NGÀY 8 ĐẾN NGÀY 10
Dẫn nhập
Trong bảy ngày đầu, chúng ta đã bắt đầu từ gốc của thấp là Tỳ. Tỳ được giảm gánh nặng, trung tiêu được làm ấm, cách ăn uống được điều chỉnh, khí cơ tiêu hóa bắt đầu thông hơn. Khi Tỳ vận hóa tốt hơn, thấp mới bớt sinh thêm từ bên trong.
Nhưng chỉ kiện Tỳ vẫn chưa đủ.
Trong Trung y, Phế cũng giữ vai trò rất quan trọng trong sự vận hành thủy dịch. Phế chủ khí, chủ bì mao, có chức năng tuyên phát và túc giáng. Tuyên phát là đưa khí và tân dịch ra ngoài, lên trên, ra da lông. Túc giáng là đưa khí và thủy dịch đi xuống, giúp nước có đường về Thận và Bàng quang để tiếp tục khí hóa, bài tiết.
Nếu Tỳ là nơi xử lý thủy dịch, thì Phế là cánh cửa giúp thủy dịch phân bố và thoát ra đúng đường.
Phế tuyên phát tốt thì da lông thông, mồ hôi điều hòa, đầu mặt nhẹ, hơi thở khoan khoái.
Phế túc giáng tốt thì khí đi xuống, đờm thấp không dễ tụ ở ngực, nước có đường xuống dưới.
Phế khí bị uất trở thì người dễ nặng đầu, ngực tức, đờm nhiều, mũi xoang tắc, da bí, mồ hôi không thông.
Vì vậy, từ ngày 8 đến ngày 10, trọng tâm là khai thông Phế, giúp hơi thở sâu hơn, vùng ngực mở hơn, mũi xoang thông hơn, thượng tiêu bớt bế tắc.
Ba ngày này không nhằm trị bệnh phổi hay bệnh da liễu thay cho y khoa, mà là giai đoạn dưỡng sinh để hỗ trợ Phế khí tuyên giáng, giúp thấp có thêm đường chuyển hóa.
NGÀY 8
TẬP THỞ KHAI PHẾ
Hơi thở thông, khí cơ thông
Phế là cơ quan chủ khí. Hơi thở không chỉ đưa không khí vào cơ thể, mà theo Trung y còn liên quan đến sự vận hành của khí cơ toàn thân. Khi hơi thở nông, ngực đóng, vai cổ căng, Phế khí khó tuyên phát. Người dễ thấy ngực nặng, đầu nặng, mệt, lo âu, đờm khó khạc, mũi không thông.
Người hiện đại thường thở rất nông. Ngồi nhiều, cúi đầu nhìn điện thoại, làm việc trước máy tính, stress kéo dài, ít vận động làm cho vùng ngực bị bó lại. Phế khí vì vậy không được mở rộng, khí cơ thượng tiêu dễ uất trệ.
Ngày 8 tập trung vào tập thở sâu, thở chậm, thở đều. Mục tiêu không phải là hít thật mạnh, mà là giúp Phế mở nhẹ nhàng, khí đi vào sâu hơn, thở ra dài hơn, tâm thần yên hơn.
Có thể ví Phế như chiếc nắp ấm. Nắp mở điều hòa thì hơi nước có đường thoát. Nắp bị đóng chặt thì hơi nước bị giữ lại, bên trong dễ sinh ẩm trệ. Trong cơ thể, khi Phế khí thông, tân dịch phân bố tốt hơn, đờm thấp ở thượng tiêu cũng dễ hóa hơn.
Thở 4 – 2 – 6 trong 10 phút
Cách làm:
Ngồi thẳng lưng hoặc nằm thoải mái.
Thả lỏng vai, cổ, hàm.
Đặt một tay lên bụng, một tay lên ngực.
Hít vào bằng mũi trong 4 giây.
Giữ nhẹ 2 giây, không gồng.
Thở ra chậm trong 6 giây.
Lặp lại 20 đến 30 lần.
Nếu thấy chóng mặt, khó chịu, hồi hộp thì dừng lại và thở bình thường.
Tác dụng hỗ trợ:
Giúp hơi thở sâu hơn.
Mở vùng ngực.
Điều hòa Phế khí.
Giảm căng thẳng.
Giúp đầu óc nhẹ hơn.
Hỗ trợ người có cảm giác ngực nặng, hơi thở nông, đờm thấp nhẹ.
Chú ý:
Người đang khó thở, hen cấp, đau ngực, bệnh tim phổi nặng, chóng mặt nhiều, huyết áp không ổn định không nên tự tập giữ hơi. Có thể chỉ thở chậm nhẹ nhàng, không cần giữ 2 giây. Nếu có triệu chứng bất thường, cần đi khám.
Trà Tía tô – Trần bì
Món uống này phù hợp hơn với người thiên phong hàn, hàn thấp, đờm trắng, ngực nặng nhẹ, đầy bụng, sợ lạnh, mũi nghẹt khi gặp lạnh.
Nguyên liệu gợi ý:
Lá tía tô 3 đến 5 lá.
Trần bì một nhúm nhỏ.
Nước nóng vừa đủ.
Cách làm:
Rửa sạch lá tía tô.
Cho Tía tô và Trần bì vào ly.
Hãm với nước nóng 10 phút.
Uống ấm, từng ngụm nhỏ.
Không uống quá đặc.
Công dụng theo Trung y:
Tía tô giúp tán phong hàn nhẹ, hành khí, khai Phế.
Trần bì giúp lý khí, hóa đàm, táo thấp nhẹ, hỗ trợ tiêu hóa.
Hai vị phối hợp giúp người cảm lạnh nhẹ, ngực đầy, đờm trắng, bụng trướng, khí cơ không thông cảm thấy dễ chịu hơn.
Chú ý:
Người thấp nhiệt rõ, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện hôi dính, mụn viêm nhiều, rêu lưỡi vàng nhớt, đang sốt cao, âm hư nội nhiệt không nên dùng nhiều món tán ấm. Phụ nữ có thai, người đang dùng thuốc điều trị bệnh mạn tính nên thận trọng.
Không tắm nước lạnh.
Không tắm quá khuya.
Không để gió lạnh thổi thẳng vào cổ gáy, ngực và lưng.
Không uống nước đá sau khi tập thở hoặc khi đang ra mồ hôi.
Hàn lạnh dễ làm Phế khí bị uất trở. Khi Phế khí không thông, tuyên phát và túc giáng đều giảm, thấp đàm ở thượng tiêu dễ tích lại.
Thở sâu thì ngực mở.
Ngực mở thì khí thông.
Khí thông thì thấp dễ hóa.
