết dùng để chế ước hỏa càng thiếu, hư hỏa dễ bốc lên quấy nhiễu Tâm thần. Vì vậy, người bệnh thường có tâm phiền, ngồi nằm không yên, miệng khô, họng khô, triều nhiệt về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng.
Người vốn có đàm ẩm đình trệ ở trong ngực. Sau khi có thai, Dương khí thiên thịnh; Dương thịnh thì hóa nhiệt. Đàm và nhiệt giao kết, thượng nhiễu Tâm hung, từ đó gây tâm phiền.
Đàm có tính dính trệ, hỏa có tính bốc lên. Khi đàm hỏa kết lại, không chỉ làm Tâm thần bất an, mà còn trở ngại thanh khiếu và trung tiêu. Vì vậy ngoài phiền muộn, còn có thể thấy đầu choáng, mắt hoa, ngực Vị đầy tức, buồn nôn, nôn ra đàm dãi.
Người vốn tính uất ức. Sau khi có thai, thai thể dần lớn, ảnh hưởng đến sự thăng giáng của khí cơ, khiến khí trệ càng nặng. Uất lâu hóa nhiệt, nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, vì vậy sinh tâm phiền.
Can chủ sơ tiết, ưa điều đạt mà ghét uất. Khi Can khí uất kết, khí cơ không thông, người bệnh dễ phiền táo, dễ giận, ngực sườn đầy đau, hay thở dài. Uất lâu hóa hỏa, Can hỏa theo kinh bốc lên quấy nhiễu Tâm thần và thanh khiếu, nên xuất hiện tâm phiền, đầu choáng, miệng đắng, họng khô.
Biện chứng luận trị
Khi biện chứng, chủ yếu căn cứ vào chứng chính là phiền muộn không yên, đồng thời kết hợp các chứng kèm theo, lưỡi và mạch để phân tích tổng hợp.
Đại pháp điều trị là thanh nhiệt để trừ phiền. Xét theo nguyên nhân mà luận trị, Âm hư thì nên dưỡng Âm thanh nhiệt; đàm nhiệt thì nên địch đàm thanh nhiệt; Can nhiệt thì nên sơ Can thanh nhiệt.
Những vị thuốc trợ hỏa, sinh hỏa, thương Âm, hao dịch đều phải tránh dùng. Tâm phiền trong thai kỳ tuy thuộc có nhiệt, nhưng không nên dùng thuốc khổ hàn mạnh để trực tiếp dập hỏa. Nên tùy chứng chọn các vị thanh nhiệt trừ phiền, ninh Tâm an thần, vừa làm dịu nhiệt, vừa không làm tổn thương Tỳ Vị và thai nguyên.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ, trong lòng phiền muộn, ngồi nằm không yên. Buổi chiều triều nhiệt, lòng bàn tay bàn chân nóng, miệng khô, họng khô, khát nhưng uống không nhiều, tiểu tiện ngắn vàng. Lưỡi đỏ, rêu ít hoặc rêu mỏng vàng mà khô. Mạch tế sác mà hoạt.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn Âm hư, do có thai mà hư càng nặng, Âm hư hỏa vượng, nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, nên tâm phiền không yên, ngồi nằm không yên. Âm hư nội nhiệt, nên buổi chiều triều nhiệt, lòng bàn tay bàn chân nóng. Âm hao, tân dịch tổn thương, nên miệng khô, họng khô, tiểu tiện ngắn vàng. Bên trong không có thực nhiệt mạnh, nên tuy khát nhưng uống không nhiều. Lưỡi đỏ, rêu ít hoặc rêu mỏng vàng mà khô, mạch tế sác mà hoạt là dấu hiệu của Âm hư nội nhiệt.
Pháp trị
Dưỡng Âm thanh nhiệt, trừ phiền.
Phương thang
Nhân sâm mạch đông tán, trích từ Phụ Nhân Bí Khoa.
Nhân sâm, Mạch môn, Phục linh, Hoàng cầm, Tri mẫu, Sinh địa, Chích cam thảo, Trúc nhự.
Trong phương, Nhân sâm ích khí sinh tân. Mạch môn dưỡng Âm sinh tân, thanh nhiệt trừ phiền. Sinh địa tư Thận ích Âm để giúp chế ước Tâm hỏa. Tri mẫu tả Thận hỏa, làm giáng Tâm hỏa, giải nhiệt trừ phiền. Hoàng cầm, Trúc nhự thanh nhiệt trừ phiền. Phục linh, Cam thảo an thần, điều trung. Toàn phương có công năng dưỡng Âm thanh nhiệt, ninh Tâm trừ phiền.
Gia giảm
Nếu tâm kinh, dễ sợ, bất an rõ, tùy chứng thêm Long xỉ, Thạch quyết minh để an thần định chí.
Nếu Can Dương thiên cang, biểu hiện đầu choáng, đầu trướng đau, tùy chứng thêm Câu đằng, Huyền sâm, Cát căn để bình Can tức phong.
Nếu miệng khô, họng khô rõ, có thể gia Thạch hộc, Ngọc trúc để dưỡng Âm sinh tân.
Nếu mất ngủ nhiều, có thể thêm Toan táo nhân, Bá tử nhân để dưỡng Tâm an thần.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ phiền muộn không yên, nặng thì hồi hộp, dễ sợ. Đầu choáng, mắt hoa, ngực Vị đầy tức, buồn nôn, nôn ra đàm dãi. Rêu lưỡi vàng mà nhờn. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Vốn có đàm ẩm đình trệ ở trong ngực, tích lâu hóa nhiệt. Đàm hỏa thượng nhiễu Tâm hung, Tâm thần không yên, nên trong lòng phiền muộn không yên, thậm chí hồi hộp, dễ sợ. Đàm hỏa quấy nhiễu thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa. Đàm thấp nội uẩn, cơ chế thăng thanh giáng trọc mất chức năng, nên ngực Vị đầy tức, buồn nôn, nôn ra đàm dãi. Rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác là dấu hiệu của đàm hỏa nội uẩn.
Pháp trị
Thanh nhiệt địch đàm, trừ phiền.
Phương thang
Trúc lịch thang, trích từ Thiên Kim Yếu Phương.
Trúc lịch, Mạch môn, Hoàng cầm, Phục linh, Phòng phong.
Trong phương, Trúc lịch thanh nhiệt, địch đàm để trừ phiền. Mạch môn dưỡng Âm nhuận Phế, thanh nhiệt trừ phiền. Phục linh kiện Tỳ, ninh Tâm. Hoàng cầm tả hỏa trừ phiền. Phòng phong làm tá, có tác dụng khu phong thắng thấp. Toàn phương có công năng thanh nhiệt địch đàm, trừ phiền.
Gia giảm
Nếu đàm vàng đặc, bỏ Phòng phong, tùy chứng thêm Chiết bối mẫu, Tiền hồ, Qua lâu để thanh nhiệt hóa đàm.
Nếu buồn nôn nhiều, tùy chứng thêm Bán hạ, Tỳ bà diệp, Hoắc hương để hòa Vị, giáng nghịch, chỉ nôn.
Nếu ngực Vị đầy tức rõ, có thể thêm Trần bì, Trúc nhự để lý khí hóa đàm, thanh nhiệt hòa Vị.