Ngày 8 chỉ cần tập thở nhẹ nhàng, đều đặn. Không cần cố gắng quá mức. Hơi thở càng mềm, tâm càng lặng, Phế khí càng dễ thông.
NGÀY 9
VỖ PHẾ, MỞ VÙNG NGỰC
Phế thông thì đờm thấp dễ hóa
Phế chủ bì mao, nghĩa là Phế có liên hệ với da lông, lỗ chân lông và sự tuyên phát ra bên ngoài. Khi Phế khí tuyên phát tốt, da lông được nuôi dưỡng, mồ hôi điều hòa, cơ thể thích ứng tốt hơn với môi trường.
Tuy nhiên, cần hiểu đúng: bệnh da không chỉ do Phế. Da dầu, mụn, viêm da tiết bã, chàm, ngứa còn có thể liên quan đến Tỳ Vị thấp nhiệt, Can uất hóa nhiệt, huyết nhiệt, đàm thấp, ăn uống và sinh hoạt. Phế chỉ là một phần trong hệ thống đó.
Ngày 9 tập trung vào vỗ nhẹ vùng Phế để mở ngực, làm thông khí cơ thượng tiêu, hỗ trợ người có cảm giác ngực nặng, đờm nhiều, đầu nặng, hơi thở nông.
Vỗ Phế không phải là phương pháp trị bệnh phổi cấp tính. Đây là một động tác dưỡng sinh nhẹ, giúp cơ thể tỉnh hơn, ngực thoáng hơn, hơi thở dễ hơn.
Vỗ Phế 3 phút
Cách làm:
Đứng hoặc ngồi thẳng lưng.
Thả lỏng vai và cổ.
Dùng lòng bàn tay hơi khum.
Vỗ nhẹ vùng ngực trước.
Vỗ từ trên xuống dưới, từ giữa ngực sang hai bên.
Lực vỗ vừa phải, không gây đau.
Mỗi lần khoảng 3 phút.
Có thể làm 1 đến 2 lần mỗi ngày.
Khi vỗ, phối hợp thở chậm và đều.
Tác dụng hỗ trợ:
Mở vùng ngực.
Giúp Phế khí tuyên phát.
Hỗ trợ giảm cảm giác ngực nặng.
Giúp đờm dễ long hơn trong trường hợp đờm thấp nhẹ.
Giúp người hay ngồi nhiều, vai ngực co cứng cảm thấy thông thoáng hơn.
Chú ý:
Người đau ngực chưa rõ nguyên nhân, bệnh tim mạch, khó thở nặng, ho ra máu, gãy xương sườn, chấn thương vùng ngực, sau phẫu thuật, hen cấp, viêm phổi cấp không nên tự vỗ ngực. Nếu có triệu chứng nặng, cần đi khám.
Cháo Ý dĩ – Hạt sen – Táo đỏ
Món cháo này thiên về kiện Tỳ, dưỡng nhẹ, giúp trung tiêu ổn định. Khi Tỳ tốt hơn, thấp đàm cũng dễ hóa hơn. Đây là món ăn hỗ trợ, không phải bài thuốc trị bệnh.
Nguyên liệu gợi ý:
Ý dĩ 20g.
Hạt sen 10g.
Táo đỏ 2 đến 3 quả.
Gạo tẻ một nắm nhỏ.
Nước vừa đủ.
Cách nấu:
Ý dĩ và hạt sen rửa sạch, có thể ngâm trước cho mềm.
Táo đỏ rửa sạch, bỏ hạt nếu cần.
Cho tất cả vào nồi cùng gạo tẻ.
Nấu thành cháo loãng.
Ăn lúc còn ấm.
Công dụng theo Trung y:
Ý dĩ giúp kiện Tỳ, thẩm thấp nhẹ.
Hạt sen giúp kiện Tỳ, dưỡng tâm, hỗ trợ giấc ngủ.
Táo đỏ giúp hòa trung, bổ nhẹ Tỳ Vị.
Gạo tẻ giúp bảo vệ Vị khí, làm món cháo dễ tiêu hơn.
Món này phù hợp với người Tỳ hư, thấp nhẹ, mệt, ngủ không sâu, tiêu hóa yếu.
Chú ý:
Người thấp nhiệt rõ, rêu vàng nhớt, mụn viêm nhiều, đại tiện hôi dính, bụng đầy nặng không nên dùng quá nhiều táo đỏ. Người đường huyết cao nên bỏ táo đỏ hoặc dùng rất ít. Người bụng lạnh, đại tiện lỏng nhiều nên dùng lượng Ý dĩ vừa phải và ăn ấm.
Hạn chế đồ chiên rán.
Hạn chế đồ nướng nhiều dầu mỡ.
Không uống cà phê quá nhiều, nhất là sau buổi chiều.
Không thức khuya.
Đồ chiên rán và thức khuya dễ làm thấp nhiệt nặng hơn. Cà phê dùng nhiều có thể làm một số người hồi hộp, khô miệng, mất ngủ, bứt rứt, từ đó ảnh hưởng đến Phế khí và tân dịch. Nếu uống cà phê khiến bạn mất ngủ, nóng trong, tim đập nhanh, da nhờn hơn hoặc mụn tăng, nên giảm lượng.
Phế mở thì ngực nhẹ.
Ngực nhẹ thì đờm thấp dễ hóa.
Phế thông không chỉ nhờ thuốc, mà còn nhờ hơi thở, tư thế, vận động và tránh lạnh.
NGÀY 10
THÔNG MŨI XOANG, GIẢM NẶNG ĐẦU
Phế khai khiếu ở mũi
Trong Trung y, Phế khai khiếu ở mũi. Mũi là cửa ngõ của Phế. Khi Phế khí thông, mũi thường thông thoáng, hơi thở dễ. Khi Phế khí bị uất, phong hàn, phong nhiệt, đàm thấp hoặc thấp trọc ngăn trở, mũi có thể nghẹt, chảy dịch, xoang nặng, đầu nặng.
Thấp tích ở thượng tiêu thường làm đầu nặng, mặt nặng, mũi xoang bí, tinh thần mờ, khó tập trung. Nhiều người gọi cảm giác này là “não mù sương”. Theo Trung y, có thể liên hệ với đàm thấp, thấp trọc, thanh dương không thăng, Phế khí không thông.
Ngày 10 tập trung vào xoa mũi, làm ấm vùng mũi, thông khí vùng đầu mặt, giúp Phế khai khiếu tốt hơn.
Xoa hai bên mũi 100 lần
Cách làm:
Rửa tay sạch.
Chà hai tay cho ấm.
Dùng hai ngón trỏ đặt hai bên sống mũi.
Xoa từ trên xuống dưới dọc hai bên cánh mũi.
Lực vừa phải, không làm đau da.
Làm 100 lần buổi sáng.
Có thể làm thêm 100 lần buổi tối.
Sau đó có thể day nhẹ huyệt Nghinh hương ở hai bên cánh mũi trong 30 giây.
Tác dụng hỗ trợ:
Làm ấm vùng mũi.
Hỗ trợ thông mũi.
Giảm cảm giác nặng vùng đầu mặt.
Giúp hơi thở qua mũi dễ hơn.
Hỗ trợ Phế khí khai thông.
Chú ý:
Không xoa quá mạnh. Không làm khi da vùng mũi đang viêm loét, chảy máu cam, đau xoang cấp dữ dội, sốt cao, dịch mũi mủ hôi hoặc đau đầu nặng bất thường. Nếu viêm xoang kéo dài, sốt, đau mặt nhiều, dịch mũi vàng xanh hôi, cần đi khám.
Trà Hoa cúc – Kỷ tử
Món uống này phù hợp hơn với người đầu mặt hơi nóng, mắt mỏi, mắt khô, thức khuya, căng thẳng, có khuynh hướng nhiệt nhẹ nhưng không quá thấp trệ.
Nguyên liệu gợi ý:
Hoa cúc 3 đến 5 bông.
Kỷ tử 6 đến 10 hạt.
Nước nóng vừa đủ.
Cách làm:
Cho hoa cúc và kỷ tử vào ly.
Hãm nước nóng 10 phút.
Uống ấm.
Không uống quá đặc.
Công dụng theo Trung y:
Hoa cúc giúp thanh nhẹ phong nhiệt ở đầu mặt, làm dịu mắt, giúp đầu mặt thư thái.
Kỷ tử giúp dưỡng Can Thận, ích tinh huyết nhẹ, thường dùng khi mắt khô, mỏi, người hơi hư.
Chú ý:
Người đàm thấp nặng, bụng đầy nhiều, rêu lưỡi dày nhớt, đại tiện dính nhiều không nên dùng Kỷ tử quá thường xuyên vì vị này có tính bổ dưỡng, dùng sai có thể hơi ngấy trệ. Người bụng lạnh, tiêu chảy cũng không nên uống nhiều trà hoa cúc. Nếu không chắc thể trạng, chỉ cần uống nước ấm là đủ.
Không để điều hòa thổi trực tiếp vào mặt.
Không để cổ gáy lạnh.
Không nằm ngủ ngay dưới luồng gió lạnh.
Không uống nước đá khi mũi xoang đang nghẹt.
Không thức khuya.
Lạnh làm vùng mũi xoang dễ co lại, Phế khí khó tuyên phát. Với người có đàm thấp, hàn thấp hoặc viêm mũi xoang mạn tính, việc giữ ấm cổ gáy và mũi rất quan trọng.
Mũi thông thì Phế thông.
Phế thông thì đầu nhẹ.
Đầu nhẹ thì tâm sáng.
Ngày 10 là ngày đưa sự chú ý lên đầu mặt. Không cần làm gì mạnh, chỉ cần xoa ấm mũi, thở chậm, tránh lạnh, ngủ sớm, cơ thể đã có cơ hội tự điều chỉnh.
TỔNG KẾT NGÀY 8 ĐẾN NGÀY 10
Ba ngày này là giai đoạn khai thông Phế, mở đường thoát thấp ở thượng tiêu.
Ngày 8 tập thở để khai Phế, điều khí.
Ngày 9 vỗ Phế để mở vùng ngực, hỗ trợ hóa đờm thấp.
Ngày 10 xoa mũi để thông đầu mặt, giúp Phế khai khiếu tốt hơn.
Nếu thực hiện phù hợp, một số người có thể cảm thấy:
Đầu nhẹ hơn.
Ngực bớt nặng.
Đờm dễ khạc hơn.
Mũi thông hơn.
Hơi thở sâu hơn.
Ngủ dễ hơn.
Tinh thần sáng hơn.
Da bớt bí hơn nếu trước đó có liên quan đến thấp trệ và khí cơ không thông.
Tuy nhiên, mức độ thay đổi tùy thể trạng. Người có bệnh mũi xoang lâu năm, hen suyễn, bệnh phổi, viêm da nặng, đàm thấp lâu ngày hoặc thấp nhiệt rõ cần được phân biệt thể trạng kỹ hơn, không nên chỉ dựa vào vài phương pháp dưỡng sinh đơn giản.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 6
Trừ thấp không chỉ là kiện Tỳ. Tỳ giúp thấp không sinh thêm, nhưng Phế giúp thủy dịch phân bố, tuyên phát và đi xuống. Nếu Phế khí bị bế, thượng tiêu dễ nặng, đờm thấp dễ tụ, mũi xoang dễ tắc, đầu mặt dễ nặng, da lông cũng khó thông thoáng.
Vì vậy, sau khi kiện Tỳ, cần khai thông Phế.
Thở sâu để Phế mở.
Vỗ nhẹ để ngực thông.
Xoa mũi để đầu mặt nhẹ.
Tránh lạnh để Phế khí không bị uất.
Ngủ sớm để khí âm được điều hòa.
Ba ngày khai Phế không phải là trị bệnh cấp, mà là giúp cơ thể khơi lại đường tuyên phát và túc giáng. Khi Phế thông, khí cơ thượng tiêu nhẹ hơn; khi khí cơ thông, đờm thấp dễ hóa hơn; khi thượng tiêu nhẹ, đầu óc cũng sáng hơn.
Nói gọn lại:
Tỳ khỏe thì thấp không sinh thêm.
Phế thông thì thấp có đường thoát.
Thận ấm thì nước được khí hóa.
Sau chương này, nền tảng Tỳ và Phế đã được khởi động. Các chương tiếp theo có thể đi sâu hơn vào ôn Thận, thông hạ tiêu, phân biệt thấp nhiệt, hàn thấp, đàm thấp và cách dùng các món ăn, vị thuốc đơn giản cho từng thể trạng.
I/ Chứng trị thangTiểu sài hồ
Loại thang Sài hồ là gồm một nhóm phương lấy thang Tiểu sài hồ làm đại biểu. Thang Sài hồ là chủ phương trị bệnh ở kinh Thiếu dương; lấy các chứng thuộc Thiếu dương phủ chứng như miệng đắng, họng khô, mắt hoa chóng mặt, và Thiếu dương kinh chứng như tai điếc, mắt đỏ, đau đầu, ngực sườn đầy tức làm đối tượng trị liệu.