Nếu tâm phiền kèm mất ngủ, có thể phối Phục thần, Toan táo nhân để ninh Tâm an thần.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thai kỳ phiền muộn không yên, hoặc phiền táo, dễ giận. Đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô, hai bên sườn trướng đau, thường muốn thở dài. Lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng. Mạch huyền sác mà hoạt.
Phân tích chứng trạng
Can uất hóa nhiệt, nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, nên tâm phiền không yên. Giận là chí của Can; Can nhiệt thì phiền táo, dễ giận. Can nhiệt thượng phạm thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa. Can và Đởm quan hệ biểu lý, Can hỏa tích bên trong khiến Đởm nhiệt, dịch Đởm tiết không điều, nên miệng đắng, họng khô. Can mạch phân bố ở sườn, xuyên qua cơ hoành; Can uất làm kinh mạch không lợi, khí cơ trở trệ, nên hai bên sườn trướng đau, tinh thần uất ức. Khí uất không được điều đạt, nên thường muốn thở dài để tự sơ giải. Lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch huyền sác mà hoạt là dấu hiệu của Can kinh uất hỏa.
Pháp trị
Sơ Can thanh nhiệt, trừ phiền.
Phương thang
Đan chi Tiêu dao tán bỏ Đương quy, gia Hoàng cầm, Trúc nhự.
Đan chi Tiêu dao tán lấy Sài hồ sơ Can giải uất; Bạch thược dưỡng huyết nhu Can; Bạch truật, Phục linh kiện Tỳ hòa trung; Đan bì, Chi tử thanh tiết uất nhiệt; Cam thảo điều hòa. Bỏ Đương quy để tránh trợ huyết động huyết khi nhiệt rõ trong thai kỳ. Gia Hoàng cầm để thanh nhiệt an thai; gia Trúc nhự để thanh nhiệt trừ phiền, hòa Vị giáng nghịch. Toàn phương có ý nghĩa sơ Can, thanh nhiệt, trừ phiền mà vẫn giữ sự hòa hoãn trong thai kỳ.
Gia giảm
Nếu đầu choáng, mắt hoa nhiều, tùy chứng thêm Câu đằng, Cúc hoa, Hạ khô thảo để thanh nhiệt bình Can.
Nếu ngực sườn trướng đau, tùy chứng thêm Xuyên luyện tử, Uất kim để sơ Can giải uất, lý khí chỉ thống.
Nếu miệng đắng, họng khô rõ, có thể thêm Long đởm thảo lượng nhỏ hoặc Hoàng liên lượng nhỏ tùy chứng, nhưng không nên dùng khổ hàn quá mức.
Nếu tâm phiền kèm mất ngủ, có thể thêm Dạ giao đằng, Toan táo nhân để dưỡng Tâm, an thần.
Chú ý lâm sàng
Tâm phiền trong thai kỳ tuy thường thuộc nhiệt, nhưng nhiệt có hư có thực, có đàm có uất. Không nên thấy phiền là dùng thuốc thanh hỏa mạnh. Nếu Âm hư mà dùng khổ hàn quá mức, dễ làm tổn thương Tỳ Vị và tân dịch. Nếu đàm hỏa mà chỉ dưỡng Âm, đàm trọc có thể càng trệ. Nếu Can uất mà không sơ đạt khí cơ, chỉ thanh nhiệt thì phiền có thể khó hết.
Trong thai kỳ, tâm phiền cũng cần phân biệt với các tình trạng căng thẳng, mất ngủ, rối loạn cảm xúc, bệnh lý huyết áp thai kỳ hoặc các chứng có nguy cơ tiến triển nặng. Nếu tâm phiền kèm đau đầu dữ dội, hoa mắt, phù nặng, huyết áp tăng, co giật, hoặc tinh thần bất thường rõ, cần thăm khám kịp thời.
Điều dưỡng
Người Âm hư hỏa vượng nên nghỉ ngơi đầy đủ, tránh thức khuya, tránh cay nóng, rượu, cà phê và các thức kích thích. Ăn uống nên thanh đạm, dễ tiêu, có thể dùng các món dưỡng Âm sinh tân thích hợp.
Người đàm hỏa nội uẩn nên tránh thức ăn béo ngọt, chiên rán, quá nhiều sữa béo hoặc đồ nặng bụng. Cần giữ Tỳ Vị thông hòa, ăn vừa đủ, không để đàm thấp tích thêm.
Người Can kinh uất hỏa nên giữ tinh thần thư thái, tránh uất giận kéo dài. Có thể đi bộ nhẹ, hít thở chậm, nghỉ ngơi điều độ, giúp khí cơ điều đạt. Điều dưỡng tình chí trong thai kỳ không phải là ép mình không được buồn giận, mà là giữ cho khí cơ có đường thư giải, không bị uất kết quá lâu.
Nói tóm lại
Tâm phiền trong thai kỳ là chứng phiền muộn không yên, uất ức không vui, hoặc phiền táo, dễ giận trong thời kỳ mang thai. Bệnh cơ chủ yếu là hỏa nhiệt thừa Tâm, làm Tâm thần bất an.
Âm hư hỏa vượng thì dưỡng Âm thanh nhiệt, trừ phiền. Đàm hỏa nội uẩn thì thanh nhiệt địch đàm, trừ phiền. Can kinh uất hỏa thì sơ Can thanh nhiệt, trừ phiền.
Điều trị cần thanh nhiệt nhưng không nên khổ hàn quá mức; an thần nhưng không nên nê trệ; sơ Can nhưng không được phá khí mạnh. Khi Âm được dưỡng, đàm được hóa, Can khí được thư, Tâm thần tự có chỗ yên, thai kỳ cũng nhờ đó được điều hòa hơn.
Tiết 14
Chóng mặt trong thai kỳ
Trong giai đoạn giữa và cuối thai kỳ, xuất hiện đầu choáng, mắt hoa, hoặc kèm mặt phù, tay chân phù, nặng hơn thì choáng váng muốn ngất, gọi là chóng mặt trong thai kỳ. Bệnh này cũng gọi là tử huyễn, tử vựng.
Bệnh này gần với hội chứng tăng huyết áp trong thai kỳ trong y học hiện đại. Thể nhẹ có thể tương tự tăng huyết áp thai kỳ; thể nặng có thể gần với tiền sản giật. Ngoài ra, thai phụ vốn có tăng huyết áp nguyên phát, trong thai kỳ phát sinh chóng mặt cũng có thể quy vào phạm vi này để tham khảo biện chứng.
Chóng mặt trong thai kỳ tương đối thường gặp, nhưng thuộc nhóm bệnh cần coi trọng trong sản khoa. Nếu điều trị kịp thời và đúng cách, tiên lượng phần nhiều tốt. Nếu xử lý không đúng, bệnh tình nặng thêm, có thể phát triển thành chứng giản trong thai kỳ.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của chóng mặt trong thai kỳ là Âm hư Dương cang, Dương khí bốc lên quấy nhiễu thanh khiếu. Ngoài ra, bệnh cũng có thể do khí uất đàm trệ, thanh Dương không thăng; hoặc khí huyết hư yếu, thanh khiếu mất sự nuôi dưỡng mà phát sinh chóng mặt.