Tà khách vào kinh Thiếu dương, chính tà tranh nhau ở hạ sườn; vùng hạ sườn thuộc ranh giới của biểu và lý, lại ở giữa hai kinh Thái dương và Dương minh. Tà khí tiến vào âm thì phát ố hàn (ớn lạnh), chính khí thắng tà xuất vào dương thì phát nhiệt (phát sốt). Do bệnh tà có tiến lui, chính khí có thắng bại, nên người bệnh khi thì phát nhiệt, khi thì ố hàn; lạnh đến nóng đi, nóng đến lạnh đi, hàn nhiệt thay phiên xuất hiện, gọi là vãng lai hàn nhiệt. Nó khác với Thái dương bệnh “phát nhiệt ố hàn” đồng thời xuất hiện, cũng khác với Dương minh “chỉ nóng không lạnh” (phát sốt và không ớn lạnh); khi lâm chứng nhất định phải phân biệt thật rõ ràng.
Thiếu dương thuộc Đởm, lại liên hệ với Can, tính ưa sơ tiết mà ghét uất ức; nên Thiếu dương phát bệnh thường thấy ngực sườn đầy tức, lặng lẽ không muốn ăn uống… là biểu hiện của chứng khí uất. Đởm khí uất ở trong, nếu hóa hỏa đẩy mật dịch trào lên thì thấy miệng đắng; hỏa nhiệt làm thương tân dịch thì thấy họng khô; phong mộc gây bệnh thì thấy mắt hoa chóng mặt… và đó được xem là đề cương chứng của Thiếu dương bệnh. Mạch Thái dương là phù, mạch Dương minh là đại, còn Thiếu dương thì mạch huyền; rêu lưỡi lấy trắng trơn làm chuẩn.
Xét từ “Thương hàn luận”, các phương mang tên Sài hồ tổng cộng có sáu phương gồm: thang Tiểu sài hồ, thang Đại sài hồ, thang Sài hồ gia mang tiêu, thang Sài hồ gia long cốt mẫu lệ, thang Sài hồ quế chi, thang Sài hồ quế chi can khương.
Sáu phương Sài hồ trên đều lấy thang Tiểu sài hồ làm cơ sở; vì vậy muốn hiểu các phương gia giảm trong loại Sài hồ thang thì trước hết phải hiểu ý nghĩa lập phương của thang Tiểu sài hồ, mới có tác dụng nắm cương lĩnh mà suy ra các mục. Thang Tiểu sài hồ gồm bảy vị sau: Sài hồ, Hoàng cầm, Bán hạ, Sinh khương, Cam thảo, Nhân sâm, Đại táo.
Trong phương, Sài hồ và Hoàng cầm là hai vị thuốc khổ (đắng) để thanh nhiệt Thiếu dương; Sài hồ giải nhiệt ở kinh, Hoàng cầm thanh nhiệt ở phủ, đó là một công dụng trị liệu của phương thang. Nhưng Thiếu dương lấy sơ tiết là bình thường, lấy uất ức là bệnh, nên dùng Sài hồ, Hoàng cầm không chỉ giải Thiếu dương nhiệt mà còn sơ giải khí uất Thiếu dương, đó lại là một công dụng khác của Sài hồ. Theo “Thần nông bản thảo kinh”, Sài hồ trị “kết khí trong tràng vị, ẩm thực tích tụ”… cho thấy nó có thể thúc đẩy lục phủ chuyển hóa, có tác dụng tiêu tích hóa thực, nhờ đó cũng có thể thúc đẩy cơ xoay “xu cơ” (then chốt) của Thiếu dương để điều hòa biểu lý. Một vị Sài hồ mà có ba tác dụng, đủ thấy tầm quan trọng trong phương, đó cũng chính là lý do Tiểu sài hồ thang lấy Sài hồ làm tên phương thang.
Bán hạ và Sinh khương đều có tính tân ôn (cay ấm), có thể khai (mở) và có thể giáng (xuống), giỏi hòa vị trị ẩu, lại có thể ngoài thì sơ phong hàn, trong thì tiêu đàm ẩm. Vì Thiếu dương (Đởm) bệnh thường hay ẩu thổ, nên dùng hai vị Bán hạ và Sinh khương kiện vị để trị ẩu thổ (nôn), dụng ý rất sâu sa. Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo đều thuộc cam ôn, dùng để phù chính khu tà, giúp Sài hồ phát huy hiệu quả trị liệu; lại có thể “trước làm cho Tỳ thực” để ngăn Thiếu dương truyền biến, chính là có ý nghĩa “trị vị bệnh”.
Từ đó có thể thấy bảy vị của Tiểu sài hồ thang lấy hòa giải bệnh tà ở Thiếu dương là chính, đồng thời kiêm trị Tỳ Vị, điều hòa trung tiêu phù trợ chính khí làm phụ. Vừa thanh giải tà nhiệt vừa vun đắp bảo hộ chính khí, không dùng các pháp như hãn, thổ, hạ mà đạt mục đích khu tà, nên gọi là phép hòa giải.
Về liều lượng, lượng Sài hồ phải lớn hơn Nhân sâm và Cam thảo gấp một lần trở lên, mới phát huy tác dụng. Nếu lầm dùng Nhân sâm, Cam thảo nhiều hơn hoặc bằng Sài hồ thì không đạt mục đích hòa giải tà nhiệt Thiếu dương. Vì vậy khi dùng phương này cần chú ý tỷ lệ liều lượng.
Phạm vi trị liệu của Tiểu sài hồ thang khá rộng; trong đó đáng chú ý nhất là công năng hạ sốt giải nhiệt rất rõ rệt. “Tô Thẩm lương phương” đời Tống đã phát hiện ưu điểm này, rồi quy nạp chứng ứng dụng thành bốn điểm: một là trị vãng lai hàn nhiệt (lạnh nóng qua lại); hai là trị triều nhiệt (sốt vào khoảng từ 15~17h); ba là trị thân nhiệt; bốn là trị thương hàn đã giảm rồi lại phát sốt. Đem nghiệm với lâm sàng, lời này thật không thể xem nhẹ.
“Thương hàn luận” nói về ứng dụng Tiểu sài hồ thang có nguyên tắc “chỉ thấy một chứng là được, không cần đủ hết”. Cá nhân tôi cho rằng “một chủ chứng” và “không cần đủ hết” phải đối chiếu nhau, trọng điểm nằm ở “không cần đủ hết”. Như nôn kèm phát nhiệt, hoặc dưới sườn bĩ cứng, hoặc vãng lai hàn nhiệt, chỉ cần thấy chủ chứng Thiếu dương đủ khiến người ta tin chắc, thì nên cho dùng Sài hồ thang, không cần đợi chứng trạng đầy đủ mới dùng. Lâm sàng dùng phương này nên lấy đó làm chuẩn mực.