Các thể thường gặp gồm Can Thận Âm hư, khí uất đàm trệ và khí huyết hư yếu.
Cơ thể vốn Âm hư, Can Dương thiên cang. Sau khi có thai, huyết tụ lại để nuôi thai, Âm huyết càng cảm thấy bất túc. Âm không tiềm được Dương, Can Dương càng cang thịnh, bốc lên quấy nhiễu thanh khiếu, vì vậy phát sinh chóng mặt.
Trong thai kỳ, Âm huyết hạ tụ Xung Nhâm để dưỡng thai là sinh lý bình thường. Nhưng nếu gốc Âm của Can Thận vốn không đủ, phần Âm huyết hạ tụ này làm cho sự mất cân bằng Âm Dương càng rõ. Âm hư thì Dương không có nơi nương, Can Dương dễ bốc lên trên, gây đầu choáng, mắt hoa, nhìn mờ, tâm phiền, thậm chí choáng ngất thoáng qua.
Người vốn tình chí uất ức, hoặc sau khi có thai thai thể dần lớn làm khí cơ bị trở ngại. Khí uất thì tân dịch không vận hóa, đàm thấp dễ đình lại. Đàm trệ ở trung tiêu, thanh Dương không thăng, trọc Âm không giáng, vì vậy phát sinh chóng mặt.
Đàm trệ không chỉ gây đầu nặng, mắt hoa, mà còn có thể làm ngực tức, buồn nôn, nhiều đàm, ăn uống giảm. Nếu khí uất hóa nhiệt, hoặc đàm uất hóa hỏa, thì chóng mặt có thể kèm tâm phiền, miệng đắng, rêu vàng nhờn.
Cơ thể vốn khí huyết đều hư. Sau khi có thai, thai nhi nhờ khí huyết của mẹ để nuôi dưỡng, vì vậy khí huyết càng hư thêm. Khí hư thì thanh khí không thăng; huyết hư thì tủy hải và thanh khiếu mất sự nuôi dưỡng, do đó phát sinh chóng mặt.
Thể này phần nhiều thuộc hư chứng. Chóng mặt thường không dữ dội như Can Dương thượng cang, mà thiên về đầu choáng, mắt hoa, mệt mỏi, hồi hộp, hơi ngắn, sắc mặt trắng nhợt hoặc vàng úa. Thai phụ càng mệt, ăn kém, mất ngủ, bệnh càng dễ rõ.
Biện chứng luận trị
Khi biện chứng cần căn cứ vào đặc điểm và mức độ chóng mặt, các chứng kèm theo, lưỡi và mạch để phân biệt Can Thận Âm hư, khí uất đàm trệ, khí huyết hư yếu.
Đồng thời cần chú ý theo dõi phù thũng, protein niệu và huyết áp để đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh. Chóng mặt nặng trong thai kỳ thường có thể là dấu hiệu báo trước của chứng giản trong thai kỳ. Vì vậy, nếu có đau đầu dữ dội, hoa mắt nhiều, phù nặng, huyết áp tăng, tiểu ít, buồn nôn, tức ngực, hoặc có biểu hiện gần ngất, cần thăm khám và xử lý kịp thời.
Đại pháp điều trị lấy bình Can tiềm Dương làm chủ. Tùy từng thể mà phối hợp tư Âm tiềm giáng, lý khí hóa đàm, hoặc ích khí dưỡng huyết. Cần tránh dùng các vị cay tán, ôn táo, vì dễ làm tổn thương Âm thêm và trợ phong hỏa.
Chứng trạng chủ yếu
Giai đoạn giữa hoặc cuối thai kỳ, đầu choáng, mắt hoa, nhìn vật mờ. Trong lòng phiền muộn, gò má đỏ, môi đỏ, miệng khô, họng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng. Nặng hơn có thể đột nhiên choáng ngã, nhưng lát sau tỉnh lại. Lưỡi đỏ, rêu ít. Mạch huyền tế sác.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn Âm hư, Can Dương thượng nhiễu, nên đầu choáng, mắt hoa, nhìn vật mờ. Âm hư sinh nội nhiệt, nên gò má đỏ, môi đỏ, miệng khô, họng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng. Nhiệt quấy nhiễu thần minh, nên trong lòng phiền muộn, nặng hơn có thể đột nhiên choáng ngã, lát sau tỉnh lại. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch huyền tế sác là dấu hiệu của Can Thận Âm hư, Can Dương thiên cang.
Pháp trị
Tư Âm bổ Thận, bình Can tiềm Dương.
Phương thang
Kỷ cúc Địa hoàng hoàn gia Quy bản, Mẫu lệ, Thạch quyết minh.
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Câu kỷ tử, Cúc hoa, Quy bản, Mẫu lệ, Thạch quyết minh.
Trong phương, Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược tư bổ Can Thận, bồi gốc Âm tinh. Phục linh, Trạch tả, Đan bì giúp thanh tiết hư nhiệt, khiến thuốc bổ mà không quá nê trệ. Câu kỷ tử, Cúc hoa dưỡng Can, minh mục, hỗ trợ giảm đầu choáng, mắt hoa. Quy bản tư Âm tiềm Dương. Mẫu lệ, Thạch quyết minh bình Can tiềm Dương. Toàn phương có công năng tư Âm bổ Thận, bình Can tiềm Dương, làm Dương khí hạ tiềm thì chóng mặt giảm.
Gia giảm
Nếu nhiệt tượng rõ, tùy chứng thêm Tri mẫu, Hoàng bá để tư Âm tả hỏa.
Nếu miệng đắng, tâm phiền, tùy chứng thêm Hoàng cầm, Trúc nhự để thanh nhiệt trừ phiền.
Nếu chóng mặt nhiều, có lúc choáng ngã, tùy chứng thêm Câu đằng, Thiên ma để trấn Can tức phong.
Nếu mất ngủ, tâm phiền rõ, có thể phối Toan táo nhân, Dạ giao đằng để dưỡng Tâm an thần.
Chứng trạng chủ yếu
Giai đoạn giữa hoặc cuối thai kỳ, đầu choáng, mắt hoa, đầu nặng như bị bọc. Ngực tức, buồn nôn, nôn đàm dãi, ăn uống giảm, trong lòng phiền muộn. Hoặc kèm mặt phù, chi phù. Lưỡi nhạt hoặc đỏ, rêu trắng nhờn hoặc vàng nhờn. Mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng trạng
Khí cơ uất trệ, đàm thấp đình lại bên trong. Đàm trọc ngăn trở trung tiêu, thanh Dương không thăng, trọc Âm không giáng, nên đầu choáng, mắt hoa, đầu nặng như bị bọc. Đàm trệ ở ngực Vị, khí cơ không thông, nên ngực tức, buồn nôn, nôn đàm dãi, ăn uống giảm. Khí uất không thư, hoặc đàm uất hóa nhiệt, nên trong lòng phiền muộn. Nếu đàm thấp tràn ra cơ phu, có thể thấy mặt phù, chi phù. Rêu trắng nhờn hoặc vàng nhờn, mạch huyền hoạt là dấu hiệu của khí uất đàm trệ; nếu lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn thì có khuynh hướng đàm nhiệt.
Pháp trị
Lý khí hóa đàm, bình Can tiềm Dương.
Phương thang
Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia Hoàng cầm, Hoàng liên.
Bán hạ, Bạch truật, Thiên ma, Phục linh, Quất hồng, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo, Mạn kinh tử, Hoàng cầm, Hoàng liên.
Trong phương, Bán hạ, Quất hồng hóa đàm, lý khí, giáng nghịch. Bạch truật, Phục linh kiện Tỳ, táo thấp, giúp đàm thấp không sinh thêm. Thiên ma bình Can tức phong, giảm đầu choáng. Mạn kinh tử sơ tán phong nhiệt ở đầu mắt, hỗ trợ thanh khiếu. Hoàng cầm, Hoàng liên thanh nhiệt giáng hỏa, dùng khi đàm uất hóa nhiệt hoặc rêu vàng nhờn. Sinh khương, Đại táo, Cam thảo điều hòa Tỳ Vị. Toàn phương có công năng hóa đàm lý khí, kiện Tỳ táo thấp, thanh nhiệt bình Can.
Gia giảm
Nếu đàm thấp thiên hàn, rêu trắng nhờn, miệng nhạt, không khát, có thể giảm Hoàng cầm, Hoàng liên, thêm Hoắc hương, Sa nhân để hóa thấp hòa trung.
Nếu đàm nhiệt rõ, miệng đắng, tâm phiền, rêu vàng nhờn, có thể thêm Trúc nhự, Qua lâu để thanh nhiệt hóa đàm.
Nếu phù rõ, tiểu tiện ít, có thể tùy chứng thêm Trạch tả, Xa tiền tử lượng thích hợp để lợi thủy hóa thấp, nhưng cần dùng thận trọng trong thai kỳ.
Nếu ngực sườn đầy trướng, tình chí uất ức, có thể thêm Tô ngạnh, Uất kim để sơ Can lý khí.
Chứng trạng chủ yếu
Giai đoạn giữa hoặc cuối thai kỳ, đầu choáng, mắt hoa. Hồi hộp, hay quên, ngủ ít, nhiều mộng. Thần mệt, không sức, hơi ngắn, lười nói, sắc mặt trắng nhợt hoặc vàng úa. Lưỡi nhạt. Mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Khí huyết bất túc, thanh khí không thăng, tủy hải mất sự nuôi dưỡng, nên sau khi có thai đầu choáng, mắt hoa. Huyết hư, Tâm thần mất nuôi dưỡng, nên hồi hộp, hay quên, ngủ ít, nhiều mộng. Khí hư, trung Dương không phấn chấn, nên thần mệt, không sức, hơi ngắn, lười nói. Khí huyết bất túc, không thể sung dưỡng và vinh nhuận lên mặt, nên sắc mặt trắng nhợt hoặc vàng úa. Lưỡi nhạt, mạch tế nhược là dấu hiệu của khí huyết bất túc.
Pháp trị
Ích khí dưỡng huyết.
Phương thang
Bát trân thang.
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Đương quy, Thục địa, Bạch thược, Xuyên khung.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo ích khí kiện Tỳ, giúp nguồn sinh hóa khí huyết được đầy. Đương quy, Thục địa, Bạch thược, Xuyên khung bổ huyết, dưỡng huyết, điều huyết. Toàn phương khí huyết song bổ, giúp thanh khí có sức thăng, huyết có thể nuôi thanh khiếu, nhờ đó đầu choáng, mắt hoa dần giảm.
Gia giảm
Nếu đầu choáng, mắt hoa nhiều, tùy chứng thêm Cúc hoa, Câu kỷ tử, Mạn kinh tử để dưỡng huyết bình Can, làm sáng mắt.
Nếu hồi hộp, hay quên, ngủ ít, nhiều mộng, tùy chứng thêm Viễn chí, Toan táo nhân, Long nhãn nhục để dưỡng Tâm an thần.
Nếu ăn ít, bụng đầy, Tỳ Vị yếu, có thể thêm Sơn dược, Sa nhân, Trần bì để kiện Tỳ hòa trung, giúp thuốc bổ không trở trệ.
Nếu thai phụ đồng thời có dấu hiệu thai động bất an, đau lưng, bụng trĩu, có thể phối Tục đoạn, Tang ký sinh để cố Thận an thai.
Chú ý lâm sàng
Chóng mặt trong thai kỳ không nên chỉ xem là triệu chứng nhẹ. Nếu chỉ đầu choáng thoáng qua do mệt, ăn kém, thiếu ngủ, sau nghỉ ngơi cải thiện, có thể điều dưỡng và theo dõi. Nhưng nếu chóng mặt xuất hiện ở giữa hoặc cuối thai kỳ, kèm phù mặt, phù tay chân, đau đầu, nhìn mờ, tức ngực, buồn nôn, huyết áp tăng, protein niệu, tiểu ít, hoặc có cảm giác sắp ngất, cần thăm khám kịp thời.
Thể nặng của chóng mặt trong thai kỳ có thể là dấu hiệu báo trước chứng giản trong thai kỳ. Vì vậy, ngoài biện chứng Trung y, cần phối hợp theo dõi huyết áp, nước tiểu, phù thũng, tình trạng thai và các chỉ số liên quan. Không nên chỉ dùng thuốc an thần hoặc thuốc bổ mà bỏ qua nguy cơ sản khoa.
Điều dưỡng
Người Can Thận Âm hư nên nghỉ ngơi đầy đủ, tránh thức khuya, tránh nóng giận, tránh thức ăn cay nóng làm hao Âm trợ hỏa. Có thể dùng món ăn thanh dưỡng, dễ tiêu, giúp dưỡng Âm sinh tân.
Người khí uất đàm trệ nên ăn uống thanh đạm, tránh béo ngọt, chiên rán, đồ quá nặng bụng. Cần giữ khí cơ thư thái, tránh uất ức kéo dài. Vận động nhẹ nhàng theo khả năng có thể giúp khí cơ lưu thông và đàm thấp dễ hóa hơn.
Người khí huyết hư yếu nên chú trọng Tỳ Vị, ăn uống điều độ, đủ chất, dễ tiêu. Không nên lao lực, thức khuya, lo nghĩ nhiều. Khi khí huyết được bồi dưỡng, thanh khiếu được nuôi, chóng mặt sẽ có nền tảng để giảm.
Nói tóm lại
Chóng mặt trong thai kỳ là chứng ở giữa hoặc cuối thai kỳ xuất hiện đầu choáng, mắt hoa, có thể kèm phù mặt, phù chi, nặng thì choáng váng muốn ngất. Bệnh cơ chủ yếu là Âm hư Dương cang, Dương khí thượng nhiễu thanh khiếu; hoặc khí uất đàm trệ, thanh Dương không thăng; hoặc khí huyết hư yếu, thanh khiếu mất nuôi dưỡng.
Can Thận Âm hư thì tư Âm bổ Thận, bình Can tiềm Dương. Khí uất đàm trệ thì lý khí hóa đàm, bình Can tiềm Dương. Khí huyết hư yếu thì ích khí dưỡng huyết.
Trong điều trị cần bình Can mà không quá công tán, hóa đàm mà không làm tổn thai, bổ khí huyết mà không nê trệ. Đồng thời phải theo dõi phù, huyết áp, protein niệu và dấu hiệu thần kinh. Nếu chóng mặt tăng nặng, nhìn mờ, đau đầu, phù nhiều, huyết áp tăng, cần xử lý kịp thời để phòng tiến triển thành chứng giản trong thai kỳ.