Ví dụ từng trị một nữ công nhân 29 tuổi, nôn ói ngoan cố đã ba năm không khỏi. Mỗi lần ăn xong liền nôn, chất nôn rất chua đắng lại kèm đàm dãi. Hông sườn phải trướng đầy, đau vùng vị quản, chỉ có đại tiểu tiện là còn điều hòa. Kinh nguyệt trước sau không đều, hành kinh thì tâm ngực phiền đầy, tiểu phúc trướng đau. Mạch trầm huyền mà hoạt, rêu lưỡi trắng trơn.
Biện chứng: Can Đởm khí uất; khí uất sơ tiết không thuận lợi thì sinh đàm ẩm, khiến Vị khí mất hòa giáng, nên nôn đàm dãi mà vị chua đắng. Chẩn lưỡi mạch cũng phản ánh Thiếu dương khí uất không sơ tiết.
Trị pháp: sơ lợi Can Đởm, thanh hóa đàm nhiệt.
Xử phương: Sài hồ 12g, Hoàng cầm 10g, Bán hạ 10g, Sinh khương 10g, Đảng sâm 6g, Chích cam thảo 6g, Trúc nhự 12g, Quất bì 12g, Hương phụ 10g, Uất kim 10g.
Uống tổng cộng 6 thang thì nôn dứt hẳn, về sau bệnh cũng không tái phát.
Trong “Thương hàn luận”, các phương mang tên Sài hồ và các phương đời sau diễn hóa dựa trên đó đều có thể xem là các phương gia giảm của thang Tiểu sài hồ; dưới đây sẽ lần lượt trình bày chứng trị từng phương.
II/ Chứng trị gia giảm của thang Tiểu sài hồ
(1) Thang Sài hồ gia quế chi
Phương này trị Thiếu dương bệnh kiêm thấy đau đầu, phát nhiệt, mạch phù… là Thái dương biểu chứng. Do thang Tiểu sài hồ bỏ Nhân sâm (tránh trở biểu), thêm Quế chi để phát hãn nhẹ mà thành. Lại cũng có thể trị Thiếu dương chứng kiêm tâm quý, khí thượng xung.
Trương ××, nữ, 59 tuổi, bị bệnh tim do phong thấp. Đầu đông cảm mạo: phát nhiệt ố hàn, đau đầu không mồ hôi, ngực sườn đầy tức, hồi hộp. Thường cảm thấy có khí xông lên cổ họng, lúc đó càng phiền muộn hồi hộp bất an, mạch kết.
Biện chứng: Thiếu dương bất hòa, lại cảm phong hàn, đồng thời xung khí thượng nghịch.
Trị pháp: lưỡng giải Thiếu dương và Thái dương, kiêm bình xung khí.
Xử phương: dùng thang Tiểu sài hồ hợp thang Quế chi.
Uống 3 thang thì các chứng đều yên ổn.
(2) Thang Sài hồ gia thược dược
Phương này trị Thiếu dương bệnh kiêm đau bụng, lại có cảm giác co rút; ấn vào cơ bụng thấy như dây thừng (dạng dải sợi), đây là do Can Tỳ bất hòa, huyết mạch co rút mà ra. Phương lấy thang Tiểu sài hồ khứ Hoàng cầm (vị khổ hàn), gia Thược dược có tác dụng bình Can hoãn cấp, sơ lợi huyết mạch mà thành. Cũng có thể dùng điều trị các chứng phụ nữ khí huyết bất hòa như kinh nguyệt không đều, thống kinh (đau bụng khi hành kinh).
Họ Hách ××, nữ, 22 tuổi, sinh viên. Vốn Can khí hay uất, thường ngực sườn đầy tức, vị quản đau; đến kỳ kinh thì bụng dưới đau co rút. Mạch huyền tế mà thẳng, rêu lưỡi mỏng trắng.
Biện chứng: Can khí uất kết, huyết mạch bất hòa. Can khí uất thì sơ tiết không lợi nên ngực sườn đầy tức, vị quản đau; huyết mạch bất hòa nên thống kinh và bụng dưới (tiểu phúc) co rút.
Trị pháp: sơ Can hòa huyết, chỉ thống.
Phương: Sài hồ 12g, Xích thược 6g, Bạch thược 6g, Cam thảo 6g, Đảng sâm 6g, Sinh khương 10g, Bán hạ 10g, Đương quy 10g, Trạch lan 6g.
Uống liền 6 thang, các chứng đều khỏi.
(3) Thang Sài hồ quế chi.
Phương này là hợp phương của thang Tiểu sài hồ và thang Quế chi. Trị ngoài có biểu chứng mà thấy “tứ chi khớp xương đau nhức nhiều”, trong có Thiếu dương khí uất mà thấy “tâm hạ chi kết” (kết ở tâm hạ). Vì vậy trong thang Tiểu sài hồ gia Quế chi, Thược dược, để ngoài hòa dinh vệ, trong điều khí huyết, bệnh có thể khỏi. Căn cứ tinh thần trị liệu của “Thương hàn luận”, tôi dùng phương này trị ba loại bệnh sau thường có hiệu quả.
(4) Thang Sài hồ khứ bán hạ gia qua lâu căn.
Phương này là Tiểu sài hồ thang khứ Bán hạ, đồng thời tăng lượng Nhân sâm, lại gia Thiên hoa phấn (qua lâu căn) mà thành. Trị Thiếu dương bệnh kiêm tân dịch trong Vị bị tổn háo, thấy khát muốn uống, lưỡi đỏ rêu mỏng vàng… Lâm sàng dùng thường là trong thang Tiểu sài hồ khứ Bán hạ, Sinh khương (táo), gia Thiên hoa phấn cùng Mạch đông, Sa sâm… để bổ dưỡng tân dịch. Nếu người bệnh khí tân đều bị tổn hại, khát rất nặng, thì nên tăng liều Nhân sâm trong phương. Phương này cũng trị “đái tháo đường” mà biện chứng thuộc Thiếu dương bất hòa, Vị nhiệt tân dịch bị tổn thương.
(5) Thang Sài hồ gia phục linh.
Phương này là thang Tiểu sài hồ khứ Hoàng cầm, gia Phục linh mà thành. Trị Thiếu dương tam tiêu bất lợi, thủy tà nội đình, thấy tiểu tiện không lợi, tâm hạ quý động bất an, mạch huyền, rêu lưỡi thủy hoạt (ướt trơn), đồng thời có chủ chứng Thiếu dương bệnh. Vì vậy trong thang Tiểu sài hồ khứ Hoàng cầm khổ hàn để tránh thương dương, có thể gia Phục linh, Trạch tả để lợi tiểu; trừ khứ được thủy tà thì khỏi bệnh. Phương này nếu lại gia Bạch truật, cũng trị các chứng tiểu tiện không lợi, đại tiện tả, khát, tâm phiền…
Từ đó có thể thấy: với chứng “khát” có phân thành hai loại: “ít tân dịch” và “tân dịch tích tụ”, cần dựa vào tiểu tiện lợi hay không lợi, rêu lưỡi mỏng vàng hay rêu lưỡi thủy hoạt để phân biệt.
(6) Sài hãm hợp phương
Phương này là thang Tiểu sài hồ hợp thang Tiểu hãm hung, khứ Nhân sâm mà thành. Trị Thiếu dương bất hòa kiêm thấy ngực nóng tâm phiền, đại tiện không thông sảng, mạch sác mà hoạt… Lại có thể trị các chứng đau ngực, đau tâm hạ do đàm khí hỏa nhiệt giao uất. Uống thuốc xong đại tiện thường kèm dịch nhầy vàng, là dấu hiệu bệnh được trừ khứ.
Dương ××, nam, 25 tuổi. Vì dũng cảm cứu hỏa, hít phải khí thuộc loại á nitrit mà trúng độc. Chứng thấy ngực đầy tức, khó thở, tâm hạ đau, miệng đắng, thường buồn nôn, đại tiện 5 ngày chưa đi. Mạch huyền hoạt, rêu lưỡi vàng trắng hơi dày. Nhập viện tiêm methylen blue và thở oxy cấp cứu.
Biện chứng: Can khí cơ không lợi, đàm khí giao uất ở thượng trung nhị tiêu nên ngực đầy và tâm hạ đau; Thiếu dương hỏa uất nên miệng đắng và hay nôn; đại tiện 5 ngày chưa thông thì lục phủ khí không thuận, vì vậy rêu lưỡi vàng nhờn không lui.
Trị pháp: sơ giải Can Đởm khí uất, kiêm lợi đàm hỏa kết.
Phương: Sài hồ 12g, Hoàng cầm 10g, Bán hạ 10g, Hoàng liên 10g, Qua lâu 50g, Chích cam thảo 6g, Đảng sâm 6g, Chỉ thực 6g.
Uống thuốc xong đại tiện thông, thải ra nhiều chất nhầy; ngực tâm liền thấy khoan khoái, miệng đắng giảm, nôn hết. Nhờ phối hợp Trung Tây y, cuối cùng chuyển nguy thành an.
(7) Sài hồ gia ngũ vị thang
Phương này là Tiểu sài hồ thang bỏ Nhân sâm, Đại táo, Sinh khương, gia Can khương, Ngũ vị tử mà thành. Trị Thiếu dương bất hòa kiêm hàn ẩm thúc (bó) phế phế khí không ấm áp, tân dịch không phân bố mà gây ho; rêu lưỡi trắng nhuận, mạch huyền mà hoãn. So với Hãm hợp phương, một bên trị đàm nhiệt, một bên trị hàn ẩm; đối chiếu thì trước sau tương ứng.
(8) Đại sài hồ thang
Phương này do Tiểu sài hồ thang bỏ Nhân sâm, Cam thảo, gia Đại hoàng, Chỉ thực, Thược dược mà thành. Trị Đởm Vị nhiệt thực, khí cơ bị cản trở, sơ tiết không thuận lợi; có các chứng trạng như đại tiện bí, vị quản đau cấp bách không chịu nổi, lại nôn không dứt, miệng đắng rất nặng, uất uất hơi phiền, hai sườn trướng đau, mạch huyền hữu lực, rêu lưỡi vàng nhờn… Vì vậy không dùng sâm thảo để bổ, mà gia đại hoàng, chỉ thực, thược dược để tả, nhằm lưỡng giải tà Thiếu dương và Dương minh. Lâm sàng dùng trị viêm túi mật cấp, sỏi mật, viêm tụy cấp, viêm ruột thừa cấp và các chứng “cấp phúc chứng” (các chứng bệnh cấp tính ở bụng) khác mà biện chứng thuộc Thiếu dương bất hòa, Dương minh nhiệt thực, thường có hiệu quả, đã được Trung Tây y công nhận.
Triệu ××, nữ, 13 tuổi. Chảy máu mũi không dứt, đại tiện bí, ngực sườn đầy, miệng đắng hay nôn, mạch huyền hoạt, rêu lưỡi vàng. Từng uống Long đởm tả Can thang không hiệu quả.
Biện chứng: Can Vị hỏa thịnh, bức huyết thượng hành.
Trị pháp: tả hỏa Can Vị, lương huyết chỉ nục (chảy máu mũi).
Xử phương: Sài hồ 10g, Hoàng cầm 6g, Đại hoàng 6g, Bạch thược 12g, Đan bì 12g, Chỉ thực 6g, Sinh mẫu lệ 12g, Huyền sâm 12g.
Uống 1 thang, đại tiện thông sảng, chảy máu mũi chưa tái phát; uống thêm 1 thang thì khỏi hoàn toàn.
Lý ××, nữ, 20 tuổi. Sau sinh 20 ngày, do cãi nhau với hàng xóm, tức giận mà phát bệnh. Chứng thấy tinh thần bất thường: hoặc chửi mắng đập đồ, hoặc trợn mắt nắm tay nhưng không thực sự hành động; miệng lẩm bẩm, lúc lại kêu hoặc hát; phiền táo mất ngủ, bảy ngày đêm không chợp mắt mà tinh thần không mệt. Tây y dùng thuốc kiểu “đông miên linh” không hiệu quả. Hai mắt người bệnh nhìn trân trân, bứt rứt không yên; người nhà nói đã vài ngày không đại tiện, sản dịch cũng ngừng. Mạch huyền hoạt hữu lực, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng nhờn.
Biện chứng: khí hỏa giao uất, kiêm ứ trệ; Can Vị đều thực.
Trị pháp: thư Can tả Vị, hoạt huyết hóa ứ.
Phương: Sài hồ 12g, Đại hoàng 10g, Chỉ xác 10g, Đan bì 12g, Đào nhân 12g, Xích thược 10g, Sơn chi 10g, Bồ hoàng 10g, Uất kim 10g, Hương phụ 10g, Bán hạ 10g, Trúc nhự 10g, Sinh khương 12g, Trần bì 10g.
Chỉ uống 1 thang đã tả ra rất nhiều phân đen dính nhờn. Đêm đó liền ngủ được, gọi không tỉnh, ngủ suốt gần một ngày. Thần chí hồi phục, sản dịch lại ra, từ đó khỏi hẳn.