Tiết 15
Chứng giản trong thai kỳ
Ở cuối thai kỳ, hoặc khi sắp sinh và sau khi mới sinh, nếu xuất hiện chóng mặt, đau đầu, đột nhiên hôn mê không biết người, hai mắt trợn ngược, răng cắn chặt, tứ chi co giật, lưng eo ưỡn ngược, một lát có thể tỉnh, rồi lại tái phát; nặng hơn thì hôn mê không tỉnh, gọi là chứng giản trong thai kỳ, cũng gọi là tử thống.
Bệnh này tương đương với sản giật trong hội chứng tăng huyết áp thai kỳ nặng của y học hiện đại. Sản giật là bệnh cấp trọng trong sản khoa. Việc khám thai định kỳ, theo dõi huyết áp, phù, nước tiểu và các triệu chứng báo trước có ý nghĩa rất quan trọng trong phòng ngừa bệnh phát sinh và tiến triển.
Khi chứng giản đã phát, bệnh tình có thể đe dọa nghiêm trọng tính mạng của mẹ và thai. Vì vậy, phần này tuy trình bày theo biện chứng Trung y, nhưng trên lâm sàng phải được xử lý như một cấp cứu sản khoa, cần phối hợp phương pháp hiện đại để cứu chữa.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của chứng giản trong thai kỳ là Can Dương thượng cang, Can phong nội động; hoặc đàm hỏa thượng nhiễu, che lấp thanh khiếu.
Các thể thường gặp gồm Can phong nội động và đàm hỏa thượng nhiễu.
Cơ thể vốn Âm hư. Sau khi có thai, tinh huyết phải nuôi thai, Thận tinh càng hao, Can huyết càng hư. Huyết không vinh nhuận cân mạch, Can phong nội động. Tinh không nuôi thần, Tâm hỏa thiên cang. Phong và hỏa cùng kích động, thần chí bị che mờ, từ đó phát thành sản giật.
Trong thai kỳ, Âm huyết hạ tụ Xung Nhâm để nuôi thai. Nếu người mẹ vốn Can Thận Âm hư, Âm không đủ để tiềm Dương, Can Dương bốc lên, lâu ngày hóa phong. Khi phong hỏa cùng động, thanh khiếu bị quấy nhiễu, cân mạch co rút, sẽ xuất hiện đau đầu, chóng mặt, hôn mê, co giật, răng cắn chặt, lưng eo ưỡn ngược.
Thai phụ vốn Âm hư. Sau khi có thai, Âm huyết hạ tụ để nuôi thai, Âm hư càng nặng. Âm hư nhiệt thịnh, nhiệt đốt tân dịch, luyện dịch thành đàm. Đàm nhiệt kết lại với nhau, hoặc Can Dương thiên cang, khí uất đàm trệ, uất lâu hóa hỏa, khiến đàm hỏa giao kết; hoặc thai phụ Tỳ hư thấp thịnh, thấp tụ thành đàm, uất lâu hóa nhiệt. Những tình huống này đều có thể làm đàm hỏa bốc lên che lấp thanh khiếu, thần chí hôn mê, phát thành chứng giản.
Thể này lấy đàm và hỏa làm trọng. Đàm che lấp khiếu, hỏa quấy thần minh, phong động gây co giật. Vì vậy ngoài hôn mê, co giật, thường thấy ngực tức, miệng chảy đờm dãi, hơi thở thô, tiếng đàm khò khè, mặt và chi phù.
Biện chứng luận trị
Biện chứng của bệnh này cần đặc biệt chú ý mức độ và tần suất của hôn mê, co giật. Cần kết hợp các chứng kèm theo, lưỡi và mạch để xác định thể bệnh và phép trị. Nói chung, hôn mê càng sâu, cơn phát càng dày thì bệnh tình càng nặng.
Đại pháp điều trị lấy thanh Can tức phong, an thần định kinh làm chủ. Do bệnh tình nguy trọng, cần cứu chữa bằng phối hợp Đông Tây y. Không nên chỉ dùng thuốc uống hoặc chờ thuốc tác dụng trong khi người bệnh đang co giật, hôn mê, huyết áp cao hoặc có dấu hiệu nguy hiểm cho mẹ và thai.
Chứng trạng chủ yếu
Ở cuối thai kỳ, hoặc lúc sắp sinh và sau khi mới sinh, đau đầu, chóng mặt, đột nhiên hôn mê ngã xuống không biết người. Hai mắt trợn ngược, răng cắn chặt, tứ chi co giật, lưng eo ưỡn ngược. Cơn co giật lúc phát lúc ngừng, hoặc lâu không tỉnh. Lòng bàn tay bàn chân nóng, gò má đỏ, hơi thở thô. Lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, không có rêu hoặc rêu bong tróc loang lổ. Mạch huyền tế mà sác, hoặc huyền cứng có lực.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn Can Thận Âm hư. Sau khi có thai, huyết tụ lại để nuôi thai, Âm huyết càng hư, Can Dương càng cang thịnh, nên đau đầu, chóng mặt. Can phong nội động, cân mạch co rút, nên hai mắt trợn ngược, răng cắn chặt, tứ chi co giật, lưng eo ưỡn ngược, hơi thở thô. Phong hỏa cùng kích động, quấy nhiễu thần minh, nên hôn mê ngã xuống không biết người. Âm hư nội nhiệt, nên lòng bàn tay bàn chân nóng, gò má đỏ. Lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, không có rêu hoặc rêu bong tróc loang lổ, mạch huyền tế mà sác hoặc huyền cứng có lực là dấu hiệu của Âm hư Dương cang, Can phong nội động.
Pháp trị
Dưỡng Âm thanh nhiệt, bình Can tức phong.
Phương thang
Linh giác câu đằng thang, trích từ Trùng Đính Thông Tục Thương Hàn Luận.
Linh dương giác, Tang diệp, Xuyên bối mẫu, Sinh địa, Câu đằng, Cúc hoa, Phục thần, Bạch thược, Sinh cam thảo, Tiên trúc nhự.
Trong phương, Linh dương giác, Câu đằng bình Can thanh nhiệt, tức phong trấn kinh. Tang diệp, Cúc hoa thanh Can, minh mục. Trúc nhự, Bối mẫu thanh nhiệt hóa đàm. Sinh địa, Bạch thược dưỡng Âm thanh nhiệt. Phục thần ninh Tâm an thần. Cam thảo hòa trung, hoãn cấp. Toàn phương có công năng dưỡng Âm thanh nhiệt, bình Can tức phong, chỉ kinh.
Gia giảm
Nếu sốt cao, thần chí hôn mê sâu, cần phối hợp phép thanh nhiệt khai khiếu theo tình trạng cấp cứu.
Nếu co giật liên tục, có thể phối thêm Thiên ma, Toàn yết, Cương tàm tùy chứng để tức phong định kinh, nhưng phải dùng rất thận trọng trong thai kỳ và trong điều kiện theo dõi.
Nếu Âm hư rõ, miệng khô, lưỡi đỏ ít rêu, có thể gia Huyền sâm, Mạch môn để dưỡng Âm sinh tân.
Nếu huyết áp cao, đau đầu dữ dội, mắt hoa, cần phối hợp xử lý hiện đại ngay, không chỉ dựa vào phương thang.
Chứng trạng chủ yếu
Ở cuối thai kỳ, hoặc lúc sắp sinh và sau khi mới sinh, đau đầu, ngực tức, đột nhiên hôn mê ngã xuống không biết người. Hai mắt trợn ngược, răng cắn chặt, miệng chảy đờm dãi, mặt phù, chi phù, hơi thở thô, trong họng có tiếng đàm, tứ chi co giật, lưng eo ưỡn ngược, cơn phát lúc có lúc ngừng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch huyền hoạt mà sác.
Phân tích chứng trạng
Đàm hỏa uẩn ở trong, nên ngực tức. Đàm hỏa bốc lên che lấp thanh khiếu, nên đau đầu, hôn mê ngã xuống không biết người. Can Dương thiên cang, hỏa thịnh, phong động, nên hai mắt trợn ngược, răng cắn chặt, tứ chi co giật, lưng eo ưỡn ngược. Đàm thấp nội thịnh, nên miệng chảy đờm dãi, hơi thở thô, trong họng có tiếng đàm. Thấp trọc tràn ra da cơ, nên mặt phù, chi phù. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch huyền hoạt mà sác là dấu hiệu của đàm hỏa nội thịnh.
Pháp trị
Thanh nhiệt khai khiếu, khoát đàm tức phong.
Phương thang
Bán hạ bạch truật thiên ma thang, uống kèm An cung ngưu hoàng hoàn, trích từ Ôn Bệnh Điều Biện.
Bán hạ bạch truật thiên ma thang
Bán hạ, Bạch truật, Thiên ma, Phục linh, Trần bì, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
An cung ngưu hoàng hoàn
Ngưu hoàng, Uất kim, Thủy ngưu giác, Hoàng liên, Hoàng cầm, Sơn chi, Chu sa, Hùng hoàng, Băng phiến, Xạ hương, Trân châu, áo Kim bạc.
Trong phương, Bán hạ, Trần bì hóa đàm, lý khí, giáng nghịch. Bạch truật, Phục linh kiện Tỳ, táo thấp, giúp nguồn sinh đàm giảm bớt. Thiên ma bình Can tức phong. Sinh khương, Đại táo, Cam thảo điều hòa Tỳ Vị. An cung ngưu hoàng hoàn có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khai khiếu tỉnh thần, trấn kinh an thần. Hai phương phối hợp nhằm thanh nhiệt khai khiếu, khoát đàm tức phong, dùng cho chứng đàm hỏa thượng nhiễu, thần chí hôn mê, co giật.
Gia giảm
Nếu đàm nhiều, tiếng đàm trong họng rõ, có thể phối Trúc nhự, Qua lâu, Đởm nam tinh tùy chứng để thanh nhiệt hóa đàm.
Nếu ngực tức, khí trệ rõ, có thể phối Chỉ thực, Uất kim để hành khí, khai uất.
Nếu phù thũng nhiều, tiểu ít, cần theo dõi chặt chức năng thận, huyết áp và tình trạng thai, phối hợp xử lý hiện đại.
Nếu hôn mê sâu, co giật lặp lại, phải cấp cứu ngay, không chờ tác dụng chậm của thuốc sắc.
Xử lý cấp cứu và phối hợp hiện đại
Chứng giản trong thai kỳ là cấp cứu sản khoa. Khi xuất hiện hôn mê, co giật, răng cắn chặt, mắt trợn ngược, thở thô, hoặc huyết áp tăng cao, cần xử lý ngay trong điều kiện y tế thích hợp.
Cần bảo vệ đường thở, phòng cắn lưỡi, phòng sặc, cho thở oxy khi cần, theo dõi huyết áp, mạch, nhịp thở, nước tiểu, tri giác, tình trạng thai. Đồng thời cần kiểm soát co giật, kiểm soát huyết áp, điều chỉnh rối loạn nước điện giải, đánh giá chức năng gan thận và rối loạn đông máu. Thời điểm kết thúc thai kỳ cần do chuyên khoa sản quyết định dựa vào tình trạng mẹ và thai.
Trong phối hợp Trung y, có thể dùng phép thanh Can tức phong, khai khiếu, hóa đàm, an thần tùy chứng. Nhưng đây là hỗ trợ trong khuôn khổ cấp cứu, không thay thế các biện pháp cấp cứu hiện đại.
Chú ý lâm sàng
Chứng giản thường không đột ngột xuất hiện hoàn toàn không có dấu hiệu báo trước. Trước đó có thể đã có chóng mặt, đau đầu, mắt hoa, phù thũng, tâm phiền, tiểu ít, huyết áp tăng. Vì vậy, khi thai phụ ở cuối thai kỳ có các dấu hiệu này, cần coi trọng và thăm khám sớm.
Nếu đã xuất hiện co giật hoặc hôn mê, bệnh đã vào giai đoạn nguy hiểm. Không nên xoa bóp, cạy miệng thô bạo, cho uống thuốc khi đang hôn mê, hoặc chờ tự tỉnh rồi mới xử lý. Cần đưa đến cơ sở y tế ngay.
Điều dưỡng và phòng ngừa
Việc phòng ngừa chứng giản trong thai kỳ trọng ở khám thai định kỳ, theo dõi huyết áp, phù, nước tiểu, cân nặng và các triệu chứng như đau đầu, hoa mắt, tức ngực, buồn nôn, tiểu ít. Người đã có chóng mặt trong thai kỳ, phù thũng nhiều, hoặc huyết áp bất thường cần được theo dõi chặt hơn.
Trong sinh hoạt, thai phụ nên nghỉ ngơi đầy đủ, tránh lao lực, tránh căng thẳng kéo dài, ăn uống điều độ, không ăn quá mặn, không dùng thuốc tùy tiện. Người có khuynh hướng Âm hư Dương cang nên tránh thức khuya, cay nóng; người đàm thấp nên tránh béo ngọt, nặng bụng; người phù thũng nên giảm mặn và theo dõi tiểu tiện.
Nói tóm lại
Chứng giản trong thai kỳ là chứng ở cuối thai kỳ, lúc sắp sinh hoặc sau sinh mới, xuất hiện chóng mặt, đau đầu, hôn mê đột ngột, hai mắt trợn ngược, răng cắn chặt, tứ chi co giật, lưng eo ưỡn ngược, có thể tỉnh rồi tái phát, nặng thì hôn mê không tỉnh.
Bệnh cơ chủ yếu là Can Dương thượng cang, Can phong nội động; hoặc đàm hỏa thượng nhiễu, che lấp thanh khiếu. Can phong nội động thì dưỡng Âm thanh nhiệt, bình Can tức phong. Đàm hỏa thượng nhiễu thì thanh nhiệt khai khiếu, khoát đàm tức phong.
Đây là bệnh cấp trọng, không thể xem như chứng chóng mặt hay co giật thông thường. Điều trị phải phối hợp cấp cứu hiện đại, đồng thời tùy chứng dùng pháp thanh Can, tức phong, hóa đàm, khai khiếu, an thần. Mục tiêu trước hết là bảo toàn tính mạng người mẹ, đồng thời đánh giá và xử lý an toàn cho thai.
Tiết 16
Tiểu tiện lâm thống trong thai kỳ
Trong thời kỳ thai nghén, xuất hiện tiểu tiện nhiều lần, tiểu gấp, tiểu rỉ rả, khó đi, đau rát, gọi là tiểu tiện lâm thống trong thai kỳ, cũng gọi là tử lâm.
Bệnh này tương đương với các bệnh nhiễm trùng hệ tiết niệu trong thai kỳ của y học hiện đại, như viêm niệu đạo, viêm bàng quang, viêm thận bể thận. Tiểu tiện lâm thống trong thai kỳ là một chứng bệnh kèm thai nghén thường gặp trên lâm sàng.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của bệnh này là Bàng quang uất nhiệt, khí hóa mất điều hòa. Các thể thường gặp gồm Âm hư tân khuy, Tâm hỏa thiên cang và thấp nhiệt hạ tiêu.
Cơ thể vốn Âm hư. Sau khi có thai, Âm huyết càng hao, Âm hư hỏa vượng, hỏa nhiệt chuyển xuống Bàng quang, đốt thương tân dịch, khiến tiểu tiện rỉ rả, khó đi, đau rát.
Trong thai kỳ, Âm huyết hạ tụ để nuôi thai. Nếu người mẹ vốn Âm hư, tân dịch càng dễ thiếu. Tân dịch không đủ thì đường tiểu mất sự nhuận lợi; hư nhiệt lại quấy nhiễu Bàng quang, làm khí hóa không thông. Vì vậy xuất hiện tiểu tiện nhiều lần, lượng ít, sắc vàng, rỉ rả đau buốt.
Cơ thể vốn Dương thịnh. Sau khi có thai lại thích ăn đồ cay nóng, nhiệt uẩn ở trong, dẫn động Tâm hỏa. Tâm hỏa thiên cang, chuyển nhiệt xuống Tiểu trường, rồi truyền vào Bàng quang, đốt thương tân dịch, khiến tiểu tiện rỉ rả, khó đi, đau rát.
Tâm và Tiểu trường có quan hệ biểu lý. Khi Tâm hỏa quá vượng, nhiệt có thể đi xuống Tiểu trường, ảnh hưởng đến đường thủy đạo. Vì vậy ngoài tiểu tiện đau rát, lượng ít, sắc vàng sẫm, còn có thể thấy mặt đỏ, tâm phiền, miệng lưỡi lở loét.
Trong thai kỳ, nếu dưỡng sinh không cẩn thận, cảm thụ tà thấp nhiệt, thấp nhiệt uẩn kết, đốt thương tân dịch của Bàng quang, sẽ phát thành tiểu tiện rỉ rả, khó đi, đau rát.
Thấp có tính dính trệ, nhiệt có tính nung đốt. Thấp nhiệt kết ở hạ tiêu, Bàng quang khí hóa không thông, thủy đạo bất lợi, nên tiểu tiện nhiều lần, gấp, khó, nóng rát, đau nhói. Nếu thấp nhiệt làm tổn thương Thận hoặc lan lên trên, có thể kèm đau lưng, miệng đắng, họng khô.
Biện chứng luận trị
Khi biện chứng cần chú trọng tìm hiểu tình trạng tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu đau, thời gian mắc bệnh, bệnh trình dài hay ngắn, có tái phát nhiều lần hay không. Những điểm này có thể giúp phân biệt hư thực. Đồng thời cần kết hợp các chứng kèm theo, lưỡi và mạch để xác định thể bệnh và phép trị.
Đại pháp điều trị lấy thanh nhuận làm chủ, không nên quá thiên về thông lợi mạnh, để tránh làm tổn thương thai nguyên. Nếu thật sự cần thông lợi, nên phối thêm các vị cố Thận an thai, để vừa thông lâm vừa giữ thai.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, tiểu tiện nhiều lần, rỉ rả khó đi, đau rát, lượng ít, sắc vàng. Buổi chiều triều nhiệt, lòng bàn tay bàn chân nóng, đại tiện khô kết, gò má đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ, rêu ít hoặc không rêu. Mạch tế hoạt mà sác.
Phân tích chứng trạng
Âm hư nội nhiệt, tân dịch hao tổn, Bàng quang khí hóa bất lợi, nên tiểu tiện nhiều lần, rỉ rả đau rát, lượng ít, sắc vàng. Âm hư nội nhiệt nên lòng bàn tay bàn chân nóng, buổi chiều triều nhiệt. Hư nhiệt nổi lên trên, nên gò má đỏ, môi đỏ. Âm hư, tân dịch bất túc, nên đại tiện khô kết. Lưỡi đỏ, rêu ít hoặc không rêu, mạch tế hoạt mà sác là dấu hiệu của Âm hư tân khuy.
Pháp trị
Tư Âm thanh nhiệt, nhuận táo thông lâm.
Phương thang
Tri bá Địa hoàng hoàn.
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Tri mẫu, Hoàng bá.
Trong phương, Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược tư bổ Can Thận, bồi dưỡng Âm tinh. Phục linh, Trạch tả giúp thấm thấp lợi thủy, khiến bổ mà không trệ. Đan bì thanh hư nhiệt. Tri mẫu, Hoàng bá tư Âm giáng hỏa, thanh nhiệt ở hạ tiêu. Toàn phương có công năng tư Âm thanh nhiệt, nhuận táo thông lâm, thích hợp với tử lâm do Âm hư tân dịch hao tổn.
Gia giảm
Nếu triều nhiệt, đạo hãn rõ, tùy chứng thêm Mạch môn, Ngũ vị tử, Địa cốt bì, Mẫu lệ phấn để tư Âm thanh nhiệt, liễm hãn.
Nếu trong nước tiểu có máu, tùy chứng thêm Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Tiểu kế để dưỡng Âm thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết.
Nếu đại tiện khô kết rõ, có thể thêm Hỏa ma nhân, Qua lâu nhân để nhuận tràng, nhưng phải dùng nhẹ nhàng, không công hạ quá mức trong thai kỳ.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, tiểu tiện nhiều lần, khó đi mà đau, lượng ít, sắc vàng sẫm. Mặt đỏ, tâm phiền, nặng hơn thì miệng lưỡi lở loét. Lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng. Mạch tế hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Tâm hỏa thiên cang, nhiệt chuyển xuống Tiểu trường, truyền vào Bàng quang, nên tiểu tiện nhiều lần, khó đi mà đau, lượng ít, sắc vàng. Tâm hỏa bốc lên, đốt thương miệng lưỡi là khiếu của Tâm, nên mặt đỏ, tâm phiền, nặng hơn thì miệng lưỡi lở loét. Lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch tế hoạt sác là dấu hiệu của Tâm hỏa thiên vượng.
Pháp trị
Thanh Tâm tả hỏa, nhuận táo thông lâm.
Phương thang
Đạo xích thanh Tâm thang, trích từ Thông Tục Thương Hàn Luận.
Tiên sinh địa, Phục thần, Tế mộc thông, Nguyên mạch đông, Phấn đan bì, Ích nguyên tán, Đạm trúc diệp, Đăng tâm, Liên tử tâm, Đồng tiện.
Trong phương, Sinh địa, Đan bì lương huyết nhuận táo để thanh Tâm nhiệt. Mộc thông, Trúc diệp, Đăng tâm, Ích nguyên tán, Đồng tiện lợi thủy thông lâm để tả Tâm hỏa. Mạch môn, Liên tử tâm, Phục thần dưỡng Tâm Âm, thanh Tâm hỏa, ninh Tâm thần. Toàn phương có công năng thanh Tâm tả hỏa, nhuận táo thông lâm.
Gia giảm
Nếu tiểu tiện nóng đau nhiều, tùy chứng thêm Chi tử, Hoàng cầm để thanh nhiệt giải độc.
Nếu nhiệt làm tổn thương Âm lạc, trong nước tiểu có máu, tùy chứng thêm Địa du sao, Ngẫu tiết, Đại kế, Tiểu kế để lương huyết chỉ huyết.
Nếu tâm phiền mất ngủ, có thể thêm Toan táo nhân, Dạ giao đằng để dưỡng Tâm an thần.
Chứng trạng chủ yếu
Trong thời kỳ thai nghén, đột nhiên tiểu tiện nhiều lần, tiểu gấp, nước tiểu vàng đỏ, khó đi, không thông lợi, nóng rát, đau nhói. Nặng hơn có thể đau lưng. Miệng đắng, họng khô, khát thích uống lạnh, ngực tức, ăn ít, sắc mặt vàng bẩn. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Thấp và nhiệt giao kết, uẩn kết ở Bàng quang, khí hóa không vận hành, thủy đạo bất lợi, nên tiểu tiện nhiều lần, tiểu gấp, nước tiểu vàng đỏ, khó đi, nóng rát, đau nhói. Thấp nhiệt làm tổn thương Thận, nên có thể đau lưng. Thấp nhiệt bốc lên trên, nên miệng đắng, họng khô, sắc mặt vàng bẩn. Thấp khốn Tỳ Vị, nên ngực tức, ăn ít. Nhiệt đốt tân dịch, nên khát thích uống lạnh. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác là dấu hiệu của thấp nhiệt nội thịnh.
Pháp trị
Thanh nhiệt lợi thấp, nhuận táo thông lâm.
Phương thang
Gia vị Ngũ lâm tán, trích từ Y Tông Kim Giám.
Hắc chi tử, Xích phục linh, Đương quy, Bạch thược, Hoàng cầm, Cam thảo sao, Sinh địa, Trạch tả, Xa tiền tử, Mộc thông, Hoạt thạch.
Trong phương, Hắc chi tử, Hoàng cầm thanh nhiệt tả hỏa. Trạch tả, Mộc thông, Hoạt thạch, Phục linh, Xa tiền tử thấm lợi thấp nhiệt mà thông lâm. Bạch thược, Cam thảo dưỡng Âm, hoãn cấp để giảm đau khi tiểu. Sinh địa, Đương quy lương huyết, bổ huyết, nhuận táo mà dưỡng thai. Toàn phương có công năng thanh nhiệt lợi thấp, nhuận táo thông lâm.
Chú ý khi dùng
Hoạt thạch có tính hoạt lợi khá mạnh; Đương quy khí vị đều hậu, dễ động thai khí nếu dùng không đúng. Vì vậy trong thai kỳ cần thận trọng, dùng đúng chứng, đúng liều, không dùng kéo dài một cách tùy tiện.
Gia giảm
Nếu nhiệt thịnh, độc nặng, tùy chứng thêm Kim ngân hoa, Liên kiều, Bồ công anh để thanh nhiệt giải độc.
Nếu thấp nhiệt đốt thương Âm lạc, trong nước tiểu có máu, tùy chứng thêm Đại kế, Tiểu kế, Trắc bá diệp, Địa du sao để lương huyết chỉ huyết.
Nếu tiểu đau dữ dội, có thể gia Hải kim sa, Biển súc, Cù mạch lượng thích hợp để thông lâm chỉ thống, nhưng cần cân nhắc tính thông lợi trong thai kỳ và phối hợp vị an thai khi cần.
Chú ý lâm sàng
Tiểu tiện lâm thống trong thai kỳ tuy thường biểu hiện ở đường tiểu dưới, nhưng không nên xem nhẹ. Nếu có sốt, rét run, đau lưng nhiều, đau vùng hông lưng, buồn nôn, nôn, hoặc tiểu máu rõ, cần nghĩ đến viêm thận bể thận hoặc nhiễm trùng tiết niệu nặng trong thai kỳ, phải thăm khám kịp thời.
Trong thai kỳ, nhiễm trùng tiết niệu nếu xử lý không đúng có thể ảnh hưởng đến mẹ và thai. Vì vậy, ngoài biện chứng Trung y, cần phối hợp xét nghiệm nước tiểu, cấy nước tiểu khi cần, đánh giá chức năng thận và theo dõi thai. Không nên chỉ dùng thuốc thanh nhiệt lợi thấp mà bỏ qua kiểm tra hiện đại.
Khi dùng phép thông lâm lợi thủy, phải tránh quá thông lợi làm tổn thương thai nguyên. Nếu cần lợi thấp thông lâm, nên phối hợp các vị cố Thận an thai như Tục đoạn, Tang ký sinh, Thỏ ty tử tùy chứng, nhất là người vốn Thận hư hoặc có dấu hiệu thai động bất an.
Điều dưỡng
Thai phụ nên uống nước vừa đủ theo tình trạng cơ thể và hướng dẫn chuyên môn, không nên nhịn tiểu. Cần giữ vệ sinh vùng âm hộ, tránh ẩm thấp, tránh quan hệ khi đang có triệu chứng tiểu đau, tiểu rát hoặc nhiễm trùng chưa ổn.
Ăn uống nên thanh đạm, tránh cay nóng, rượu, đồ chiên nướng, đồ ngọt béo quá mức. Người Âm hư nên tránh thức khuya, dùng thức ăn dưỡng Âm sinh tân thích hợp. Người thấp nhiệt nên tránh ăn quá nhiều đồ béo ngọt, nặng bụng, vì dễ sinh thấp nhiệt. Người Tâm hỏa nên giữ tinh thần yên ổn, giảm kích thích, ngủ nghỉ điều độ.
Nói tóm lại
Tiểu tiện lâm thống trong thai kỳ là chứng tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu rỉ rả, khó đi, đau rát trong thời kỳ mang thai. Bệnh cơ chủ yếu là Bàng quang uất nhiệt, khí hóa mất điều hòa.
Âm hư tân khuy thì tư Âm thanh nhiệt, nhuận táo thông lâm. Tâm hỏa thiên cang thì thanh Tâm tả hỏa, nhuận táo thông lâm. Thấp nhiệt hạ tiêu thì thanh nhiệt lợi thấp, nhuận táo thông lâm.
Điều trị cần lấy thanh nhuận làm chủ, không nên quá thông lợi để tránh tổn thương thai nguyên. Nếu bệnh có sốt, đau lưng nhiều, tiểu máu, rét run, hoặc tái phát nhiều lần, cần phối hợp kiểm tra và điều trị hiện đại. Trong thai kỳ, thông lâm phải đi cùng an thai; trị bệnh phải xét đến cả mẹ và thai.