(9) Sài hồ gia mang tiêu thang
Phương này lấy nửa liều của Tiểu sài hồ thang rồi gia Mang tiêu mà thành. Trị Thiếu dương bất hòa kiêm có Vị trung táo nhiệt: chiều tối phát triều nhiệt, hai ạnh sườn khó chịu, miệng đắng tâm phiền… Dùng phương này hòa giải Thiếu dương kiêm điều hòa táo nhiệt trong Vị; lực tả hạ tương đối hòa hoãn, không mạnh bằng Đại sài hồ thang. Cách dùng: sắc xong bỏ bã, hòa mang tiêu vào nước thuốc, đun sôi lăn tăn 1–2 lượt rồi nhắc xuống uống.
(10) Sài hồ quế chi can khương thang
Phương này do Tiểu sài hồ thang khứ Nhân sâm, Đại táo, Bán hạ, Sinh khương; gia Can khương, Quế chi, Mẫu lệ, Thiên hoa phấn mà thành. Trị “Đởm nhiệt Tỳ hàn”, khí hóa không lợi, tân dịch không tư nhuận gây bụng trướng, đại tiện phân lỏng, tiểu tiện không thuận lợi, khát nước tâm phiền; hoặc đau cạnh sườn lan ra sau lưng, ngón tay tê; mạch huyền mà hoãn, lưỡi nhạt rêu trắng… Vì vậy dùng phương này hòa giải Thiếu dương kiêm trị Tỳ hàn. So với Đại sài hồ thang (hòa giải Thiếu dương kiêm trị Vị thực) mà soi chiếu lẫn nhau, có thể thấy khi Thiếu dương bệnh ảnh hưởng Tỳ Vị thì cần phân biệt hàn nhiệt hư thực mà trị. Tôi lâm sàng dùng phương này trị viêm gan mạn, khi Can Đởm dư nhiệt chưa hết mà lại kèm Thái âm Tỳ hư hàn, chứng thấy hiếp đau, bụng trướng, tiện lỏng, tiêu chảy, miệng khô, thường có hiệu quả. Nếu đái tháo đường mà có Thiếu dương chứng, phương này cũng rất hợp.
Lưu ××, nam, 35 tuổi, vì viêm gan nằm y viện truyền nhiễm. Triệu chứng nổi bật là bụng trướng rất nặng, nhất là sau trưa càng nặng, ngồi nằm không yên, không cách gì giải, nên mời tôi hội chẩn. Mạch huyền hoãn mà nhuyễn, lưỡi nhạt non, rêu trắng trơn. Hỏi đại tiện: mỗi ngày 2–3 lần, loãng mỏng không thành khuôn; tiểu tiện lại ít, kèm khát.
Biện chứng: Can bệnh liên Tỳ, trung khí hư hàn nên đại tiện lỏng mà bụng lại trướng; bệnh này chỉ trị Can hay chỉ trị Tỳ đều không hiệu quả.
Trị pháp: sơ lợi Can Đởm, kiêm ôn Tỳ hàn.
Phương: Sài hồ 10g, Hoàng cầm 6g, Chích cam thảo 6g, Quế chi 6g, Can khương 6g, Hoa phấn 12g, Mẫu lệ 12g.
Uống liền 5 thang thì bụng trướng khỏi, đại tiện cũng về bình thường. Sau đó dùng thuốc điều Can hòa Vị để thiện hậu (tốt về sau).
(11) Sài hồ gia long cốt mẫu lệ thang
Phương này do Tiểu sài hồ thang khứ Cam thảo, gia Quế chi, Phục linh, Đại hoàng, Long cốt, Mẫu lệ, Diên đơn mà thành. Trị Thiếu dương bất hòa, khí hỏa giao uất; tâm thần bị nhiễu, thần không tiềm tàng: tức ngực mà sợ hãi, nói sảng, tâm phiền, tiểu tiện không lợi… Dùng phương để khai uất tiết nhiệt, trấn kinh an thần. Lâm sàng đối với trẻ em múa giật (vũ đạo), tâm thần phân liệt, điên cuồng ngu si… hễ thấy các chứng trên, dùng phương này thường có hiệu quả. Chỉ lưu ý Diên đơn có độc, liều phải nhỏ, không nên dùng lâu; khi sắc nên bọc vải buộc chặt cho vào, bảo đảm an toàn.
Một bé trai mắc chứng vũ đạo, chữa lâu không khỏi. Tay chân bứt rứt cử động, đêm ít ngủ mà phiền; mạch huyền hoạt, rêu lưỡi vàng nhờn.
Biện chứng: Can Đởm khí hỏa giao tiến, dương khí không tiềm.
Phương: Sài hồ gia long cốt mẫu lệ thang nguyên phương.
Uống 3 thang, phiền táo yên, ngủ được. Bèn khứ Diên đơn, gia Sinh thiết lạc, uống thêm 3 thang thì khỏi bệnh.
Phần trên khái quát chứng trị gia giảm của loại Sài hồ thang. Ngoài chủ phương Tiểu sài hồ thang, tuy còn nêu thêm hơn mười phương, cũng chỉ để người đọc có thể suy một biết ba, không thể kể hết. Trong đó cũng xen kinh nghiệm lâm sàng cá nhân; bốn phương phụ dưới đây phần nhiều là trải nghiệm riêng, nên không hoàn toàn trùng khớp với những gì ghi trong “Thương hàn luận”.
(12) Sài hồ giải độc thang
Phương này lấy Tiểu sài hồ thang khứ Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo; gia Nhân trần, Thổ phục linh, Phượng vĩ thảo, Thảo hà xa mà thành. Trị Can Đởm thấp nhiệt lâu ngày hóa độc, uất kết không giải, thấy vùng gan đau, ghét dầu mỡ thích đồ thanh đạm, hay nôn, mệt mỏi yếu sức, tiểu vàng ngắn, rêu lưỡi dày nhờn… Xét nghiệm chức năng gan thường thấy tăng men transaminase đơn thuần. Vì chứng là thấp nhiệt nội uất, nên mấu chốt biện chứng là rêu lưỡi nhờn và tiểu vàng ngắn. Đây là phương kinh nghiệm tôi đúc kết nhiều năm, có thể sơ Can lợi Đởm, thanh nhiệt giải độc, lợi niệu thấm thấp; dùng cho các chứng trên, hiệu quả khá rõ.
(13) Tam thạch giải độc thang
Phương này là Sài hồ giải độc thang gia thêm Thạch cao sống, Hoạt thạch, Hàn thủy thạch, Kim ngân hoa, Trúc diệp mà thành. Trị viêm gan khi thấp nhiệt tà nặng hơn Sài hồ giải độc thang chứng, đại để có thế ứ trệ bế tắc, uất kết không thông; ngoài các chứng hậu viêm gan đã nêu trên, người bệnh còn thấy sắc mặt đen sạm, hoặc mặt như bám dầu bẩn; tuy mắc bệnh gan nhưng cân nặng không những không giảm mà còn có phần tăng; lưng, vai và cánh tay thỉnh thoảng phát cảm giác ê mỏi, tê dại, trướng đau; rêu lưỡi dày nhớt, lại uống thuốc khó làm bong sạch; mạch huyền hoãn…… nên dùng phương thanh nhiệt giải độc, hạ men gan, trừ khứ rêu lưỡi.
Có một đoạn y thoại: năm 1977 tôi mở lớp dạy học ở một nơi, gặp một bệnh nhân viêm gan mạn rêu lưỡi dày nhờn, tiểu tiện màu vàng và lượng ít, bèn cho Sài hồ giải độc thang, tự tin sẽ hiệu quả. Ai ngờ uống 6 thang các chứng không giảm, rêu nhờn vẫn y nguyên. Chuyển gia thêm vị thơm hóa trọc vẫn không ích; đổi phương nhiều lần đều thất bại. Sau đọc “Ôn bệnh điều biện” thấy phép trị thử thấp có “Tam thạch thang” là pháp vi khổ, tân lương (cay mát) kiêm hương thơm: dùng tân lương để thanh nhiệt thấu tà, dùng thơm để bại độc hóa trọc; rất hợp với thấp nhiệt keo kết, nhiệt nặng hơn thấp; lại rất “khớp” với chứng này. Bèn hợp Sài hồ giải độc thang với Tam thạch thang mà hóa tài裁(điều chỉnh), bệnh nhân chỉ uống 3 thang rêu nhờn liền lui, các chứng cũng giảm. Đó là nguồn gốc của Tam thạch giải độc thang. Điều này cho thấy sách không thể không đọc, bệnh không thể không nhìn; đọc sách kết hợp chẩn bệnh mới có tiến bộ và phát triển.
(14) Thang Sài hồ nhân trần hao.
Phương này lấy thang Tiểu sài hồ khứ Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo; gia Nhân trần, Đại hoàng, Chi tử mà thành. Trị thấp nhiệt uất ở Can Đởm, mật dịch sơ tiết thất thường mà phát hoàng đản: toàn thân và mặt mắt đều vàng, sắc vàng sáng bóng; thân nhiệt tâm phiền, miệng đắng muốn nôn, ghét mùi tanh mỡ, mệt rã rời; hiếp đau ngực đầy, ăn uống không vào; tiểu vàng sáp, đại tiện bí; khát, bụng trướng; rêu lưỡi vàng nhờn; mạch huyền hoạt… tương đương “viêm gan cấp có vàng da” theo y học hiện đại. Phương có công thanh lợi thấp nhiệt Can Đởm; gặp chứng này thường vài thang là có hiệu quả. Nhưng dù vàng da đã lui, nếu tiểu tiện vẫn vàng đỏ, hoặc đại tiện xám trắng chưa chuyển vàng, thì không nên ngừng thuốc quá sớm; cần dùng đến khi khỏi hẳn để tránh bệnh tái phát kéo dài.
(15) Sài hồ miết giáp thang
Phương này lấy thang Tiểu sài hồ khứ Đại táo, gia Miết giáp, Mẫu lệ, Đan bì, Xích thược mà thành. Trị Thiếu dương bất hòa kiêm khí huyết ứ trệ gây hiếp hạ (hạ sườn) bĩ cứng, Can Tỳ to… Do đó khứ Đại táo (dễ ngưng trệ), gia các vị hoạt huyết hóa ứ, nhuyễn kiên tiêu bĩ. Với người kèm sốt âm ỉ không lui, trong phương khứ Nhân sâm, Sinh khương, Bán hạ cũng thường có hiệu quả.
Vương ××, nam, 32 tuổi. Viêm gan mạn, chứng thấy Can Tỳ to, tâm phiền khát, đêm không ngủ, bụng trướng và đại tiện khô. Mạch huyền tế sác, lưỡi đỏ sẫm không rêu.
Biện chứng: âm hư dương cang, huyết mạch ứ trệ nên khát, phiền muộn và ngủ kém; mạch huyền tế sác, lưỡi đỏ sẫm cũng là biểu hiện của âm hư.
Xử phương: Sài hồ 6g, Miết giáp 15g, Mẫu lệ 15g, Đan bì 10g, Xích thược 10g, Hoa phấn 10g, Mạch đông 10g, Sinh địa 10g, Hồng hoa 6g, Thiến thảo 6g.
Dùng phương này gia giảm tiến thoái, uống khoảng hơn 60 thang, bệnh tình dần tốt lên, cuối cùng khỏi.
(16) Sài bạch thang
Phương này lấy Tiểu sài hồ thang khứ Bán hạ, Sinh khương; gia Thạch cao sống, Tri mẫu, Canh mễ mà thành. Trị Thiếu dương bất hòa kiêm Dương minh nhiệt thịnh: đại nhiệt, đại phiền, đại khát, ra mồ hôi mà đại tiện không bí; rêu lưỡi vàng, miệng khô… Với “tam dương hợp bệnh” mà phiền nhiệt, và rất khát thì đây là phương thang ưu tiên chọn trước.
Tần ××, nam, 30 tuổi, vì sốt cao đến khám. Nhiệt độ luôn 39,6°C–40°C. Tây y kiểm tra: tim phổi bình thường, không sờ thấy gan lách, phản ứng Widal âm tính, không tìm thấy ký sinh trùng sốt rét; dùng nhiều loại kháng sinh và thuốc hạ sốt đều vô hiệu, chuyển sang Trung y.
Tôi bắt mạch huyền tế sác; hỏi bệnh thì nói đau đầu, toàn thân đau mỏi nặng nề, xương khớp phiền đau, kèm rét run, miệng khô khát, sốt có mồ hôi. Xem lưỡi: rêu trắng vàng dày nhờn, họng đỏ sưng.
Tôi hỏi đồng nghiệp họ Hồ: đây là bệnh gì? Đáp: thấp ôn. Nên dùng phép nào? Đáp: hoắc, bội hóa trọc; hoạt thạch thanh nhiệt; hạnh, ý lợi thấp thì sao? Tôi nói: đúng như anh nói, nhưng thấp không chỉ ở vệ, mà đã vào khí phận, có xu thế hóa nhiệt; đã lan khắp tam tiêu, có dáng “tam dương hợp bệnh”. Trị nên dùng Sài bạch thang phối hợp hóa thấp là hợp; nếu dùng thuốc thơm táo, sợ lại trợ nhiệt.
Phương: Sài hồ 12g, Hoàng cầm 10g, Tri mẫu 10g, Thạch cao sống 30g, Bản lam căn 12g, Thương truật 6g, Thảo quả 6g.
Sắc 1 thang, chia 2 lần uống; uống xong liền lui sốt, mồ hôi ngừng, từ đó khỏi hẳn.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch